Thứ Tư, 7 tháng 2, 2018

2018 Truyền Thông với Sức Khỏe







Wednesday, 01 February 2012 12:32
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức. Arlington-Texas.       www.bsnguyenyduc.com
Trong thế kỷ vừa qua, sự tiến bộ của y khoa học đã vượt quá sức tưởng tượng.
Những khám phá mới về cấu tạo cơ thể đã giúp hiểu rõ hơn về sự mầu nhiệm của tạo hóa khi tạo ra con người với muôn ngàn chức năng thần sầu, ngoạn mục.
Thêm vào đó là rất nhiều phát minh đã làm sáng tỏ về căn nguyên, diễn tiến, cách chẩn đoán cũng như điều trị các loại bệnh.
Tin tức về y khoa trở nên phong phú hơn nhưng cũng phức tạp, khó hiểu với các từ ngữ mới về bệnh tật, các danh từ kỹ thuật về phương thức chẩn đoán khám chữa bệnh cũng như danh tính các tác nhân gây bệnh. Nguồn cung cấp tin tức dữ kiện y khoa học cũng nhiều và dưới các hình thức khác nhau, đặc biệt là kết quả các nghiên cứu đã hoàn tất mỹ mãn cũng như kết quả sơ khởi, cần nhiều nghiên cứu khác để được coi là chung kết.
Trước các kiến thức mới này, một người có sức học trung bình thu lượm được cách đây trên dưới nửa thế kỷ đôi khi cảm thấy mình như lạc lõng không biết phải dùng những tin tức nào để duy trì sức khỏe. Đặc biệt là đối với những người tuổi cao, nhóm dân thiểu số, những người có căn bản giáo dục giới hạn, lợi tức thấp hoặc đang ở trong tình trạng sức khỏe suy kém.
Thống kê cho hay có tới 12% dân chúng thiếu hiểu biết về các vấn đề sức khỏe. Họ sẽ rơi vào các hoàn cảnh như:
-Thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết không đúng về cấu tạo cơ thể, diễn tiến và nguyên nhân gây ra bệnh
-Không biết tự chăm sóc cũng như phòng tránh bệnh tật.
- Thường có sức khỏe kém vì bỏ qua các phương thức phòng tránh bệnh mà khoa học đã cống hiến. Chẳng hạn, họ sẽ không làm mammogram để tìm kiếm ung thư nhũ hoa, không làm pap smear để sớm khám phá ung thư cổ tử cung, không chịu chích ngừa cúm…
-Có nhiều bệnh kinh niên và thường hay than phiền đau chỗ này bệnh chỗ kia
-Không chữa trị ổn định bệnh do đó dùng nhiều dịch vụ để chữa các biến chứng của bệnh và ít dùng dịch vụ để giảm thiểu các biến chứng.
-Nhập bệnh viện nhiều hơn
-Thường tới phòng cấp cứu để chữa các bệnh thông thường thay vì tới bác sĩ gia đình, đưa tới gia tăng chi phí y tế.
-Chỉ đi khám bệnh khi bệnh đã trở nên trầm trọng.
Nhìn thấy vấn đề, chính quyền và các tổ chức y tế xã hội công tư đã cố gắng cùng nhau:
-Nâng cao ý thức y tế, giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội
-Nâng cao ý thức y tế giúp mọi người sống lành mạnh hơn
-Nâng cao ý thức y tế cũng giảm thiểu nạn tử vong vì sanh non, tại nạn giao thông, lao động, ảnh hưởng của các chất có hại cho sức khỏe
-Nhờ tập trung vào sự phòng bệnh, nâng cao ý thức y tế giúp cắt giảm chi phí chăm sóc điều trị cho cá nhân cũng như gia đình và ngân sách quốc gia.
Cổ võ y tế dựa trên các kết quả nghiên cứu về sinh học, môi trường, tâm lý, y khoa học để duy trì sức khỏe, tránh bệnh tật, chết yểu…bằng cách thúc đẩy quần chúng tự mình thay đổi nếp sống, áp dụng điều tốt, loại bỏ điều xấu.
Cổ võ y tế cũng giúp quần chúng tạo ra các cơ hội để nâng cao kiến thức, tạo ra hành vi lành mạnh, bảo vệ sức khỏe.
Cổ võ y tế có thể sử dụng các phương tiện liên lạc để chuyển đạt các tin tức có tính cách xây dựng.
Một trong những phương tiện để tăng cường sự hiểu biết và cải thiện sức khỏe của quần chúng là truyền-thông-đại-chúng (Mass Communications hoặc Mass Media).
Truyền thông đại chúng có ít nhất 4 vai trò:
-Thu lượm tin tức về sức khỏe bệnh tật
-Lọc lựa phân tich các tin tức
-Phổ biến các tin tức chính xác có ích lợi trong việc bảo vệ sức khỏe tới dân chúng đồng thời cũng tạo điều kiện để mọi người có thể đối thoại với nhau dù ở cách xa.
-Cung cấp giải trí để đời sống quần chúng thoải mái, thư dãn hơn.
Nhờ truyền thông giáo dục, mọi người có thể nghe tận tai, đọc- nhìn tận mắt những gì mà nếu không có truyền thông đều không có được. Thế giới như thu hẹp lại nhờ truyền thông. Đây là kết quả của tiến bộ trong lãnh vực kỹ thuật và công kỹ nghệ điện tử.
Ngày xưa, việc truyền đạt lệnh lạc, ý tưởng trực tiếp giữa con người diễn ra trong phạm vi hết sức hạn hẹp. Thông tin trong xóm làng là các chú “Mõ” lốc cốc gõ sừng trâu, gáo dừa đi từng xóm để loan tin cần thiết. Rộng lớn hơn thì có truyền hịch, chạy ngựa báo tin. Ngày nay nhờ truyền thông đại chúng, sự trao đổi này quy mô rộng lớn hơn, từ địa phương nhỏ bé tới không gian bao la, từ một số giới hạn con người tới cả triệu triệu quần chúng. Một dịch bệnh nguy hiểm ở vùng sa mạc Phi châu chỉ cần vài phút là quần chúng khắp địa cầu biết tới. Một phương thức trị bệnh mới lạ cũng mau chóng được thông báo tới các bác sĩ và bệnh nhân.
Truyền thông cũng mang lại nhiều thay đổi trong các giá trị sẵn có từ lâu và cũng thúc đẩy con người “hiện đại” hóa cuộc sống.
Các phương tiện truyền thông đại chúng gồm có:
1-TV truyền hình
Đây là phương tiện chuyển đạt tin tức rất hữu hiệu tới mọi người, không kế già trẻ, nam nữ.
Lợi điểm của truyền hình là gửi đi cả lời nói lẫn hình ảnh, khiến cho người coi lãnh hội dễ dàng và có ảnh hưởng lâu dài, vì quần chúng sẽ nhớ mãi.
Tuy nhiên, bên cạnh những tin tức tài liệu hữu ích thì TV đôi khi cũng có những màn bạo lực, dâm ô, quảng cáo quá mức, gây ảnh hưởng xấu cho sức khỏe.
2-Radio
Rất phổ biến, tới được nhiều thính giả với đầy đủ chi tiết và chi phí cũng ít hơn là với TV. Các vị cao niên đều rất thích nghe các chương trình của radio, từ thời sự thế giới tới cách bảo vệ sức khỏe, phân ưu, chia vui…
3-Báo chí
Theo thống kê, có tới 70% dân chúng thu lượm kiến thức về sức khỏe qua nhật báo. Lợi điểm của báo chí là độc giả có đầy đủ các loại tin tức, đọc lúc nào cũng được chứ không như TV, radio: mất dịp coi nghe một chương trình là mất luôn, không coi nghe lại được.
4-Tạp chí
Với tạp chí, độc giả thường có tính cách chọn lựa, tài liệu tương đối có giá trị hơn và thường được cất giữ để dành hoặc trao đổi với bạn bè.
5-Internet
Đây là phương tiện truyền thông rất phổ biến hiện nay, ai cũng có thể sử dụng để thu nhận và truyền đạt tin tức. Người sử dụng có thể dùng bất cứ lúc nào, gửi đi bất cứ tin tức gì. Tuy nhiên, các tin tức nhiều khi không được kiểm chứng tính cách xác thực, gây hoang mang, ngộ nhận cũng như làm phiền lòng người nhận.
6-Các trang web, blogger với các bài viết y khoa học đầy đủ chi tiết có tính cách xây dựng, giáo dục.
Đó là chưa kể tới các thông tin qua tờ bướm tờ rơi, bảng quảng cáo, bích chương, bích báo, bản tin luân lưu nội bộ cũng như âm nhạc, hình ảnh, nét vẽ minh thị…
Truyền thông đại chúng cũng được các nhà chuyên môn y tế xã hội sử dụng rất nhiều để cải thiện sức khỏe quần chúng. Nhờ truyền thông mà các phương thức phòng ngừa bệnh, các hiểu biết về nguyên nhân gây bệnh, diễn tiến bệnh cũng như các phương thức điều trị căn bản được phổ biến.
Các nhà chuyên môn có thể dùng truyền thông để gửi tới dân chúng các tin tức y học liên quan tới việc bảo vệ sức khỏe, phòng tránh bệnh tật. Họ cũng có thể dùng truyền thông để mở ra các cuộc thảo luận với dân chúng về y khoa học hoặc góp ý kiến, giải đáp cho dân chúng về các thắc mắc bệnh tật thông thường.
Truyền thông có một số lợi điểm như:
-Truyền thông dễ dàng lôi cuốn sự lưu ý của quần chúng đối với các vấn đề sức khỏe một cách mau chóng
-Truyền thông có thể đưa ra các ý kiến về sức khỏe hết sức hữu hiệu.
-Truyền thông có thể kích thích quần chúng, tạo ra những đáp ứng tình cảm để người nghe-coi thay đổi nếp sống ngõ hầu có một sức khỏe tốt.
-Truyền thông có thể tác động lên dư luận, tạo ra các cơ hội để tranh luận cách thức duy trì sức khỏe, phòng ngừa bệnh tật qua phượng tiện liên lạc.
-Truyền thông có thể hợp tác với các nhà chuyên môn để tổ chức các buổi gặp gỡ giữa quần chúng với nhau hoặc giữa các nhà chuyên môn với quần chúng để trao đổi kiến thức bảo vệ sức khỏe.
Ngoài ra, truyền thông cũng có:
-Tính cách giáo dục, chia sẻ kiến thức, cổ võ những hành vi có lợi cho công ích
-Giúp cải thiện sự gắn bó các quan hệ công cộng, giúp các tổ chức liên quan tới bảo vệ sức khỏe cùng sát cánh làm việc.
-Góp phần tranh đấu, cổ võ, truyền thông tiếp tay với các nhà lãnh đạo đưa ra các chính sách y tế, dung hòa các tranh luận và tìm ra các hỗ trợ ý kiến có tính cách quyết định đặc biệt.
Tuy vậy, truyền thông cũng có một số bất lợi như:
-Truyền thông gửi ra thông tin nhưng ít khi tiếp nhận được phản ứng của quần chúng.
-Khó mà ước lượng coi xem tin tức đưa ra có đáp ứng nhu cầu dân chúng, có đúng thời điểm và không biết phản ứng của dân chúng ra sao.
-Dân chúng có thề không coi, không đọc hoặc tắt tv, radio giữa chừng vì bất đồng ý kiến.
-Do ảnh hưởng của kinh tế tự do cạnh tranh “khuyến thị”, truyền thông cũng lệ thuộc vào các “thông-tin-thương-mại” để trang trải chi phí điều hành, cơ sở, nhân viên, cho nên nhiều khi phổ biến những dữ kiện có tính cách chủ quan, thỏa mãn lợi nhuận cho giới sản xuất, cung cấp dịch vụ, hàng hóa. Nhưng, “đời là thế”, khán thính giả cũng “sính sái”, thông cảm. Vì “có bột mới gột nên hồ”. Không tiền thì lấy đâu ra đài ra sóng, không cả văn nghệ văn gừng giải trí chứ nói chi tới tuyên truyền cổ võ sức khỏe miễn phí.
-Đôi khi vì tính cách thời sự nóng hổi, “giật gân”, truyền thông cũng loan tải các tin tức chưa được chứng minh tính cách xác thực hoặc chưa có sự đồng thuận của các nhà chuyên môn, gây hoang mang cho người nhận.
Truyền Thông giữ một vai trò quan trọng trong việc chăm sóc sức khỏe của quần chúng. Đó là điều quan tâm hàng đầu của nhân loại. Bản hiến chương của Tổ Chức Y Tế Liên Hiệp Quốc, WHO, đã công bố “ sức khỏe là một quyền căn bản của con người “
Đối với Phật giáo, sức khỏe được xem là món quà lớn nhất của đời người. Một trạng thái an lạc và khỏe mạnh của thân và tâm là tối cần thiết trong việc tập trung tư tưởng để tu tập.
Mặc dù có vài khuyết điểm có thể điều chỉnh và tránh được, truyền thông đại chúng vẫn có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe quần chúng.Điều tiên quyết là các dữ kiện đưa ra phải rõ ràng, chính xác, có tính cách thuyết phục và có thể giúp người nhận áp dụng được.
Như Đức Giáo Hoàng John Paul II từng nhắc nhở:
“Sự phát triển tích cực của truyền thông để phục vụ chính nghĩa chung là trách nhiệm của mỗi người. Vì sự liên quan chặt chẽ giữa truyền thông với kinh tế, chính trị, văn hóa, cần có một hệ thống điều hành có khả năng bảo vệ quyền hạn và nhân cách của con người, bảo vệ tính ưu việt của gia đình như một đơn vị căn bản của xã hội và sự gắn bó đích thực giữa người với người”.



2018 Tobacoo



This is the VOA Special English Health Report.
Tobacco companies are fighting efforts in the United States and Australia to make their products less appealing.
In Washington, a federal judge last week blocked the Food and Drug Administration from requiring new warning labels on cigarette packs. Judge Richard Leon ruled in a case brought by five tobacco companies.
The judge temporarily stopped a new federal rule to require large new warnings starting next September. These include color images such as a dead body or diseased lungs.
Simple text warnings now appear.
Congress called for color images showing the dangers of smoking, similar to what Canada does. But the tobacco companies say the new requirements violate their free speech rights guaranteed by the Constitution.
Judge Leon said the FDA could not require the new labels before a lawsuit against the government is decided. Some experts say the process could take years. The judge said he believes the cigarette makers are highly likely to win their case.
He says the images are designed to appeal to emotion, rejecting government arguments that they are purely factual. He accused the government of trying to use the labels to promote an "obvious anti-smoking agenda!"
The head of an anti-smoking group, the Campaign for Tobacco-Free Kids, called the decision "wrong on the science and wrong on the law."
About one-fifth of American adults smoke. The World Health Organization says tobacco kills nearly six million people worldwide each year. More than six hundred thousand of them are non-smokers who breathe other people's tobacco smoke.
In Australia, tobacco companies want to stop what would be the world's most restrictive laws on cigarette advertising. Cigarettes could be sold only in plain olive-green packages. Only the brand name and health warnings could appear.
The Senate passed the bill last week and sent it back to the lower house to approve minor amendments. The law is to go into effect in December of next year.
Tobacco companies say the legislation violates the Australian constitution. They say it would unjustly reduce the value of their brand names and trademarks. Health Minister Nicola Roxon says the government is ready for a legal fight.
NICOLA ROXON: "Every time a smoker -- twenty or thirty times a day -- takes a cigarette pack out of their pocket, we want to make sure that all that it's showing is the harm that can be caused from tobacco. This law will be a big win for families who have lost a loved one to tobacco-related illness.


Mỹ + AUSTRALIA-thuốc lá


Các công ty thuốc lá đang chiến đấu nỗ lực ở Hoa Kỳ và Úc để làm cho sản phẩm của họ ít hấp dẫn.
Tại Washington, một thẩm phán liên bang hồi tuần trước bị chặn Cục Quản lý Thuốc và Thực phẩm phải có nhãn cảnh báo trên vỏ bao thuốc lá. Thẩm phán Richard Leon cai trị trong một vụ án đưa ra bởi năm công ty thuốc lá.

Thẩm phán tạm thời dừng lại một quy luật mới của liên bang để yêu cầu cảnh báo mới nhất tới tháng chín. Chúng bao gồm các hình ảnh màu sắc như một cơ thể chết hoặc bị bệnh phổi.
Cảnh báo văn bản đơn giản bây giờ xuất hiện.
Đại hội được gọi là cho hình ảnh màu sắc cho thấy sự nguy hiểm của hút thuốc lá, tương tự như những gì Canada không. Tuy nhiên, các công ty thuốc lá nói rằng những yêu cầu mới vi phạm quyền tự do ngôn luận của họ được bảo đảm bởi Hiến pháp.
Thẩm phán Leon nói rằng FDA không có thể yêu cầu các nhãn mới trước khi một vụ kiện chống lại chính phủ quyết định. Một số chuyên gia cho rằng quá trình có thể mất nhiều năm. Thẩm phán cho biết ông tin rằng các nhà sản xuất thuốc lá được đánh giá cao khả năng thắng kiện của họ.
Ông nói rằng những hình ảnh được thiết kế để hấp dẫn đối với cảm xúc, bác bỏ lập luận của chính phủ rằng họ là hoàn toàn thực tế. Ông cáo buộc chính phủ cố gắng sử dụng các nhãn để thúc đẩy một "rõ ràng chương trình nghị sự chống hút thuốc lá!"
Người đứng đầu của một nhóm chống hút thuốc lá, các chiến dịch do thuốc lá miễn phí cho trẻ em, được gọi là quyết định "sai lầm về khoa học và sai về quy định của pháp luật".
Khoảng một phần năm người Mỹ trưởng thành hút thuốc lá. Tổ chức Y tế Thế giới cho biết thuốc lá giết chết gần 6.000.000 người trên toàn thế giới mỗi năm.Hơn 600.000 người trong số họ là người không hút thuốc hít thở khói thuốc lá của người khác.
Ở Úc, các công ty thuốc lá muốn dừng lại những gì sẽ được pháp luật trên thế giới hạn chế nhất về quảng cáo thuốc lá. Thuốc lá có thể chỉ được bán ở đồng bằng gói màu xanh lá cây ô-liu. Chỉ có những tên thương hiệu và các cảnh báo sức khỏe có thể xuất hiện.
Thượng viện đã thông qua dự luật vào tuần trước và gửi nó trở lại ngôi nhà thấp hơn để phê duyệt sửa đổi nhỏ. Pháp luật là để đi vào hiệu lực vào tháng Mười Hai năm sau.
Các công ty thuốc lá nói rằng luật này vi phạm hiến pháp Úc. Họ nói một cách không công bằng sẽ làm giảm giá trị của thương hiệu và nhãn hiệu hàng hoá của họ. Bộ trưởng Y tế Nicola Roxon cho biết chính phủ đã sẵn sàng cho một cuộc chiến pháp lý.
Nicola Roxon: "Mỗi lần một người hút thuốc - hai mươi hoặc ba mươi lần một ngày - có một gói thuốc lá ra khỏi túi của họ, chúng tôi muốn đảm bảo rằng tất cả là nó hiển thị là những thiệt hại có thể được gây ra từ thuốc lá Luật này. là một chiến thắng lớn cho các gia đình người đã mất đi một người thân bệnh liên quan đến thuốc lá.

2018 Trứng dinh dưỡng

Ăn trứng tốt hay hại ?
Không có món ăn nào quen thuộc với mọi gia đình hơn quả trứng. Thế nhưng có rất nhiều điều bạn chưa biết về quả trứng!
TRỨNG BỔ DƯỠNG NHƯ THẾ NÀO?Khi ta ăn một miếng thịt luộc hay rô ti, thì đó chỉ là một phần thịt heo, bò… với vài chục dưỡng chất mà chủ yếu là các acid amin… Còn lại các chất khoáng cần cho xương cốt thì ở phần xương; các sinh tố ở gan, lòng; gelatin cần cho da thì ở da; keratin cần cho lông tóc lại ở sừng bò… mà ta không thể ăn được. Ngược lại, khi ta ăn một quả trứng thì ta hưởng được trọn vẹn hơn 60 dưỡng chất trong quả trứng, mà nếu để ấp sau 21 ngày sẽ nở ra một cá thể gà hay vịt con có đủ da, thịt, xương, lông, cánh… không dư không thiếu một chất nào. Tính bổ dưỡng toàn phần này được chứng minh bằng giá trị sinh học của trứng, nghĩa là lấy lượng nitrogen của protein tăng cân (sinh cơ) chia cho lượng nitrogen của protein trứng được ăn vào sẽ có tỉ số bằng 1, tức là ăn bao nhiêu protein của trứng vào thì sẽ biến bấy nhiêu thành protein cơ thể.

Lấy tỉ số này nhân với 100 ta sẽ có giá trị sinh học của trứng là 100, trong khi của các thực phẩm khác luôn thấp hơn. Protein của trứng hoàn hảo như vậy nên được gọi là protein lý tưởng. Lưu ý trứng ở đây là trứng gà, vịt, cút… ăn cả lòng trắng và lòng đỏ thì mới đạt hiệu quả toàn vẹn được.  Để thấy rõ tính chất bổ dưỡng của trứng, người ta phân tích thành phần acid amin trong protein trứng. Chất lượng này được dựa trên sự dồi dào và cân bằng của các acid amin thiết yếu trong protein trứng. Bảng 1 cho ta thấy hàm lượng protein cũng như các acid amin thiết yếu trong trứng rất giàu và có tỉ lệ cân bằng như trong cơ thể con người. Trứng rất giàu sinh tố và khoáng chất mà trên 70% chúng nằm ở lòng đỏ (2 quả trứng gà hay vịt hoặc 10 trứng chim cút đủ cung cấp trên 50% nhu cầu các sinh tố và khoáng chất thiết yếu cho cơ thể người lớn trong ngày).

TRỨNG GÀ, TRỨNG VỊT, TRỨNG CÚT, TRỨNG LỘN, TRỨNG MUỐI, TRỨNG VỮA… TRỨNG NÀO BỔ HƠN?Theo nguyên tắc chung: trứng vịt bổ hơn trứng gà vì nó vừa to vừa cùng giá tiền với trứng gà. Hơn nữa vịt thường được thả rong hay lùa đi ăn ngoài đồng nên trứng vịt có nhiều chất bổ dưỡng hơn gà công nghiệp, tuy về mặt cảm quan, trứng gà sạch sẽ hơn và ít tanh hơn trứng vịt (gà đẻ trong chuồng khô sạch; vịt đẻ dưới đất bẩn). Ngoài ra, Vịt thuộc nhóm chim chân màng (vịt, ngỗng, le le, thiên nga) mỡ của nó chứa nhiều acid béo omega-3 có lợi cho tim mạch hơn mỡ gà. Trứng chim cút bổ nhất vì  50% là lòng đỏ, trong khi trứng gà, vịt chỉ có 35-40% là lòng đỏ.
- Trứng càng tươi càng tốt (ở các nước người ta thường ghi ngày đẻ trên mỗi quả trứng), trứng để quá một tuần thì kém chất lượng hơn. Ở Pháp, trứng đã ấp sau 7-10 ngày loại ra chỉ được dùng làm thức ăn gia súc nói gì đến trứng vữa, trứng ung!
- Trứng lộn thì bổ hơn vì đã biến thành phôi dễ tiêu hóa hấp thu, nhưng đôi khi nó dễ gây dị ứng đối với trẻ con dưới 6 tuổi hơn trứng tươi.
- Trứng muối thì ăn được nhưng không bổ dưỡng mấy vì protein đã bị biến chất, sinh tố  bị hủy gần hết và mặn không dùng được nhiều.
- Trứng vữa, trứng ung thì không nên dùng vì protein đã bị biến chất, hơi có độc vì lưu huỳnh trong trứng đã biến thành sulfur hidrogen (mùi trứng thối). Tuy vậy dân nhậu lại thích trứng ung, trứng vữa mà mới đây người ta chứng minh rằng, một H2S hữu cơ lại có tính làm tăng NO giống như Viagra!
- Trứng bách thảo cũng bị biến chất, sinh tố bị giảm nhiều, dùng để ăn chơi lấy hương vị….

ĂN TRỨNG CÓ BỊ TĂNG CHOLESTEROL KHÔNG ?Bảng cholesterol trong 100g thực phẩm:Nghêu: 454 mgCật heo: 410 mgGan heo: 368 mgMực ống: 348 mgCật bò: 340 mgGan bò: 323 mgOc heo: 310 mgTrứng: 266 mgMực tươi: 265 mgBơ, mỡ bò: 260 mgTôm hùm: 200 mgThịt bê: 173 mgLạp xưởng: 150 mgKem (cream)140 mgThịt bò nạc: 125 mgPhô mai: 100 mgLòng trắng trứng: 0Dầu thực vật: 0Rau quả tươi: 0
Theo bảng 3, trứng không phải là thực phẩm giàu cholesterol lắm. Tuy cholesterol chỉ tập trung ở lòng đỏ trứng, nhưng đây là "cholesterol tốt". Có 2 nhóm cholesterol chính:
-HDL-C(High-Density Lipoprotein cholesterol), cholesterol tỉ trọng cao, còn gọi là cholesterol tốt  và VHDL-C (Cholesterol tỉ trọng rất cao),
-LDL-C (Low-Density Lipoprotein cholesterol) còn gọi cholesterol tỉ trọng thấp, cholesterol xấu và VLDL-C...

Cholesterol trong lòng đỏ trứng nhờ kết nối với glycerol, cholin, phosphor  và các acid béo nhiều nối đôi trong phức hợp gọi là lecithin. Lecithin có đặc tính nhũ tương hóa rất mạnh giúp chất béo hòa tan được trong nước (máu) nên cholesterol hòa vào máu đi đến những chỗ tế bào bị hư hại để sửa chữa lại, nhờ vậy mà cơ thể không bị tổn thương; lượng cholesterol dư thừa lại được dưa về gan sử dụng tạo ra muối mật và các nội tiết tố điều hành cơ thể. Cholesterol như vậy là rất cần thiết cho cơ thể, kể cả cho việc sinh sản tế bào. Đối với trẻ con đang lớn và người lớn đang đang phát triển khối cơ như các vận động viên, nhất là vận động viên thể dục thể hình,  cần tăng nhanh tế bào cơ thì không thể thiếu cholesterol được. Người bình thường và ngay cả người già yếu, cao tuổi vẫn cần cholesterol hàng ngày cho việc sửa chữa tế bào hư hại. Thật ra cholesterol do thực phẩm ăn vào (gọi là cholesterol ngoại sinh) chiếm tỉ lệ không nhiều.

Thường người bị cholesterol máu cao là do cholesterol nội sinh, do gan tạo ra từ thực phẩm giàu acid béo no (không nối đôi, trong mỡ bò, bơ, dầu dừa, dầu cọ, dầu hidrogen hóa như margarin, shortening) và do ta ăn uống không đúng cách (thiếu rau quả tươi, thiếu cholin và các chất hướng mỡ khác), thiếu vận động… Nói chung cholesterol từ trứng không những vô hại mà còn tốt cho cơ thể vì lecithin làm tăng HDL-C và cholesterol nằm trong công thức lecithin được gọi là chất hướng mỡ (lipotropic) giúp cơ thể biến dưỡng chất béo tốt hơn, thuận lợi cho sức khỏe. (Chính tác giả, trong 40 năm nay gần như ngày nào cũng ăn 1 quả trứng luộc (trung bình tuần 5 trứng) mà khi thử máu (lipidogramme) mỗi năm 1 lần, lúc nào lipid máu, cholesterol máu cũng ở trị số normal)

MỖI NGÀY ĂN ĐƯỢC BAO NHIÊU TRỨNG ?Theo thống kê hàng năm (World Almanac), trung bình mỗi người Mỹ tiêu thụ 300 quả trứng/năm, người Pháp 280 trứng. Nếu muốn có đủ lecithin thì mỗi ngày phải ăn 3 trứng mới đủ cho nhu cầu cơ thể. Nhưng vì ngũ cốc, nhất là đậu mè cũng có lecithin nên mỗi ngày ta nên ăn 1 trứng là vừa. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên dùng từ 5 trứng mỗi tuần. Đối với các vận động viên có thể dùng gấp đôi hay hơn số lượng trên (2-3 trứng mỗi ngày).

NÊN ĂN TRỨNG SỐNG HAY TRỨNG CHÍN? LÒNG TRẮNG HAY LÒNG ĐỎ? Cơ thể ta không thể tiêu hóa được lòng trắng trứng sống, ngoài ra nó còn chứa chất avidin, ăn sống vào sẽ kết hợp với biotin làm hại sinh tố này. Ngoài ra, lòng trắng trứng sống còn có thể bị nhiễm khuẩn. Do đó ta nên luộc trứng để dùng là tốt nhất. Trứng luộc chín (cả lòng trắng lẫn dòng đỏ) hoặc trứng la cót (luộc cho lòng trắng trứng vừa chín mà lòng đỏ còn mềm) đều bổ dưỡng giống nhau và là cách ăn trứng tốt nhất. Trứng tráng (omelet), trứng ốp la (tráng lòng trắng chín mà lòng đỏ còn mềm) cũng được nhưng hai cách này đều có thêm nhiều dầu mỡ không tốt bằng luộc. Không nên ăn trứng sống, hoặc nếu có thì chỉ dùng lòng đỏ trong các ly "sô đa hột gà sữa" hoặc "sô đa hột gà cam đường" nhưng phải dùng trứng thật tươi và lấy lòng đỏ cẩn thận tránh nhiễm trùng từ vỏ trứng. Từ tháng 8 đến tháng 2 dương lịch năm sau không nên ăn trứng sống kiểu trên để ngừa cúm gà.

SỮA GÀ MÁI CÓ TỐT KHÔNG?"Sữa gà mái": đập 1-2 quả trứng gà thật tươi vào một ly lớn, đánh tan đều với ít đường hay mật ong rồi chế nước đang sôi vào (nước phải thật sôi và tối thiểu 200 ml mới làm chín trứng) khuấy đều, ta sẽ có 1 ly trắng đục như sữa nên gọi là sữa gà mái, người lớn tuổi dùng cho bữa điểm tâm, rất bổ dương. Người sợ lên cân cũng có thể điểm tâm bằng sữa gà mái. Mỗi tuần có thể dùng vài ba ly sữa gà mái này nghĩa là không quá 5 trứng/tuần. 

TRỨNG NGÂM GIẤM TRỊ ĐƯỢC BỆNH GÌ?Có người chế ra kiểu ăn lạ: trứng gà mới đẻ, rửa sạch, rồi dùng gòn thấm cồn 70 lau sạch, để nguyên vỏ, sắp đầy  vào keo lọ rồi đổ giấm thật chua vào cho ngập trứng, để yên trong 10 ngày. Giấm (acid acetic) sẽ làm tan vỏ trứng, (biến carbonat calcium vỏ trứng thành acetat calcium tan trong nước), khuấy đều rồi để dành dùng dần, mỗi ngày tương ứng với vài ba muỗng canh (½ -1 trứng). Có thể thêm một ít mật ong khi dùng. Dùng trứng cách này có thể hưởng được hết các chất khoáng và vi chất dinh dưỡng khác trong vỏ trứng (xem bảng 6), bổ túc dưỡng chất mỗi ngày cũng tốt nhưng một số sinh tố sẽ bị giấm làm hư. Theo kinh nghiệm dân gian thì trứng gà ngâm giấm trị được nhiều bệnh, nhưng theo chúng tôi đây chỉ là thức ăn bổ sung hoặc được coi như thuốc bổ tổng quát mà thôi. Dìmg trứng gà ngâm giấm ở mức độ mỗi ngày vài muỗng canh cũng có cái tốt khác là nếu dùng trong bữa ăn thì giấm cũng giúp cho một số khoáng có hóa trị 2 thành dạng cation như Ca++, Zn++, Fe++ … dễ hấp thu hơn.

TẠI SAO NGƯỜI TA ĐỒN RẰNG CÁC VẬN ĐỘNG VIÊN THỂ DỤC THỂ HÌNH CHỈ ĂN TOÀN LÒNG TRẮNG TRỨNG VÀ BỎ HẾT LÒNG ĐỎ?Hầu hết chất bổ dưỡng đều nằm trong lòng đỏ trứng. Lòng trắng chỉ có chất đạm (albumin) và mặc dù chất đạm này không chứa cholesterol, không chứa chất béo, nhưng  nếu tách riêng lòng trắng ra thì chất đạm của nó không còn hoàn hảo nữa. Mặc dù các vận động viên thể hình Mỹ đều được các “chuyên gia” của họ khuyên nên dùng lòng trắng không thôi (chế độ tiết thực trước lúc thi đấu để giảm cân: Vận động viên Jay Cutler ăn 26 lòng trắng trứng mỗi ngày, Eddie Robinson 27-34 lòng trắng/ngày, Dennis Newman 21 lòng trắng/ngày, Laura Creavalle 6 lòng trắng/ngày…) nhưng đó là chế độ tiết thực của người Mỹ để giảm mỡ, tăng cơ. Người Mỹ vì đã ăn quá nhiều thịt cá, trứng, sữa, bơ, mỡ như thống kê nói trên nên họ mới dùng lòng trắng trứng như là cách để giảm chất béo và giảm cholesterol. Vã lại lòng trắng trứng là thứ rẻ tiền nhất lại đễ tìm khi đi thi đấu ở xứ khác (ở Mỹ người ta dùng lòng đỏ sấy khô làm lecithin để bán như dược phẩm hoặc thực phẩm bổ sung cho người già (để tăng trí nhớ), người cao huyết áp; còn lòng trắng đóng hộp bán riêng rất rẻ), dễ chế biến nhất nên họ dùng trong những ngày bận rội cho việc chuẩn bị thi đấu mà thôi (thường là 2 trứng nguyên + 6-10 lòng trắng cho một bữa điểm tâm với ít bánh mì và rau).

Trong hoàn cảnh nước ta, các VĐV thể hình đang thiếu dinh dưỡng, việc dùng trứng cả lòng đỏ là nguồn thực phẩm chẳng những bổ dưỡng mà còn rất cần thiết cho việc tăng khối cơ (2-4 trứng cả lòng trắng và lòng đỏ/ngày là rất tốt trong thời gian tập luyện thể hình. Lượng cholesterol trong lòng đỏ không nhiều mà lại còn cần thiết để phát triển tế bào cơ bắp. Vã lại, người thực hành thể dục thể thao tự nó làm cho cholesterol máu thấp dù họ có ăn nhiều cholesterol trong trứng. Thay vì chỉ dùng lòng trắng trứng, các vận động viên thể dục thể hình có thể dùng 2 quả trứng gà vịt hoặc 10 trứng cút nguyên và 300g cá mỗi ngày thì tốt hơn và kinh tế hơn.  

ĂN TRỨNG CÓ HẠI GAN KHÔNG?Ngày xưa, khi khoa học còn sơ khai, người ta thí nghiệm bằng cách lấy lòng trắng trứng tiêm vào da thỏ thì thấy da thỏ bị phù, nổi mẩn ngứa nên cho rằng trứng gây dị ứng. Và vì thời đó cho dị ứng là do yếu gan nên qui cho trứng là không tốt đối với gan. Gần đây, ở thập niên 1960 trở về trước, các hiểu biết về cholesterol chưa rõ ràng nên thấy lòng đỏ trứng chứa nhiều cholesterol thì cho là trứng không tốt. Thật ra từ đầu thập niên 80 đến nay người ta đã chứng minh cholesterol của trứng là cholesterol tốt và trứng chẳng những không hại gan mà còn có lợi cho gan nữa vì cholin bảo vệ gan. Thật vậy, với thành phần acid amin cân bằng và giá trị sinh học cao nhất trong các thực phẩm (bảng 1 và 2), thì trứng tốt cho gan. Protein trứng giàu methionin và lecithin là chất bảo vệ gan, giải độc gan mà Tây y dùng làm thuốc Methionin cho bệnh nhân đau gan. Cholin rất giàu trong lòng đỏ trứng là chất hướng mỡ giúp gan biến dưỡng chất béo dễ dàng hơn tránh tình trạng gan nhiễm mỡ (thuốc tây có viên Sulfarlem-choline là thuốc trợ gan nổi tiếng một thời)… Gan cũng biến cholin thành acetylcholin là chất dẫn truyền thần kinh quan trọng trong hoạt động của hệ thần kinh cũng như làm tăng trí nhớ của chúng ta. Ngoài ra các sinh tố trong lòng đỏ trứng cũng giúp gan làm việc tốt hơn. Khoa học ngày càng tiến bộ, giúp chúng ta rất nhiều điều, nhưng hiểu biết của mỗi người có giới hạn nhưng họ lại biến nó thành định kiến, truyền đi, truyền lại cho nên mới có sự hiểu lầm đáng tiếc nêu trên!

ĂN TRỨNG CÓ NÓNG KHÔNG? CÓ KHÓ TIÊU KHÔNG?Cảm giác nóng hay mát đối với một thức ăn còn rất mơ hồ. Nếu người nội trợ ít khi đi chợ, chỉ mua trứng về để dành rồi ngày nào cũng trứng, hết trứng luộc dằm nước mắm, đến trứng chiên, trứng tráng, trứng ốp la… thì trứng nóng thiệt nhưng nóng vì thiếu rau quả tươi, vì thực phẩm không đa dạng, nóng vì nhiều dầu mỡ chiên trứng chứ không phải vì trứng. Bản thân trứng đã có nhiều chất béo (trứng gà chứa 11% và trứng vịt 14% chất béo), nếu còn chiên rán, ốp la thì còn thêm nhiều dầu mỡ hơn nữa nên ăn vào có cảm giác no lâu chứ không phải nóng. Vì thức ăn có nhiều chất béo sẽ lưu lại ở dạ dày lâu hơn thức ăn không béo chứ không phải là khó tiêu. Ngoài ra, chất bổ nào cũng vậy, khả năng dung nhận của cơ thể mỗi người đều có giới hạn nhất định. Có người ăn một lúc 3-4 trứng không sao nhưng có người ăn 1 trứng đã thấy khó chịu, nhưng đôi khi cũng do thành kiến hay định kiến chứ chưa hẵn như vậy. Chỉ có đối với người nào có cơ địa dị ứng với trứng (ăn trứng vào thì bị ngứa ngáy, nổi mề đay mới cử trứng mà thôi. Một số trẻ con dưới 3 tuổi vì chức năng gan chưa hòan chỉnh, ăn trứng có thể dễ bị dị ứng, nhưng sau 5-6 tuổi thì ăn không bị gì nữa.

Tóm lại, trứng gà, vịt, cút là thực phẩm rất cân bằng dưỡng chất, cần thiết cho mọi lứa tuổi, mọi đối tượng, nhất là trẻ con, vận động viên và học sinh, sinh viên, người lao động trí óc và cả phụ nữ có thai, cho con bú  nữa, rất cần trứng. Nếu dùng thường xuyên thì mỗi ngày nên ăn 1 trứng và 5 ngày mỗi tuần là rất tốt. Phụ nữ mang thai nên ăn mỗi ngày 1 trứng (5 ngày/tuần) thì não bộ bào thai phát triển rất tốt, sau này bé sẽ thông minh hơn con các bà mẹ không ăn trứng.
THẾ NÀO LÀ TRỨNG TƯƠI ?Điều hiển nhiên là trứng càng tươi càng tốt về mặt dinh dưỡng. Trên thị trường thế giới, trứng gà, vịt được gói trong một tờ giấy xốp, trên đó có ghi “trứng tươi” (frais), “trứng thật tươi” (extra-frais), thậm chí còn ghi ngày gà đẻ trên trứng (pond le…) và được xác nhận của hiệp hội chăn nuôi nữa; trứng này thuộc loại tươi hơn hết. Cũng còn có sự phân biệt trứng gà thả rong, gà nuôi trong sân (và không ghi gì cả là gà nhốt chuồng)...Thật ra các nhà nghiên cứu cũng đã xác nhận rằng thành phần dưỡng chất trong trứng không những suy giảm theo thời gian tồn trữ, cách bảo quản mà còn thay đổi tùy theo giống gà, thức ăn mà gà đẻ đang ăn và tuổi của gà mái... Về mặt trứng tươi, có thể giữ được dưỡng chất nguyên vẹn hoặc gần nguyên vẹn trong nhiều tháng nếu vỏ trứng còn nguyên vẹn (chẳng những không bể nứt mà còn không được chùi rửa mất lớp phấn nhầy bảo vệ tự nhiên của nó) và được giữ mát ở 12 – 15­­­­oC kể từ lúc gà vừa đẻ ra.

Với hai điều kiện trên chỉ có những trại gà đại công nghiệp mới đáp ứng được. Ơ Pháp muốn được gọi là trứng ghi ngày có xác nhận (daté approuvé) phải có một hợp đồng ký giữa nhà chăn nuôi, người phân phối và hội người tiêu dùng, trong đó gà mái được nuôi với ít nhất là 65% ngũ cốc (chủ yếu là bắp để lòng đỏ trứng có màu đỏ cam), trứng được vô bao bì và chuyển tới tiệm buôn chậm nhất là 36 giờ kể từ lúc gà đẻ và bảo quản ở dưới 18oC. Ta biết rằng trứng gà mới đẻ luôn có một lớp màng bảo vệ để giữ cho từ 1.000 – 15.000 lổ nhỏ li ti quanh mỗi vỏ trứng được thông khí qua lại, đáp ứng sự hô hấp của trứng nhưng không cho vi trùng xâm nhập. Để đáp ứng điều này, lớp nhầy bên ngoài và bên trong trứng còn có chất kháng sinh tự nhiên (lysozym) nữa. Lúc trứng mới đẻ, buồng khí ở đầu to của trứng rất nhỏ, dưới 2 mm vuông, trứng rất tươi 4mm, trứng tươi 6mm và từ  9mm trở lên là trứng đã để lâu (tiêu chuẩn ở Pháp).

Trứng mới đẻ thì khi đập vỡ nhẹ ta tách lòng đỏ khỏi lòng trắng dễ dàng, và dây treo lòng đỏ ở hai đầu trứng rất xoắn. Khi để lâu, có sự thoát khí carbonic ra ngoài nên khiến lòng trắng trở nên kiềm (trứng mới pH = 7,4), có thể lên pH = 9, khiến lòng trắng bị nhão mềm hơn. Do đó ở Mỹ người ta dùng tiêu chuẩn này để đánh giá độ tươi của trứng. Đập vỡ trứng nhẹ nhàng và để khối trứng không vỏ trên mặt phẳng nằm ngang và đo chiều cao chỗ lòng trắng phía đầu lớn (chỗ mũi tên trong hình). Lòng trắng mềm còn do sự rút nước từ lòng đỏ và làm hư hủy màng ngoài của lòng đỏ khiến nó dính chặt vào lòng trắng hơn (khó tách ra). Gà mái già cũng cho trứng có chiều cao lòng trắng thấp. Thật ra giá trị của trứng ngày nay còn được các nhà chăn nuôi tiên tiến điều chỉnh sao cho có nhiều sinh tố A, D, E, K nữa. Trứng đã ấp sau 6 ngày sẽ được soi qua máy chiếu để loại trứng ung, trứng không có còi.

Ngày trước, những trứng ung sau 13 ngày ấp được chuyển qua làm bánh kẹo, kem hay sản phẩm có trứng, sữa. Nhưng nay các nước tiên tiến chỉ dùng trứng ung ấy làm thức ăn gia súc vì phát hiện có những chất độc có hại cho sức khỏe. Ơ Mỹ và Canada trứng ung bị cấm sử dụng làm thực phẩm cho người từ lâu vì người ta tìm thấy trong trứng ung có chất acid lactic (không độc) và acid succinic làm chuột chết với liều 8mg/kg, và acid beta hydroxybutyric. Do đó luật lệ ở Mỹ và Pháp sẽ xử phạt các sản phẩm có chứa quá 0,3mg acid beta hydroxybutyric/kg trứng. Để tránh sự thiệt hại kinh tế này, các nhà ấp trứng sử dụng loại máy soi để loại trứng không có còi ra vào ngày thứ 6 sau khi ấp trứng để acid beta hydroxybutyric chưa vượt tiêu chuẩn trên..

ĂN TRỨNG CÓ NGUY CƠ CAO BỊ LÂY CÚM GIA CẦM KHÔNG ?Thông thường khi gà vịt bị bệnh dịch thì chúng không đẻ được. Nhưng nếu siêu vi khuẩn cúm gia cầm từ những con khác gần đó có truyền sang trứng thì siêu vi cũng sẽ bị chết sau 12 giờ, vì ngoài vỏ trứng luôn có chất nhầy bảo vệ có tính diệt khuẩn. Mặt khác, nếu con gia cầm bị toi mà ráng đẻ được trứng sau cùng thì trứng này có thể bị nhiễm siêu vi. Thế nhưng số ít siêu vi ấy dù có ở bên trong quả trứng thì cũng sẽ nhanh chóng bị lòng trắng có tính kháng sinh hủy diệt và nếu không bị diệt thì không sinh sôi phát triển được vì tế bào trứng chưa hoạt động. Chúng ta biết rằng trứng gà vịt khi chưa ấp thì tế bào chưa hoạt động. Mà đa dố trứng gà đều không có trống, có nghĩa là nó là cái noản chứ không phải là tế bào. Siêu vi khuẩn là những tế bào chưa hoàn chỉnh, chúng không thể tự sinh sản được mà chúng chỉ thâm nhập vào tế bào sống và bắt tế bào ấy làm cái máy sinh sản giúp ra các thế hệ sau của siêu vi. Như vậy chỉ ở các trứng được ấp thì siêu vi nếu có bên trong trứng mới sinh sản được mà thôi . Thế nhưng người ta chỉ ăn trứng lộn sau khi được luộc chín thì siêu vi nếu có cũng không còn. Do đó cơ hội bị lây siêu vi cúm gia cầm qua việc dùng trứng là rất hi hữu.

2018 Muối ăn



Coi Chừng Muối
Nguyễn thượng Chánh, DVM

Muối là một chất rất cần thiết cho sự sống của con người. Hầu như trong tất cả mọi bữa cơm dù chay hay mặn, đều có sự hiện diện của muối trong thức ăn. Muối cũng xâm nhập cả vào lãnh vực văn chương bình dân truyền khẩu của văn hóa Việt Nam, như “cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư’’ (giáo dục con cái) hay “Miệng ăn mắm ăn muối, đừng có nói bậy bạ không nên’’ (có tính cách dị đoan, sợ đụng chạm đến thánh thần) hoặc bình dân hơn thì: “còn trẻ quá mà tóc đã điểm muối tiêu rồi!” (có người dám nói là tại vì xấu máu) và chót hết là “Ông chủ tao đã đi bán muối rồi’’ (tức là ổng đã đi tàu suốt về bên kia thế giới). Trong chuyện bếp núc thì có muối mè, muối tiêu, muối ớt, muối sả, hột vịt muối, cà muối, v.v…Còn có khát nước thì làm bậy một ly nước đá chanh muối cũng đã lắm.
Muối giúp cho món ăn bớt nhạt nhẽo, tăng khẩu vị và dễ bắt cơm hơn, nhưng trớ trêu thay ngày nay khoa học cho biết muối cũng là đầu mối của nhiều vấn đề sức khỏe…có thể làm chết người.
Muối và sức khỏe
Con người ta sống được là nhờ có muối, nói đúng ra là nhờ chất sodium trong muối ...
Sodium rất thiết yếu trong việc điều hòa và giúp thể dịch trong cơ thể được giữ ở một mức độ thích nghi. Sodium cũng còn dự phần trong các hoạt động biến dưỡng như giúp vào hoạt động dẫn truyền mệnh lệnh thần kinh, hấp thụ dưỡng chất của tế bào và co thắt của các cơ. Nhu cầu về muối thay đổi tùy theo tuổi tác, trọng lượng cơ thể, nếp sinh hoạt và cũng tùy theo sức khỏe của mỗi người. Ở người có sức khỏe bình thường, sự thặng dư sodium được thận loại bỏ ra ngoài theo nước tiểu. Ở một số người khác có tính nhạy cảm với muối, thì sự loại bỏ sodium như vừa kể không mấy dễ dàng nên tỉ lệ chất nầy không ngừng gia tăng lên mãi kéo theo hiện tượng giữ nước trong gian bào và trong máu.
Để thích nghi với sự gia tăng của một khối lượng máu quá lớn, tim phải làm việc nhiều hơn và mạnh hơn, đồng thời hệ thống mạch máu phải giãn nở thêm hơn. Áp lực lưu thông của máu trong huyết quản nếu vượt qua một giới hạn nào đó sẽ được xem là hiện tượng cao máu (hypertension). Khi đo huyết áp, ở người bình thường giới hạn tối đa không nên vượt qua là 140/90. Đối với những người đang bị bệnh tiểu đường thì giới hạn tối đa là 130/80.
Trong các trường hợp huyết áp động mạch có vẻ cao hơn bình thường thì bạn cần phải đi khám bác sĩ. Khoa học gọi hiện tượng cao máu là kẻ giết người thầm lặng (tueur silencieux, silent killer) vì lẽ nó giết ta một cách thật âm thầm, bất ngờ mà không báo hiệu ra một triệu chứng gì trước đó cả. Tuổi tác càng cao thì sức đàn hồi của động mạch lại càng giảm vì vậy bệnh cao máu càng dễ xuất hiện, rất nguy hiểm vì có thể gây ra tai biến mạch máu não (stroke, accident vasculaire cérébral AVC).
Tất cả các nhà khoa học trên thế giới đều chỉ đích danh sự thặng dư muối như là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh cao huyết áp động mạch.
Để theo dõi huyết áp của mình một cách thường xuyên, bạn có thể mua một cái máy để mỗi ngày tự đo lấy huyết áp của mình. Bạn cũng có thể ghé vào bất kỳ những pharmacies lớn nào tại Hoa Kỳ hay Canada để nhờ họ đo giùm. Dịch vụ nầy hoàn toàn miễn phí!.
Các loại sodium
Muối (chlorure de sodium) dùng để nêm nếm thức ăn tức muối bọt, chỉ chiếm có một phần nhỏ trong tổng số lượng sodium thật sự được sử dụng, số còn lại bao gồm sodium hiện diện một cách tự nhiên trong thực vật rau cải, trái cây và cuối cùng là các loại sodium khác, không ở dưới dạng muối, được sử dụng để pha trộn vào thực phẩm biến chế. Mục đích chính là để giúp gia tăng phẩm chất, hương vị, màu sắc và để việc tồn trữ được kéo lâu dài hơn. Ngoài việc sử dụng muối để bảo quản, sodium còn giúp sản phẩm tăng tính giữ nước và thêm cân. Đây là hiện tượng thường thấy trong kỹ nghệ sản xuất thịt nguội (charcuterie) thí dụ như saucisse, jambon, v.v... Sự kiện thực phẩm công nghiệp có chứa nhiều muối như pizza, chip, BigMac, Gà KFC, đậu phọng rang, v.v…cũng khiến người tiêu thụ dễ bị khát nên có khuynh hướng cần phải uống nước và đương nhiên giúp nhà hàng tăng số bán các loại nước ngọt như Coke, Pepsi, Seven Up...Các loại muối sodium nầy được gọi là muối ẩn (caché, hidden) rất nguy hiểm vì chúng ta không thể thấy chúng được. Đó là Nitrite de sodium và erythorbate de sodium (dùng trong kỹ nghệ thịt nguội để ướp lạp xưỡng, saucisse, jambon, hot dog, nem…), Bicarbonate de sodium còn gọi là baking powder (men, bột nổi để làm bánh), Phosphate de sodium, Benzoate de sodium (trong trái cây khô), Citrate de sodium (trong các loại đồ hộp), Propionate de sodium (giúp bánh mì không bị mốc meo) và chót là Monosodium glutamate (MSG) mà chúng ta quen gọi là bột ngọt...Sản phẩm có chứa muối sodium nhưng ăn lại không thấy mặn. Chết người là chỗ đó!
Những chất gì có thể thay thế được muối?
Trên thị trường cũng có một số sản phẩm có thể được dùng để thay thế muối ăn (Salt substitute) vì chứa rất ít hoặc không có chứa sodium gì hết. Thông thường thì những sản phẩm loại này lại chứa quá nhiều potassium nên không mấy thích hợp cho một số người.
Thức ăn nào có chứa nhiều sodium? 
Hầu như thức ăn, thức uống nào cũng có chứa ít nhiều sodium hết. Sodium có trong thịt, thịt nguội charcuterie (jambon, saucisse), thịt bacon, lạp xưỡng, tôm cá, trong đồ conserve, các lon súp, các lon rau đậu, các lon nước ép trái cây như tomato juice, cocktail aux légumes V8, Clamato, trong thức ăn đông lạnh frozen meals, plats cuisinés, trong các loại fast food (pizza, hamburger, Gà KFC, McCroquettes…), trong tất cả các loại chip, mì gói, trong sữa, bơ, margarine, fromage, trong nước khoáng (mineral water) như Vichy celestin, cải chua choucroute (sauerkraut) và cả trong rau quả chẳng hạn như celeri...
Đối với các món ăn VN, món ăn nào mặn là có nhiều muối tức phải chứa nhiều chất sodium rồi, chẳng hạn như tương, chao, miso, nước tương, dầu hào, nước mắm, các loại cá khô, cá mặn, tép rang, tôm kho Tàu, tôm khô, khô bò, dưa mắm, các loại mắm như mắm nêm, mắm ruốc, mắm ruột, mắm kho, mắm chưng, bún mắm, thịt kho cá kho, cua rang muối, hột vịt muối, xoài tượng chấm nước mắm đường, v.v…
Ăn nhiều sodium: hãy coi chừng! 
Ở những người có sức khỏe bình thường thì cơ thể tự điều hòa lượng sodium sử dụng bằng cách thải bớt ra ngoài qua mồ hôi, qua nước tiểu và qua phân.
Đối với một số người khác, sự thặng dư sodium sẽ có hại cho tim thận, cũng như làm tăng huyết áp động mạch và có thể dẫn đến tai biến mạch máu não rất nguy hiểm…
Tiêu thụ quá nhiều sodium sẽ kéo theo mất mát calcium qua thận và có thể dẫn đến tình trạng loãng xương (osteoporosis) và có nguy cơ dễ bị gãy xương. Ngược lại, một tình trạng thiếu sodium rất hiếm thấy xảy ra do vấn đề ăn uống thiếu thốn. Thiếu sodium sẽ làm cho cơ thể bị mất nước (deshydratation). Sự kiện này có thể thấy xảy ra trong trường hợp xuất mồ hôi quá nhiều, bị tiêu chảy lâu ngày, hoặc do ói mửa dữ dội. Ngoài ra việc uống quá nhiều thuốc lợi tiểu (diuretic) để mong giảm cân cho ốm cũng dễ đưa đến tình trạng cơ thể bị thiếu sodium... Di truyền cũng có thể là một nguyên nhân gây ra huyết áp cao. Người ta ước lượng có từ 10 đến 30% dân số Bắc Mỹ có mang sẵn trong người gène cao máu. Một số nhà khoa học thì cho rằng sodium không phải là nguyên nhân trực tiếp của vấn đề làm cao huyết áp. Nó chỉ làm trầm trọng thêm các yếu tố khác liên hệ với bệnh lý này mà thôi.
Ngoài muối ra, một số yếu tố khác như thuốc lá, nếp sống ù lì ít vận động, béo phì, stress cũng ảnh hưởng đến việc làm tăng huyết áp động mạch. Tháng tư, 2007 vừa qua tạp chí Hypertension có đăng tin một nhóm khảo cứu gia thuộc Đại học Bristol Anh Quốc qua thí nghiệm trên chuột đã nhận diện được nguyên nhân gây hiện tượng gia tăng huyết áp. Đó là protein Junctional Adhesion Molecule-1 (JAM-1)...JAM-1 được tìm thấy trong lớp tế bào endothelium, tức các tế bào lát trong lòng các mạch máu não bộ.
Sự kiện khá đặc biệt là JAM-1 có tác dụng giam giữ các bạch huyết cầu, gây nên tình trạng viêm sưng (inflammation) não, cản trở việc lưu thông máu và giới hạn nguồn cung cấp oxy trong đầu. Với khám phá quá mới mẻ nầy, các nhà khoa học nghĩ rằng trong tương lai, phương cách trị liệu bệnh cao máu có thể sẽ được duyệt xét lại.
Vậy các bạn hãy cẩn thận. Ăn mặn quá có hại cho sức khỏe. Cơ quan American Heart Association khuyến cáo mọi người nên giảm số lượng muối dùng hằng ngày, không nên vượt quá một muỗng cà phê (5,5gr) tương đương với 2400mg sodium (muối chứa 40% sodium và 60% chlore). Trong thực tế, chúng ta tiêu thụ nhiều gấp bội số lượng trên.
Tại Canada luật bắt buộc nhà sản xuất phải trộn thêm 0,01% iode (iodure de potassium) vào muối bán để ngừa bướu cổ (goiter, goître) do tình trạng tuyến giáp trạng thiếu iode gây ra.
Chế độ ăn kiêng, ít muối, ít sodium
Những ai đang có vấn đề tim mạch, huyết áp cao, thận yếu hoặc đang bị tiểu đường thì nên cẩn thận trong việc ăn uống. Không nên ăn mặn quá, quên muối luôn càng tốt. Tùy theo tình trạng của bệnh nhân mà bác sĩ sẽ kê ra các chế độ ăn kiêng thích hợp.
Trong thực tế, tại Canada và Hoa Kỳ luật bắt buộc nhà sản xuất phải nêu rõ số sodium chứa trong sản phẩm. Nhãn hiệu dinh dưỡng Nutrition Facts ghi trên sản phẩm có thể giúp chúng ta có một ý niệm về sodium trong món hàng. Nếu bạn muốn tính ra số lượng muối thì phải lấy số lượng sodium và nhân cho 2,5. Thí dụ 500mg sodium X 2,5= 1250mg muối (hay 1,25g), và nhớ rằng đây chỉ là số lượng sodium của một phần chuẩn (par portion, per serving) mà thôi. Ăn càng nhiều thì số lượng muối càng tăng!
Tại Cadana, những nhãn hiệu sau đây có nghĩa là gì?
Cơ quan Kiểm tra thực phẩm Canada (CFIA), thông qua luật về nhãn hiệu đã quy định rõ rệt những từ ngữ được cho phép ghi trên bao bì, thí dụ:
*SANS SEL AJOUTÉ ou NON SALÉ: Không có thêm muối vào thức ăn. Các nguyên liệu sử dụng cũng không có chứa một lượng sodium nào đáng kể hết.
*FAIBLE TENEUR EN SEL ou EN SODIUM ou HYPOSODIQUE: Thức ăn chứa 50% muối (hay sodium) ít hơn sản phẩm bình thường và cũng không thể có hơn 40mg sodium cho 100g (nếu là cheddar cheese) cũng như không thể có hơn 80mg sodium cho 100g nếu là thịt hay cá. Được kể như sản phẩm để ăn kiêng (diète).
*SANS SEL ou SANS SODIUM: Không chứa hơn 5mg sodium cho 100g sản phẩm. Đây là loại thực phẩm chứa ít muối, ít sodium nhất.
Muối, một vấn đề lo nghĩ của nhiều quốc gia
World Action on Salt and Health (WASH) là một tổ chức quốc tế quy tụ trên 200 chuyên gia đến từ 48 quốc gia đã thực hiện một cuộc điều tra về hàm lượng muối của 30 sản phẩm giống nhau được bán trong các hệ thống siêu thị và nhà hàng Fast food trên khắp thế giới. Riêng đối với Canada , kết quả thật đáng ngại vì có nhiều món hàng cho thấy có chứa một hàm lượng muối 17 lần nhiều hơn sản phẩm đồng loại bán ở các xứ khác. Thủ phạm bị nêu đích danh, đó là Kellog’s, Burger King và McDonald’s (Le Peril blanc, Protégez Vous, No Mai 2007).
WASH cho biết vấn đề muối không phải chỉ thuần túy giới hạn ở các món như hamburger, khoai Tây chiên hoặc vài loại céréale đâu, nhưng theo họ, nguồn sodium quan trọng và đáng ngại nhất xuất phát từ các loại thịt nguội (charcuterie), thịt biến chế, chip, bánh biscuit, crac- kers, craquelins, bánh mì khô (biscottes), thức ăn làm sẵn đóng hộp (plats cuisinés), các loại sauces, soupe lon, bột pha thành soupe, nói chung là trong các loại thực phẩm biến chế công nghiệp. Coi chừng, có khi một thức ăn giàu sodium không nhất thiết là phải có vị mặn lúc ăn vào đâu. Sodium có thể thấy trong bánh mì, trong các thỏi cớm céréale (barres tendres, chewy granola bars) và thậm chí…có thể thấy cả trong cà rem nữa (alginate de sodium).
Nhiều quốc gia trong khối Liên Hiệp Âu châu đã ý thức rằng sự thặng dư muối là một vấn đề y tế công cộng quan trọng ... Tại Finlande, sự can thiệp của chính phủ vào vấn đề muối từ những năm 1970 đến cuối những năm 1990 đã làm cho sự tiêu thụ muối giảm xuống còn 30%... Ở Anh quốc, cơ quan Food Standards Agency năm 2003 đã tung ra chiến dịch nhằm kích động giới kỹ nghệ hạn chế lượng sodium trong một số mặt hàng chẳng hạn như trong các lon súp, rau cải đóng hộp, bánh mì và fromage. Mục đích chính của chiến dịch nhằm cắt giảm 1/3 số muối tiêu thụ ở mỗi người dân Anh xuống để không được vượt quá giới hạn 6gr/ngày. Tại Pháp, cơ quan Agence Francaise de Sécurité Sanitaire des Aliments cũng rất quan tâm đến vấn đề muối trong các sản phẩm bán trên thị trường. Năm 2002 chính phủ Pháp đã đặt ra một chương trình nhằm giảm thiểu sự tiêu thụ muối ở người dân xuống 20% trong vòng năm năm... Tại Canada, dù rằng mối nguy cơ của muối đã quá rõ rệt rồi nhưng bộ luật Loi sur les Aliments et Drogues vẫn không xem muối như một chất phụ gia (food additive) nên không ấn định hàm lượng tối đa sodium dùng trong thực phẩm. Muối chỉ được xem như là một nguyên liệu bình thường mà thôi.
Kết luận 
Hình như dân VN mình có thói quen ăn rất mặn. Không biết có phải đây là nhu cầu tự nhiên của các dân tộc ở những xứ nóng, nhất là đối với những người lao động nặng nhọc thường hay bị đổ mồ hôi nên mất nhiều sodium hay không? Ngày xưa lúc còn nhỏ chúng ta cũng thường hay nghe người lớn nói là ăn mặn cho chắc da, chắc thịt, cho khỏe đó sao?
Muối, đường và mỡ là ba vấn đề quan trọng mà không ai lại có thể thờ ơ được. Đây cũng là mối lo ngại chính yếu của những người lớn tuổi lúc ăn uống. Đối với một số người kể cả người viết, thói quen ăn mặn cũng không dễ gì một sớm một chiều mà bỏ đi được. Thôi thì chúng ta hãy cố gắng ráng bỏ bớt muối được chừng nào tốt chừng đó... Bạn có đồng ý với tôi không?
Tham khảo:
- Sodium: Are you getting too much? MayoClinic.com
- Normand K Hollenberg, MD, PhD: The influence of dietary sodium on blood pressure. The Journal of the American College of Nutrition, vol 25, no9003, 2006.
- Rémi Maillard: Le Péril Blanc. Protégez-Vous, no mai, 2007.
- Hidefumi Waki et al: Junctional Adhesion Molecule-1 Is Upregulated in Spontaneously Hypertensive Rats. Evidence for a Prohypertensive Role Wthin the Brain Stem. Hypertension, April 9, 2007.
- Blood pressure is «in the brain». BBC News, 15 April, 2007.


Montreal, May 05, 2007
Nguyễn Thượng Chánh, DVM
Nguyên nhân có thể của muối Cao huyết áp cảm ứng đã xác định
(14 Tháng 4, 2011) - Nghiên cứu mới từ Đại học Case Western Reserve Trường Y Đại học Kent State cho thấy rằng lượng muối làm tăng huyết áp vì nó làm cho nó khó khăn hơn cho hệ thống tim mạch đồng thời sắp xếp các quy định của huyết áp và nhiệt độ cơ
Trong nhiều thập kỷ, các nhà nghiên cứu y tế đã cố gắng tìm hiểu cách muối gây ra cao huyết áp do muối gây ra nhưng không có. Một số cá nhân, mô tả như là "muối nhạy cảm," kinh nghiệm tăng huyết áp sau khi ăn phải muối, trong khi những người khác, gọi là "muối kháng," không. Cho đến nay, các nhà khoa học đã không thể giải thích tại sao một số cá nhân nhạy cảm với muối và những người khác là khả năng chống muối. Điều này không có khả năng để giải thích lý do tại sao muối làm tăng huyết áp ở một số cá nhân nhưng không phải những người khác đã cản trở sự phát triển của một lý thuyết toàn diện như những gì gây ra hầu hết các trường hợp cao huyết áp.
Kể từ khi hệ thống tim mạch chịu trách nhiệm cho việc duy trì huyết áp bình thường và cũng có thể giúp kiểm soát nhiệt độ cơ thể bằng cách tiến hành nhiệt từ các cơ bắp và các cơ quan nội bộ bề mặt của da, một nhóm các nhà nghiên cứu dẫn đầu bởi Robert P. Blankfield, MD, MS, giáo sư lâm sàng của gia đình y khoa tại trường dự trữ Case Western Trường Đại học Y, và là thành viên của Vụ Y học gia đình tại Đại học Bệnh viện Trường hợp Trung tâm Y tế và Ellen L. Glickman, Tiến sĩ, giáo sư khoa học thực hiện tại Đại học Kent State, thử nghiệm liệu những vai trò kép của tim mạch hệ thống có thể giúp giải thích làm thế nào uống muối dẫn đến tăng huyết áp nhạy cảm với muối.
Các nhà nghiên cứu kiểm tra tác động của muối và nước tiêu thụ so với các nước chỉ khi một nhóm 22 người đàn ông khỏe mạnh không có huyết áp cao. Huyết áp những người tham gia nghiên cứu, nhiệt độ trực tràng, chỉ số tim (lượng máu được bơm của tim mỗi phút), và lượng nước tiểu đã được theo dõi tại một, hai, ba tiếng sau khi những người đàn ông ăn hoặc muối và nước hoặc một mình nước. Thay đổi nhiệt độ trực tràng được so sánh giữa những người đàn ông được xác định là nhạy cảm so với những muối kháng muối.
Nghiên cứu cho thấy rằng uống nước muối và giảm nhiệt độ cơ thể nhiều hơn uống nước của chính nó. Ngoài ra, nhiệt độ cơ thể giảm ở những người kháng muối hơn so với cá nhân nhạy cảm với muối.
"Nó xuất hiện rằng các cá nhân nhạy cảm muối duy trì trạng thái cân bằng cốt lõi nhiệt độ cơ thể hiệu quả hơn so với các cá nhân muối kháng, nhưng kinh nghiệm tăng huyết áp trong quá trình này," Tiến sĩ Blankfield nói. "Ngược lại, muối kháng cá nhân duy trì trạng thái cân bằng huyết áp hiệu quả hơn so với các cá nhân muối nhạy cảm sau muối và tiêu thụ nước, nhưng kinh nghiệm giảm nhiệt độ lớn hơn trong quá trình này."
Matthew D. Muller, Tiến sĩ, đồng nghiệp nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Penn State Y, và giấy của tác giả đầu tiên giải thích: "Nếu kết quả của chúng tôi được khái quát, nó sẽ có thể vào tài khoản cho vai trò của muối trong việc phát triển nhạy cảm với muối tải tăng huyết áp: muối và nước làm tăng áp lực máu trong các cá nhân muối nhạy cảm, và huyết áp cao vẫn tồn tại trong một thời gian hữu hạn của thời gian trong và sau khi lượng muối và nước này có độ cao huyết áp thoáng qua, cho dù ngắn hoặc kéo dài, có thể bắt đầu phức tạp. thay đổi trong các bức tường của các động mạch và tiểu động mạch mô tả đặc điểm cá nhân cao huyết áp cần thiết. "
Tiến sĩ Muller cho biết thêm,: "Ngày nay, các bác sĩ nói với bệnh nhân của họ mà không ai biết những gì gây ra cao huyết áp Kể từ khi chúng ta có thể giải thích lý do tại sao muối-nhạy cảm cao huyết áp phát triển, một lý thuyết sẽ giải thích tất cả các tăng huyết áp có thể được có thể.. Vì vậy, các bác sĩ có thể ngày có thể cho biết bệnh nhân của họ là nguyên nhân gây ra huyết áp cao được hiểu, và các bác sĩ cũng có thể có thể giải thích cho bệnh nhân của họ phải được thực hiện để tránh phát triển tình trạng bệnh mãn tính này. " Tiến sĩ Muller đã tiến hành nghiên cứu này là một sinh viên tiến sĩ tại Đại học Kent State.
Những phát hiện này được mô tả trong một bản thảo được công bố trên số ra ngày 14 tháng 4 của tạp chí Nghiên cứu Cao huyết áp.
Mới làm sáng tỏ Muối ăn Và Cao huyết áp
(05 Tháng năm 2009) - muối lượng nói chung là liên quan đến nguy cơ mắc bệnh tim mạch. Tuy nhiên, tăng huyết áp vẫn còn nhạy cảm với muối vẫn còn là một bí ẩn. Bây giờ, các nhà điều tra Đức tại Đại học Erlangen, Max Delbrück Trung tâm Y học phân tử (MDC) Berlin-Buch và Regensburg, hợp tác với các nhà nghiên cứu từ Phần Lan và Áo đã làm sáng tỏ về mối quan hệ giữa lượng muối, quá trình cơ thể, và máu áp lực quy định. Trong thời hạn da, họ đã phát hiện một khu vực lưu trữ mới cho muối trong cơ thể.
Họ cũng phát hiện ra rằng nếu quá trình phía sau lưu trữ này là lỗi, động vật trở thành tăng huyết áp.
Muối (natri clorua, NaCl) là cần thiết cho cuộc sống. Động vật ăn cỏ (ăn động vật thực vật) có nguy cơ cuộc sống của họ "liếm muối" và động vật ăn thịt (thịt ăn động vật) đến liếm muối ăn động vật ăn cỏ để có được muối.
Muối  là chịu trách nhiệm điều tiết nước trong cơ thể. Nó được đưa lên bởi đường dạ dày-ruột (GI) và phần lớn được bài tiết bởi thận. Tuy nhiên, muối cũng được lưu giữ trong các tế bào và trong interstitium, khu vực giữa các tế bào trong cơ thể.
Tiến sĩ Jens Titze và colleages, trong đó có Müller Dominik N., Wolfgang Derer, và Friedrich C. Luft từ Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm và lâm sàng tại các MDC, bây giờ có thể cho thấy một chế độ ăn nhiều muối ở chuột dẫn đến sự tích tụ muối trong interstitium trong da. Quá trình này được quy định bởi các tế bào máu trắng đặc biệt, các đại thực bào một cách cẩn thận.
Trong những đại thực bào, các nhà khoa học tìm thấy một điều chỉnh gen (yếu tố sao chép) được gọi là TonEBP (tonicity chịu trách nhiệm tăng cường liên kết protein). TonEBP được kích hoạt trong các tế bào này trong phản ứng với muối cao và biến trên một gen (VEGF-C - C yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu) điều khiển sản xuất của các mạch máu bạch huyết. Với chế độ ăn nhiều muối mạch bạch huyết tăng lên.
Các nhà nghiên cứu cũng cho thấy rằng khi các đại thực bào này đang cạn kiệt hoặc nếu thụ thể của VEGF-C vắng mặt, các động vật không có khả năng "lưu trữ muối của họ" và trở thành tăng huyết áp. Tuy nhiên, quá trình này và liên quan đến bệnh của con người chưa hoàn toàn hiểu hết.

2018 Tủ lạnh và thức ăn



6 mối nguy tiềm ẩn từ tủ lạnh và giải pháp khắc phục

Hầu hết chúng ta đều nghĩ tủ lạnh là nơi dự trữ thức ăn an toàn nhất. Nhưng nghiên cứu cho thấy ngăn đựng rau quả có thể chứa lượng vi khuẩn cao gấp 750 lần mức an toàn, trong đó, tỷ lệ các vi khuẩn nguy hiểm như E.Coli 0157, salmonella và listeria thậm chí cao hơn.
“Biết cách dự trữ thực phẩm là điều quan trọng để ngăn ngừa ngộ độc thực phẩm cho gia đình”, Giáo sư Tom Humphrey của Viện nhiễm trùng và Sức khỏe toàn cầu ở Đại học Liverpool (Anh) cho biết. Dưới đây là những mối nguy tiềm ẩn từ tủ lạnh và cách xử lý:

1. Vi khuẩn có thể tồn tại ở nhiệt độ thấp

Nhiều người sai lầm khi tin rằng thức ăn lạnh sẽ giết chết vi khuẩn. Theo Giáo sư Humphrey, thực phẩm đông lạnh làm chậm tốc độ sinh sôi của vi khuẩn nên chúng ta có thể dự trữ trong vài ngày thay vì chỉ vài giờ ở nhiệt độ phòng. Tuy nhiên, một số vi khuẩn không ngừng sinh sôi trong tủ lạnh nên có thể là nguồn gây ngộ độc thực phẩm. Chẳng hạn, khuẩn listeria (gây các triệu chứng giống bệnh cảm, nặng hơn là bệnh nhiễm trùng máu hoặc viêm màng não) có thể phát triển ở nhiệt độ từ -1oC đến 4oC và thường tồn tại trong các thực phẩm như phô mai mềm, thịt, cá...
Theo Giáo sư Humphrey, nhiệt độ của tủ lạnh nên được duy trì ở mức từ 4-5oC, đừng mở cửa tủ lạnh quá lâu và không đặt thức ăn nóng vào tủ để tránh làm nhiệt độ bên trong tăng lên.

2. Nguy cơ từ chiếc tủ lạnh đầy ắp thức ăn

Để bảo đảm sức khỏe người dùng, các nhà sản xuất thực phẩm có xu hướng cắt giảm hàm lượng chất bảo quản, nên gia tăng nhu cầu bảo quản thực phẩm trong tủ lạnh sau khi đã mở bao bì.
Nếu tủ lạnh của bạn chứa đầy thức ăn, hãy điều chỉnh nhiệt độ thấp xuống, đồng thời thường xuyên vệ sinh tủ lạnh. Giáo sư Humphrey khuyên bạn nên lau tủ 1 lần/tuần với nước nóng và thuốc khử trùng, riêng ngăn đựng thịt sống thì nên vệ sinh cách nhau vài ngày.

3. Đừng bao giờ đặt thịt ở ngăn trên cùng

“Một trong những nguyên nhân chính gây ngộ độc thực phẩm là lây nhiễm chéo” – Giáo sư Humphrey giải thích. Ví dụ, thịt gà sống hay nhiễmvi khuẩn campylobacter nguy hiểm, thường gây các triệu chứng như đau bụng, sốt và tiêu chảy. Do đó, nếu được đặt trên ngăn đựng rau, nước trong thịt sẽ rỉ qua các khe hở, thấm vào rau và đầu độc bạn nếu bạn ăn sống. Lời khuyên tốt nhất là bạn nên bỏ thịt gà vào trong hộp kín và để ở ngăn dưới cùng của tủ lạnh. Bạn cũng có thể để riêng thực phẩm ăn sống với thức ăn chế biến sẵn, nấu chín hoặc thịt, cá sống.

4. Dự trữ phô mai trong hộp riêng

Theo Giáo sư Humphrey, bạn nên bảo quản phô mai trong một chiếc hộp riêng và không đặt chung với những loại thức ăn khác như patê, cá, thịt xông khói. Lý do là phô mai dễ bị nhiễm khuẩn listeria từ các loại thức ăn khác qua tay của bạn.

5. Hãy cẩn thận với các loại rau sống

“Chúng ta thường phớt lờ vai trò của rau trong quá trình truyền vi khuẩn gây bệnh” – Giáo sư Humphrey nói. Khuẩn E.Coli thường tồn tại dưới dạng lạnh, đông lạnh và thường tìm thấy trong đất trồng rau. Loại vi khuẩn này có thể nhiễm chéo từ rau sang các thức ăn khác trong tủ lạnh, do đó, bạn đừng quên rửa sạch rau trước khi cho vào ngăn dự trữ riêng trong tủ lạnh.

6. Cơm để trong tủ lạnh cũng không an toàn

Bacillus cereus – loại vi khuẩn thường thấy ở những thực vật trồng gần mặt đất như lúa, ngũ cốc và các loại rau gia vị, có thể gây ra các triệu chứng như buồn nôn, nôn và bệnh tiêu chảy. Trong quá trình nấu, vi khuẩn này không hoạt động, nhưng khi cơm nguội, nó bắt đầu sản sinh các bào tử độc hại. Theo Giáo sư Humphrey, bạn nên để cơm vào tủ lạnh khi nó vừa nguội và nên đem cơm bỏ sau 3 ngày cất trong tủ lạnh.
Theo Daily mail 

2018 Nước uống đóng chai



Nước Đóng Chai Tại Bắc Mỹ 
Nguyễn thượng Chánh, DVM

   
Cá sống nhờ nước, con người cũng cần phải có nước mới tồn tại được. Từ vài chục năm nay, kỹ nghệ nước uống đã không ngừng phát triển một cách rất mạnh mẽ trên khắp thế giới. Theo thống kê thì hằng năm mỗi người dân tiêu thụ: Canada 47 lít, Hoa Kỳ 90 lít và Âu châu 112 lít. Bên cạnh các loại nước đóng chai đa dạng, đủ kiểu, đủ cỡ, đồng thời chúng ta cũng thấy xuất hiện các ngành kỹ nghệ phụ thuộc, như những máy lọc, những máy làm lạnh nước, những dụng cụ khử trùng và khử chất bẩn trong nước uống. Qua kết quả thăm dò của Leger Marketing, thì có lối 30 % dân Canada không còn tin tưởng và tính nhiệm vào việc dùng nước robinet để uống nữa. Hiện tượng ô nhiễm môi sinh là lý do chính của quyết định nầy. Ngoài ra, theo International Bottled Water Association (IBWA) dân chúng ưa chuộng nước đóng chai vì mùi vị không gắt, không hôi mùi chlorine như nước máy, ngoài ra và nó cũng có vẻ tinh khiết và bổ dưỡng cho sức khỏe nữa. Nước được đựng trong các chai hay bằng plastic rất đẹp mắt, tiện lợi, dễ mang theo và cũng rất dễ tìm. Bởi những lý do nầy, nên nhiều người đã chọn nước đóng chai hoặc nước lọc để uống, tuy vậy cũng có một số người thì lại nghĩ rằng uống nước đóng chai hay uống nước máy thì cũng vậy thôi, không có gì khác biệt với nhau hết...Vậy đâu là sự thật? 
Thế Nào Gọi Là Nước Đóng Chai?
Đây là nước uống đã được vô chai sẵn, đóng nút kỹ lưỡng và có nhãn hiệu đàng hoàng. Tại Canada, danh xưng của các nước đóng chai được luật lệ quy định rõ rệt, và gồm có nhiều loại :
• Nước suối thiên nhiên (natural spring water). Được khoan rút từ các suối ngầm chảy trong lòng đất. Nước phải trong lành và chứa một nồng độ chất khoáng không được hơn 500ppm/l
• Nước khoáng thiên nhiên (natural mineral water), cũng được hứng từ những mạch ngầm dưới đất, và có một nồng độ chất khoáng rất cao. Canada ấn định nồng độ nầy phải từ 500 ppm/lít trở lên (còn ở Hoa kỳ thì trên 250 ppm/lít). Thông thường nồng độ khoáng chất hòa tan trong loại nước nầy thường ở vào khoảng 700-800 ppm, tuy nhiên cũng có loại có thể chứa trên 3000 ppm chất khoáng. Đối với 2 loại nước suối và nước khoáng vừa kể, nhà sản xuất không có quyền làm thay đổi thành phần chất khoáng tiên khởi có sẵn trong nước ngầm, ngoại trừ họ có thể cho thêm khí CO2 (carbon dioxide), hoặc thêm chất fluoride. Ngoài ra họ cũng có thể sử dụng phương pháp khử trùng bằng ozone.
• Nước đã được xử lý (treated water). Đây không phải là những loại nước lấy từ nguồn nước ngầm, nhưng là nước của thành phố, tức được hứng từ vòi robinet. Thông thường là nước sông hoặc nước ao hồ được lắng lọc, làm cho trong, và khử trùng bằng nhiều phương pháp khác nhau như dùng tia cực tím (ultra violet), ozone, thẩm thấu ngược (reverse osmosis hoặc sử dụng cách lọc đặc biệt gọi là absolute micron filtration. Nước xử lý có thể là nước cất (distilled water), nước vô khoáng (demineralized water), và nước có gaz (carbonated water)... Nước cất có được qua phương pháp làm bốc hơi và sau đó làm cô động lại thành nước. Nước cất không có chứa chất khoáng hoặc chỉ chứa một nồng độ chất khoáng thật thấp dưới 10 ppm/lít...Nước vô khoáng là nước đã được rút bớt chất khoáng ra bằng một phương pháp nào đó ngoại trừ cách cất nước. Nồng độ chất khoáng của nó rất ư là thấp và phải dưới 10 ppm/lít. Nước vô khoáng có thể được dùng để uống, để chế vô các dụng cụ điện như bàn ủi, bình batterie, để gội đầu các trẻ sơ sinh, tráng phim hoặc để dùng trong các phòng thí nghiệm. Tại Canada, loại nước vô khoáng thường thấy bán trong các pharmacies là Atlas H2O Treated&Demineralized...Nước có gaz để tạo bọt nhỏ li ti (sparkling) gây the the chích lưỡi và coi rất đẹp mắt!
Nước Đóng Chai Có Chứa Vi Khuẩn Không?
Nước đóng chai không phải là nước hoàn toàn vô trùng (sterile)... Nó vẫn có thể có chứa một ít vi khuẩn nào đó, nhưng điều quan trọng nhất là nó không được chứa các loại vi khuẩn có hại cho sức khỏe.
Nước Đóng Chai Có Tốt Hơn Nước Robinet?  
Trên nguyên tắc, nhà sản xuất cũng như nhà nhập cảng phải chịu trách nhiệm và bảo đảm sản phẩm của họ phải đáp ứng đầy đủ các quy định về vệ sinh cũng như tính chất trong lành ấn định bởi cơ quan Health Canada. Điều kiện nầy cũng áp dụng cho cả nước robinet của thành phố nữa. Đến nay, tại Canada chưa thấy có báo cáo nào nói lên các trường hợp bệnh hoạn gây nên bởi nước đóng chai cả.
Nên Dùng Nước Đóng Chai Loại Nào?  
Các cụ lớn tuổi, các người bệnh hoạn lâu ngày, có hệ miễn dịch bị suy yếu sẵn, và các cháu bé nhỏ tuổi nên uống nước đóng chai đã được khử trùng bằng phương pháp ozone...Để thay thế, họ cũng có thể dùng nước có gaz. Loại nước nầy có tính hơi acid nên vi khuẩn khó phát triển được trong đó…Bình thường, chúng ta nên  mua những loại nước có nồng độ sodium thật thấp, trên chai có đề câu sans sodium/sodium  free hoặc faible en sodium/low in sodium.
Có Nên Dùng Nước Đóng Chai Để Rửa Kính Áp Tròng Contact Lenses Hay Không
Không nên! Chỉ sử dụng các dung dịch đặc biệt mua ở pharmacy để rửa contact lenses  mà thôi.
Trên Chai Nước Phải Ghi Những Chi Tiết Gì?
   Theo luật Canada, cần phải có: tên sản phẩm, thành phần và nồng độ các loại khoáng chất, cách lọc và phương pháp khử trùng ra sao, như ozone, thẩm thấu ngược (reverse osmosis) vv…và có thêm chất fluoride vào hay không. Nguồn nước lấy từ đâu và địa chỉ nơi sản xuất.
Nước Đóng Chai Có Chứa Những Chất Gì?  Tạp chí Protégez vous cho biết nước đóng chai bán tại Québec không có chứa hoặc chứa rất ít chất Arsenic (As), Đồng (Cu), Kẽm (Zn) và Potassium (K). Các chất sau đây thường được thấy ghi trên nhãn hiệu :
• Calcium (Ca):  tốt cho xương, ngừa chứng loãng xương (osteoporosis). Các hiệu sau đây có chứa những lượng calcium đáng kể: Abenakis  (540 ppm), Ferrarelle (368 ppm), San Pellegrino (208 ppm), Perrier (147 ppm) và Vichy Celestins (94 ppm).
• Sodium (Na): đa số nước suối thiên nhiên đều chứa rất ít sodium. Ngược lại  nước khoáng thiên nhiên lại chứa rất nhiều sodium. Abenakis (4300 ppm), Vichy celestin (1196 ppm). Bởi lẽ nầy, các loại nước khoáng thường có vị hơi mặn. Đôi khi chúng ta thấy có đề câu Sans sodium/ Sodium free, đây không có nghĩa là hoàn toàn không có sodium, nước vẫn có thể có chứa chút ít sodium nhưng chất nầy phải ít hơn 5 mg cho 100 ml. Các người có bệnh tim, cao áp huyết, hoặc đau thận thì không nên dùng nước có chứa trên 10mg sodium trong 1 lít.
• Chorure, Chloride (Cl): Nước suối chứa rất ít chloride, trung bình 18 ppm, ngược lại nước khoáng chứa rất nhiều chloride, thường ở vào khoảng 350 ppm. 
• Magnesium (Mg)&Sulfate (SO4): Sulfate thường kết hợp với Calcium hoặc với Magnesium …Sulfate có tính nhuận trường. Uống nhiều có thể làm xót ruột và gây ra tiêu chảy. Magnesium giúp củng cố sức miễn dịch, giúp tim hoạt động tốt và điều hòa áp huyết động mạch. Luật Quebec, Canada ấn định nước suối không được chứa hơn 500 ppm sulfate. Tuy vậy, 2 hiệu sau đây đều có chứa một lượng sulfate rất cao, đó là Abenakis (750 ppm), và San Pellegrino (459 ppm).
• Nitrate (NO3): Ngược với Sulfate, Nitrate rất độc và có thể gây hại cho sức khỏe. Trong cơ thể Nitrate chuyển thành Nitrite (NO2) và ngăn trở việc chuyển vận oxy trong máu, gây ngạt thở và làm tím da, thường là vùng quanh miệng, và da ở 2 bàn tay và ở 2 bàn chân. Hiện tượng nầy thường xảy ra ở các cháu bé dưới 6 tháng tuổi, người ta gọi đây là Blue baby syndrome hay methemoglobinemia. Dùng nước có chứa quá nhiều Nitrate để pha sữa có thể đưa đến hiện tượng nầy. Phụ nữ đang mang thai cũng cần nên để ý tới Nitrate…Có người còn nghi Nitrate có thể gây ra cancer nữa. Đa số nước đóng chai đều không có hoặc có rất ít Nitrate…Nitrate cũng hiện diện khá nhiều trong một số rau cải, như carrot, và rau mồng tơi.
• Bicarbonate (HCO3): Đây là chất kháng acid (antacid), làm giảm độ chua của bao tử. Ở nồng độ 600ppm, Bicarbonate có thể làm giảm thiểu chứng xót dạ dầy và bụng đầy hơi. Bicarbonate có rất nhiều trong các loại nước khoáng, dẫn đầu là Vichy celestins  (3026 ppm Bicarbonate).
• Fluoride (F): giúp vào sự phát triển của xương cũng như ngăn ngừa sâu răng ở trẻ em. Việc lạm dụng hay thặng dư Fluoride sẽ dẫn đến tình trạng các men răng có đóm trắng đóm nâu làm mất vẻ thẩm mỹ, khoa học gọi tình trạng nầy là dental fluorosis. Ở người lớn không thấy xảy ra hiện tượng nầy, nhưng nếu tiêu thụ quá nhiều fluoride trong một thời gian lâu dài sẽ dẫn đến tình trạng đau nhức xương và khớp. Nên nhớ là fluoride cũng hiện diện trong kem đánh răng và trong một số thực phẩm nữa. Thường thì nước đóng chai có rất ít chất fluoride ngoại trừ một vài hiệu như Vichy celestin  (6.1 ppm fluoride).
Nhà Sản Xuất Có Thể Dùng Nước Robinet Để Vô Chai Hay Không?  Được! Trường hợp nầy không thể sử dụng danh từ nước suối hay nước khoáng thiên nhiên được. Nhà sản xuất có quyền được dùng nước robinet, đem cất, lọc, khử trùng, làm cho bớt mùi chlore và sau đó vô chai đem bán.
Nước Đóng Chai Có Thể Tồn Trữ Được Trong Bao Lâu?
Để giữ sự trong lành, một khi chai nước đã được khui ra, uống không hết nên cất vào tủ lạnh ngay. Vì thời gian tồn trữ nước đóng chai thường trên 90 ngày, nên luật Canada không bắt buộc nhà sản xuất phải ghi ngày vô chai và ngày giới hạn sử dụng (Best before). Thông thường thời gian tồn trữ nước đóng chai là 2 năm kể từ ngày vô chai với điều kiện là nấp chai vẫn còn nguyên vẹn và nước được cất giữ ở nơi tối, mát mẻ… Đối với những loại nước mà chúng ta tự hứng vô bình tại các siêu thị, thì cần nên sử dụng càng sớm càng tốt. Tránh cất giữ nước đóng chai nơi ẩm nóng, dưới ánh sáng mặt trời hoặc để gần nơi cất giữ xăng dầu, savon và các loại hóa chất chùi rửa…
Canadian Bottled Water Association (CBWA) khuyên chúng ta không nên dùng các chai plastic đựng nước để đựng các loại thức uống khác. Các chai nầy chỉ nên sử dụng một lần duy nhất mà thôi (usage unique) vì chất plastic có chứa chất polyethylene terephthalate (PET). Xài đi xài nhiều lần, plastic sẽ biến ra thành những chất độc có hại cho sức khỏe. Đối với các bình lớn, loại 18 lít, chúng được làm từ chất polycarbonate rất cứng chắc nên nhà máy có thể sử dụng đi sử dụng lại 40-50 lần để đựng nước. Tại nhà máy, bình được rửa lại cẩn thận, tiệt trùng, chăm đầy nước và niêm nấp lại kỹ lưỡng trước khi đem bán cho người tiêu thụ.
Tại Canada Cơ Quan Nào Kiểm Soát Nước Đóng Chai ? Tại Canada, nước đóng chai được liệt kê vào món thực phẩm, và bị chi phối bởi luật Food and Drugs Act cũng như luật về bao bì nhãn hiệu Consumer Packaging and Labelling Act and Regulations….Cơ Quan Y tế Health Canada ấn định các định mức về vệ sinh cũng như về nồng độ tối đa của các chất kim loại được cho phép hiện diện trong nước uống. Cơ Quan Kiểm Tra Thực Phẩm Canada (CFIA) chịu trách nhiệm thi hành và kiểm soát các quy định trên. Ngoài ra, một số bộ sở quan thuộc chính quyền tỉnh bang  hoặc thành phố cũng có thể đề ra những điều luật riêng rẽ để kiểm soát nước đóng chai tại địa phương của mình, 85% nước đóng chai tại Canada đều nằm trong vòng kiểm soát của hiệp hội Canadian Bottled Water Association….Tại Hoa Kỳ, nước đóng chai được kiểm soát và chi phối bởi luật the Federal Food, Drug, and Cosmetic Act thuộc thẩm quyền của cơ quan The Food and Drug Administration.
Đắt Như Vàng!
   Chai nước có màu xanh lơ, nhãn hiệu cũng cùng một màu, và kèm theo lời quảng cáo thật là hấp dẫn: Nước xử lý có chứa muối khoáng, một món giải khát thật tinh khiết (Pure refreshment - Mineralized Treated Water), được lọc và khử trùng qua phương pháp thẩm thấu ngược hay phương pháp ozone. Đó chẳng qua là nước robinet mà thôi, do Cty Coca Cola sản xuất và mang tên là Dasani, giá bán 1$/1 lít...Vậy, nguồn nước đã được lấy từ đâu? Xin thưa, tại Canada, nước lấy tại thành phố Calgary (Alberta) và tại thành phố Brampton (Ontario), còn ở Hoa Kỳ nước được hứng tại một thành phố nào đó ở Kansas và Pennsylvania. Tất cả đều đúng luật định, khộng có gì sai trái cả. Những năm gần đây, thị trường nước ngọt có mòi xuống dốc vì thiên hạ sợ uống ba cái thứ nước ngọt nhiều đường, nhiều caffeine sẽ không tốt cho sức khỏe. Thôi thì uống nước lã đóng chai là thượng sách rồi. Các Cty nước ngọt chụp lấy thời cơ xoay qua việc sản xuất nước đóng chai. Bán 1 vốn 10 lời. Năm 2001, Hoa Kỳ đã tiêu thụ 20 tỉ lít nước vô chai.Theo Bewerage Digest, kỹ nghệ nước đóng chai Hoa Kỳ đã thu vào trên 7.5 tỉ $ / năm… Riêng Canada, với khoảng 31 triệu dân, từ năm 1995 đến năm 2000 lượng nước tiêu thụ đã nhảy vọt từ 527 triệu lít lên 850 triệu lít /năm. Nước đóng chai đắt gấp cả trăm lần hơn nước robinet...Tại Canada, phần lớn các hiệu nước đóng chai đều nằm trong tay của các đại công ty quốc tế như: Nestlé (Montclair, Perrier), Danone (Labrador, Evian, Naya), CocaCola (Dasani) và PepsiCola (Aquafina, sản xuất từ nước robinet của thành phố).
Mấy năm gần đây, kỹ nghệ nước uống còn sáng tạo thêm những loại nước uống rất đặc biệt. Đó là những thứ nước uống có “trị giá tăng thêm” (à valeurs additionnelles), nghĩa là được trộn thêm những chất dinh dưỡng, chất khoáng, vitamines, hydrogen(?), oxygen, hoặc cả chất chlorophylle nữa. Tại Quebec, hiệu nước Reebok có chứa calcium, magnésium và 4 loại vitamins: C, B6, B12 và acide folique. Hiệu Oxygizer là loại nước có thêm oxygen và được nhập cảng từ Áo quốc. Giá bán rất “bình dân”, chỉ có 4.50$ cho một chai ½ lít mà thôi. Nước có thêm oxygen (oxygenatad water) nhờ được trình bày rất đẹp mắt, quảng cáo tinh vi nên đã trở thành một mặt hàng rất phổ thông à la mode nhất là đối với giới trẻ. Thấy có ăn, rất nhiều công ty đã nhảy ra sản xuất mặc hàng nầy. Quảng cáo của các nhà sản xuất rất táo bạo, thí dụ như nước có oxygen sẽ giúp tăng thành tích của những người chơi thể thao… Có thật vậy không? Sự thật thế nào thì phải hỏi lại! Theo tạp chí Journal of American Association  Nov 2003, thì dù cho có uống nước pha oxygen đi nữa thì thành tích của một người vận động viên cũng không thấy gì thay đổi hết!
Có Nên Uống Nước Robinet Không?
   Tại các thành phố và thị trấn lớn, nước sông, rạch, ao hồ được đưa về trữ trong những bể khổng lồ tại các nhà máy nước. Sau đó, nước được lắng lọc, pha trộn hóa chất để làm trầm hiện các chất hữu cơ, giúp nước được trong, đồng thời để khử các loại vi khuẩn, virus và ký sinh trùng. Chlore (Chlorine) là chất thường được dùng nhiều nhất để khử trùng nước uống. Trở ngại chính của chlore là làm cho nước có mùi gắt, uống không ngon. Ngoài ra hóa chất nầy cũng có thể tác dụng với các chất hữu cơ, chẳng hạn như lá cây mục rác rến, để tạo ra những phế chất nhóm Trihalomethanes (THM). Người ta nghi về lâu về dài THM có thể gây ra cancer (ruột và bọng đái) hoặc gây xảo thai...Để làm mất mùi chlore, chúng ta có thể đun nước cho sôi lên để làm mùi bay đi. Chúng ta cũng có thể hứng nước vào bình, không đậy nấp và đem cất qua đêm trong tủ lạnh, hôm sau sẽ bớt mùi chlore...Health Canada cho phép nước robinet có thể chứa một nồng độ THM tối đa  là 0.1mg/lít. Cũng có một số ít nhà máy sử dụng ozone để khử trùng nước uống. Phương pháp nầy rất hữu hiệu nhưng rất tốn kém. Trở ngại chính là ozone dần dần sẽ mất tác dụng trong hệ thống phân phối nước, trong khi chất chlore rất ổn định và bền bỉ trong nước suốt từ nhà máy đến nơi tiêu thụ. Tại Canada, 40% thành phố đã cho thêm chất Fluoride vào nước robinet. Phương pháp nầy nhầm giúp ngừa sâu răng đồng thời cũng giúp cho răng phát triển tốt hơn. Tuy nhiên, cũng có nhiều người không đồng ý và chống đối phương pháp thêm Fluoride vào nước. Họ sợ một sự thặng dư Fluoride sẽ ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe thậm chí còn có thể gây ra cancer nữa. Health Canada cho phép nước robinet được chứa một nồng độ Fluoride là 1.0 mg trong 1 lít...Các tests xét nghiệm về vi trùng  học, virus, ký sinh trùng học, kim loại nặng và các hóa chất độc vẫn thường được thực hiện tại các nhà máy nước uống. Kết quả cho thấy là nước robinet ở Canada rất tốt và có thể uống được một cách an toàn không nguy hiểm. Tuy vậy, thỉnh thoảng chính quyền địa phương vẫn ra thông báo khuyên người dân phải đun nước cho sôi rồi hãy uống với lý do là nước đã bị nhiễm vi trùng đường ruột (coliformes) khá cao trên mức quy định...Còn nhớ, tháng 5 năm 2000, tại thành phố Walkerton Ontario cũng đã xảy ra vụ tai tiếng nước robinet bị nhiễm khuẫn E.coli 0157:H7, còn gọi là khuẩn bệnh Hamburger. Biến cố nầy đã khiến trên 2000 dân địa phương phải đến bệnh viện để xin điều trị chứng đau bụng và tiêu chảy. Cuối cùng cũng có 7 nạn nhân chẳng may bị thiệt mạng, đa số là những người lớn tuổi...Bên cạnh vi khuẩn ra, nước cũng có thể bị nhiễm bởi 2 loại ký sinh trùng thuộc nhóm nguyên sinh vật (protozoa), đó là Giardia và Cryptosporum. Các ký sinh trùng nầy, dưới dạng bào tử (spores), có thể sống rất dai trong môi sinh...Giardia được tìm thấy trong phân người, chó, hải ly (castor, beaver) và chuột xạ. Bị nhiễm Giardia, chúng ta sẽ bị đau bụng và tiêu chảy dây dưa cả tuần lễ... Cryptosporum cũng được thấy trong phân người và trong phân của gia súc như bò chẳng hạn. Cryptosporum có thể nhiễm vào nguồn nước, kể cả nước giếng. Đau bụng và tiêu chảy là triệu chứng chính của nước đã bị nhiễm Cryptosporum. Bệnh có thể rất nặng ở các cháu bé nhỏ tuổi và ở các bác lớn tuổi. Đun nước cho sôi là cách hữu hiệu nhất để diệt vi khuẩn, virus và ký sinh trùng trong nước uống. Nhưng điều e ngại nhứt của mọi người vẫn là các hóa chất ô nhiễm trong kỹ nghệ và canh nông có thể có trong nước sông và từ đó mà nhiễm vào hệ thống nước robinet của thành phố...Chất diệt cỏ Atrazine là một trong nhiều loại ô nhiễm hóa học được phát hiện trong nước sông ở Québec... Atrazine có thể gây ung thư...Nhiễm chì (Pb) cũng là một vấn đề quan trọng của nước robinet. Nước máy có thể bị nhiễm chì từ hệ thống ống nước bằng chì thường thấy ở các nhà được xay cất cách nay 5-6 chục năm. Cũng may là ngày nay, luật Canada cấm sử dụng ống nước bằng chì trong việc xây dựng nhà cửa. Nhiễm chì trong thời gian lâu dài rất có hại cho hệ thần kinh trung ương, nhất là đối với các cháu bé. Để ngăn ngừa vấn đề nầy, người ta khuyên chúng ta mỗi buổi sáng nên mở xả bỏ nước robinet cho chảy tự do trong vòng 1 phút rồi hãy uống. Nước robinet đôi khi cũng có màu sắc khác thường, như hơi đỏ nâu. Đây có thể là thùng nước nóng đã bị rỉ sét, hoặc có người đang sửa chữa hệ thống ống dẫn nước trong khu vực của mình. Vào những ngày mùa đông lạnh lẽo, khi mở robinet, đôi lúc nước có màu trắng đục. Đây là hiện tượng rất bình thường mà thôi. Bọt khí được giữ trong ống, lúc được mở ra, nhiệt độ cũng như áp suất bị thay đổi đột ngột làm cho nước tạo ra những bọt nhỏ li ti. Hứng trong ly, nước có màu trắng đục, nhưng để yên một lúc thì nước sẽ lần lần trong trở lại bắt đầu từ dưới đáy ly lên trên. Nên nhớ là đừng bao giờ sử dụng nước nóng hứng từ robinet để uống, để pha sữa hoặc để nấu ăn, vì nước nóng có thể tích lũy nhiều chất kim loại, như chì và đồng cũng như các chất rỉ sét xuất phát từ bồn chứa.
Uống Nước Giếng Có Bảo Đảm Không?
Tại Canada, dân sống xa thành thị, bắt buộc phải đào giếng để có nước mà xài. Có 2 loại giếng: giếng cạn dưới 30 mét, và giếng sâu từ 30 mét trở lên...Giếng cạn dễ bị ô nhiễm hơn giếng sâu. Như nước sông, nước giếng tự nó cũng không hoàn toàn tinh khiết trong lành. Các loại vi khuẩn, như E.coli, và ký sinh trùng Cryptosporidium từ phân gia súc có thể nhiễm vào đất và ngấm vào thủy cấp. Chất Nitrate có thể xuất phát từ tác động của vài loại vi khuẩn trên các chất phế thải gốc thực vật và động vật, cũng như Nitrate từ phân bón hóa học tan trong nước mưa và sau đó nhiễm vào nước giếng. Các hóa chất nông dược, thuốc trừ sâu, và thuốc diệt cỏ đều là những mối đe doạ cho nước giếng. Tính chất và độ trong lành của nước giếng cũng rất thay đổi tùy theo nơi. Có nơi nước giếng có thể chứa một tỉ lệ muối Calcium, Magnesium và chất sắt (Fe) khá cao. Người ta gọi đây là nước cứng (hard water), uống không ngon, giặt rửa quần áo cũng khó sạch vì làm savon ít tạo bọt được. Nước nặng vì chứa nhiều muối khoáng nên thường làm đóng quầng bồn tắm và lavabo. Để giải quyết vấn đề nầy, người ta phải dùng một loại máy để khử bớt chất khoáng cho nước trở nên mềm (soft water) rồi mới xài...Đôi khi nước giếng có mùi hôi thum thủm như trứng gà ung. Hiện tượng này do nước chứa quá nhiều chất lưu huỳnh (sulfur) hoặc do khí hydrogen sulfide (H2S) tạo nên bởi một số vi khuẩn. Mỗi năm, mẫu nước giếng cần nên được gởi đi xét nghiệm về mặt hóa học và vi trùng học. Để bảo vệ sức khỏe, tốt hơn hết là nên đun sôi nước giếng rồi hãy uống!
Lạy Trời Mưa Xuống Lấy Nước Tôi Uống  Tại nông thôn VN cũng như tại các quốc gia đang phát triển, nước mưa thường được người dân hứng lấy để uống. Riêng tại Canada, người viết chưa bao giờ nghe ai nói đến việc uống nước mưa hết. Xét cho kỹ thì nước mưa thật sự không hoàn toàn tinh khiết như mọi người lầm tưởng...Nước bốc hơi từ ao hồ, sông rạch và bể cả, tạo thành mây. Từ trên cao mưa rớt xuống xuyên qua biết bao là tầng lớp không khí đầy bụi bậm, rồi rớt lên mái nhà, chảy vào máng xối đầy chất bẩn. Đó là chưa kể vô số chất ô nhiễm từ khói xe hơi, từ các ống khói ở các khu kỹ nghệ vv…quyện vào mây và nhiễm vào nước mưa. Nước mưa cũng có thể nhiễm khuẩn như bất cứ loại nước nào khác. Nước mưa thuộc loại nước mềm, nhờ chứa ít muối khoáng nên nó rất thích hợp để dùng pha trà hoặc để tưới hoa kiểng trong nhà. Để cẩn thận, nước mưa cần được đun sôi trước khi uống! 
Những Máy Lọc Nước Tại Nhà
Để giải quyết phần nào vấn đề ô nhiễm của nước uống, bạn cũng có thể sử dụng các máy lọc hiện có bán trên thị trường. Mỗi loại máy đều có tính chất và đặc điểm riêng rẽ, và giá cả cũng khác biệt nhau. Không có điều luật nào của chính phủ chi phối và kiểm soát sự công hiệu của các loại máy nầy hết. Chúng ta chỉ còn biết trông cậy vào những lời quảng cáo mà thôi. Nhưng có một điều chắc chắn, là nếu sử dụng không đúng cách và không năng chùi rửa, tẩy trùng thường xuyên các bộ phận chứa nước thì chắc chắn rong rêu và vi khuẩn sẽ bám đầy trong đó và máy lọc sẽ trở nên một ổ chứa vi trùng khổng lồ mà thôi.
Kết LuậnThật ra sống tại Canada và Hoa kỳ thì vấn đề nước uống cũng không đến đổi nào tệ lắm. Chính người viết đôi khi cũng uống nước robinet ở nhà. Lúc đi chơi xa thì dùng nước chai cho nó tiện. Ở sở, ở hãng thì có bình nước tự động. Tại các công viên, trong hội trường, trường học hoặc các nơi công cộng cũng thường có các vòi nước để cho mọi người uống giải khát miễn phí, uống hơi hôi ten một chút nhưng chã sao. Chúng ta đi ăn tiệm, ly nước đá lạnh mà mình uống trong bữa ăn chắc chắn cũng là nước robinet mà thôi. Nếu bạn không ưa “gu”, ưa mùi của nước máy, không tin tưởng và tín nhiệm các nhà máy lọc của chính phủ, và nhất là để được an tâm khỏi hồi hộp thì bạn nên uống nước chai hoặc nước lọc cho chắc ăn! Còn muốn tiết kiệm và nếu siêng thì mỗi ngày bạn hãy nấu vài ấm nước đổ vào bình chứa và đem cất trong tủ lạnh để uống dần. Đây là phương pháp rẻ tiền và an toàn nhất tuy có hơi mất công đôi chút. Riêng tác giả và chắc cũng như một số các bạn ở nhà đều có máy làm lạnh nước. Mỗi tháng chịu khó khệ nệ xách bình không ra chợ để đổi lấy bình nước đầy đem về, rồi ì ạch khiên vô nhà, rồi hì hục khiên đặt lên máy, chỉ tội nghiệp cho cái thân già lụ khụ thêm một tí nữa mà thôi!
 Nước máy, nước chai đều là nước cả...Uống nước nào, đó là tùy theo sở thích và quyền lựa chọn của mỗi người./.
Tài liệu tham khảo:
- Questions et réponses sur l’eau embouteillée, Santé Canada.
- Contaminants dans l’eau des puits, Santé Canada.
- Protégez vous, No Juin 1999.
- Bottled water, to drink or not to drink? Iowa State University.
- Drinking water quality & Health, Colorado State University.
- Bottled water: Better than the Tap? By Anne Christiansen Bullers, FDA Consumer Magazine, July 2002.
- Bottled water: New Trends, New Rules.by Victor Lambert, FDA Consumer Magazine.
- JAMA, Oxygenated Water and Athletic Performance, vol. 290 No.18,Nov12, 2003.
- PasseportSanté.net,  Eau en bouteille ou eau filtrée, sept 2005.
- CBWA, Frequently asked quesions
 www.cbwa-bottledwater.org

Montreal , Dec 2 , 2006    
Nguyễn thượng Chánh, DVM