Linh hồn và cõi âm
-Bài viết của bác sĩ Bùi Duy Tâm
BS Bùi duy Tâm là một người rất quen thuộc với giới trí thức , sinh viên
của Huế . Trước năm 1975 , ông có một thời gian làm khoa trưởng Đại Học
Y khoa Huế . Đó là một người rất đặc biêt và khác thường , thể hiện
bằng một số việc làm khác người ở trương ĐH Y khoa Huế như :
- thay hình tượng ông Tổ ngành Tây Y Hippocrate bằng Ông
Tổ ngành Y Việt nam Hải Thượng Lãn Ông - Lễ tốt nghiệp Bác
sĩ Y khoa Huế : thay vì sinh viên ra trường mặc toge
truyền thống , lại thay bằng áo dài xanh , khăn đóng
- Khuyến khích làm luận án Tiến sĩ Y khoa bằng đề taì Y học
Đông phương ( như Hà thúc Như Hỉ - em GS Hà như Chi - với luận án về hệ
thống huyệt đạo trên cơ thể con người .... - và một số vụ
việc trong nội bộ khác ... Sau một thời gian ngắn , chức khoa
trưởng ĐH Y Khoa Huế được trao cho BS Lê bá Vận cho đến năm 1975
) ( Bài " Linh hồn và cõi âm " được lấy từ nguồn : trang
Web www. saigonocean.com
( ở hải ngoại ) , số tháng 6 / 2011 ) Linh Hồn Và
Cõi Âm Bùi Duy Tâm Người ta đã sinh ra thì tất sẽ
chết. Nên mọi người đều rất quan tâm và đa số sợ chết. Do đó sinh ra các
triết nhân và triết thuyết về cái chết, các thánh nhân và tôn giáo về
thiên đàng, địa ngục, các mê tín dị đoan về ma quỷ. Chúng tôi cũng như
mọi người thường suy nghĩ về Cái chết, về Linh hồn, về Cõi đời sau khi
chết nhưng hơi nhiều hơn mọi người. Tôi, Bùi Duy Tâm, sinh ra trong một
gia đình ba đời theo Đạo Thiên Chúa, đã đọc Thánh Kinh (Cựu Ước và Tân
Ước) ba lần, đi nhà thờ rất đều mỗi sáng chủ nhật cho đến năm 30 tuổi.
Sau này làm bạn tâm giao với cố Linh mục Bửu Dưỡng và Hoà thượng Thích
Mãn
Giác, nên tôi có điều kiện đàm luận về Thiên Chúa Giáo và Phật Giáo.
Tôi đã được hiểu cái tinh tuý của Lý Dịch và Đạo Nho với cố Bác sĩ
Nguyễn Văn Ba. Tôi đã đọc rất kỹ các cuốn Tử Thư của Ai Cập và Tây Tạng
cũng như nhiều sách khác cùng loại. Tôi đã sang Ai Cập, Ấn Độ, Tây Tạng…
để tìm hiểu thêm về Huyền Bí Học và Siêu Hình Học. Nhưng tất cả đều mù
mờ về “Linh hồn” và “Cõi đời sau khi chết”. Không có đủ chứng cứ cụ thể
có thể thuyết phục tôi. Tôi không chấp nhận các giáo điều của chính trị
và tôn giáo. Tôi không yên tâm với tín ngưỡng và chán ngấy các loại sách
viết huyên thuyên xích đế chẳng có gì cụ thể. Tôi trở thành một
người theo phái bất khả tri: “Con người nhận biết thế giới và
vũ trụ với khả năng rất giới hạn nên không thể biết được sự tuyệt đối
về Thượng Đế, Linh hồn và Cõi đời sau khi chết”.Và như vậy, việc nghiên
cứu tìm hiểu sự hiện hữu của Linh hồn và Cõi Âm của tôi chưa đi đến đâu
cả, chưa thấy một sự kiện gì đủ thực tế để bấu víu. Đầu thế kỷ 21, tình
cờ cầm tờ Y Tế Nguyệt San số 5, tháng 5, 2001 của Hội Y Sĩ Việt Nam tại
Hoa Kỳ và đọc bài viết “Thế giới vô hình và việc tìm kiếm mồ mả ở Việt
Nam” của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên (nguyên Phó thủ tướng đặc trách Văn hoá,
Giáo dục, Y tế, Xã hội thời Việt Nam Cộng Hoà). Trong bài báo, Bác sĩ
Viên tả lại việc tìm mộ gia đình của Kỹ sư Trần Lưu Cung (nguyên Tổng
giám đốc Giáo dục kỹ thuật và Thứ trưởng
Đại học thời Việt Nam Cộng Hoà) do hướng dẫn của các nhà ngoại cảm (ông
Ngà, cậu Liên, cậu Nguyện…). Các nhà ngoại cảm tìm mộ đều nói chính
vong linh của người quá cố đã chỉ cho họ những chi tiết để hướng dẫn gia
đình tìm mộ. Đặc biệt trong bài báo, Bác sĩ Viên còn đề cập đến bài tự
thuật “Tôi đi gặp người thân đã mất (vong) tại nhà cô Phương ở Bắc cầu
Hàm Rồng tỉnh Thanh Hoá. Ông Nguyễn Hùng Phong. Ông Phong đã tường thuật
lại việc ngày 16-12-1999 đến nhờ cô Phương giúp cho được gặp lại vong
linh của vợ là bà Vũ Thị Hạnh, nguyên Trưởng phòng Giáo dục quận Hoàn
Kiếm, thành phố Hà Nội, đã mất đột ngột tại nơi làm việc tháng 3 năm
1999 do bệnh tim... Sau khi đọc xong bài báo, tôi mừng quá, liền gọi
điện
thoại ngay cho ông Trần Lưu Cung. Ông Cung xác nhận sự kỳ diệu của việc
tìm mộ và còn gửi cho tôi xấp tài liệu riêng của gia đình kèm theo rất
nhiều hình ảnh.Như vậy là đề tài “Linh hồn và Cõi âm” đã có cơ hội hé mở
sau bao thất vọng. Còn đợi gì nữa mà không về Việt Nam , đến cầu Hàm
Rồng để tìm gặp cô Phương cho ra nhẽ? *Tháng 10 năm 2003 tôi về Hà Nội
để làm lễ Cửu Tuần Đại Thọ cho mẹ tôi. Tới Hà Nội đêm hôm trước, thì
sáng sớm hôm sau tôi lên đường đi Thanh Hoá để gặp cô Phương. Tôi mời mẹ
tôi đi cùng, lấy cớ đưa mẹ đi Sầm Sơn để ôn lại các kỷ niệm xưa. Trước
khi rời Hà Nội, mẹ con tôi ghé lại tiệm may áo dài. Tôi mang từ Mỹ về
xấp vải nhung đỏ để may cho mẹ một áo dài mặc trong lễ
Cửu Tuần Đại Thọ sắp tới. Trên đường đi Thanh Hoá, tôi ghé vào em Bùi
Duy Tuấn nhằm cầu xin cha tôi (mất năm 1990 tại Sài Gòn) về điện cô
Phương, cầu Hàm Rồng để các con và mẹ được gặp cha. Chúng tôi không dám
nói với mẹ mục đích của chuyến đi vì mẹ tôi sùng Đạo Chúa (Tin Lành),
không chấp nhận những chuyện “ma quỷ” như vậy. Khi đến nơi, hai anh em
tôi thấy quang cảnh đúng như trong bài báo của Bác sĩ Nguyễn Lưu Viên:
Khoảng 30-40 người ngồi im lặng, nghiêm chỉnh, có vẻ lo âu chờ đợi trước
một cánh cửa đóng kín. Một người đàn bà (sau này tôi biết là chị chồng
cô Phương) dáng mập ngồi chắn trước cửa, thỉnh thoảng hô lên “Nhà ai có
vong tên… thì vào”. Thế là vài ba người hay dăm bảy người mừng rỡ hấp
tấp đi vào… Chúng tôi mời mẹ vào ăn sáng tại một nhà nghỉ khá lớn ở
ngay trước điện cô Phương (nhà nghỉ này của nhà chồng cô Phương tiếp các
khách ở xa đến phải chờ đợi vong nhà mình có khi tới ba ngày, cả tuần
lễ hay đôi khi thiếu may mắn không gặp được vong, đành phải ra về tay
không). Hai anh em tôi lén đi thắp nhang trước điện để cầu khẩn cha tôi
về theo thủ tục như mọi người. Thỉnh thoảng cửa hé mở để dăm ba người đi
ra. Người thì tỏ ra hớn hở. Người thì nước mắt sụt sùi. Tôi sốt ruột đi
hỏi xem có phải đăng ký hay làm thủ tục gì nữa không, thì mọi người đều
xác nhận không phải làm gì cả, mà cứ kiên nhẫn ngồi chờ. Khi vong nhà
mình về thì người ta gọi vào.Tôi thắc mắc là tôi chưa khai tên của
cha tôi thì ai biết mà gọi. Mọi người cười, chế nhạo tôi là hỏi thật
ngớ ngẩn! Chúng tôi chờ từ 10 giờ sáng đến ba giờ chiều thì người đàn bà
ngồi trước cửa đứng lên nói to: “Cô Phương nghỉ làm. Xin mời quý vị
ngày mai trở lại”. Thế là anh em tôi ngao ngán cùng với vài ba chục
người đứng dậy ra về. Chúng tôi đưa mẹ ra Sầm Sơn nghỉ ngơi và thăm lại
cảnh xưa chốn cũ. Thật cảm động khi trở về nơi mà tôi đã sống những ngày
thơ ấu cách đây hơn nửa thế kỷ (gần 60 năm).Sáng hôm sau chúng tôi trở
lại điện cô Phương. Lần này chúng tôi phải thú thật với mẹ chuyện hai
anh em đang làm. Mẹ tôi dẫy nảy lên: “Đến chỗ ma quỷ! Tao không vào
đâu!”. Chúng tôi lại phải đành mời mẹ ngồi ăn sáng ở nhà nghỉ như ngày
hôm trước.. Lần này tôi sốt ruột lắm rồi. Tôi đi ra đi vào, hỏi chuyện
người này người nọ. Tôi gặp bố mẹ chồng cô Phương. Ông Nghinh (bố chồng)
mời tôi uống nước, đang kể chuyện cô Phương thì bỗng nghe có tiếng gọi:
“Bà Tỉnh đâu, người nhà ông Tỉnh đâu?” (cha tôi tên là Bùi Văn Tĩnh,
nhưng vì nói giọng Thanh Hoá nên nghe gọi tên là Tỉnh). Phải gọi đến vài
ba lần thì anh em tôi mới biết là gọi mình. Tôi chạy tới cánh cửa. Em
Tuấn chạy ra hối hả gọi mẹ: “Mợ ơi, Cậu về gọi mợ đấy!”. Mẹ tôi hốt
hoảng đứng bật dậy chạy theo em tôi, quên mất lập trường chống ma quỷ
của mình. Qua cánh cửa, chúng tôi bước vào một căn phòng khá rộng rãi,
trống rỗng. Ngoài cái bệ trên tường để trái cây và các phong bì (chắc là
tiền thưởng), thì không có bàn thờ hay trang trí gì khác của một cái
am, cái điện. Cô Phương ăn mặc diêm dúa như các cô gái Hà Nội, mặt hoa
da phấn, đang ngồi tỉnh táo trên chiếu cùng với một gia đình đông trên
chục người. Cô cất tiếng: “Gọi mãi mà các bác không vào, nên vong nhà
khác tranh vào trước. Thôi, các bác vui lòng ngồi chờ nhé!” Thế cũng
tốt, chúng tôi có dịp được quan sát thêm. Cô Phương gọi tên hết người
này đến người nọ trong gia đình ngồi chung quanh cô. Khi gọi trúng tên
ai thì giơ tay thưa: “Dạ, con đây (hay em đây, cháu đây…)”. Và người đó
nói chuyện với vong (qua miệng cô Phương). Tôi nghe thấy đa số trả lời:
“Dạ, đúng vậy…” có vẻ cung kính lắm. Có một chuyện cười ra nước mắt.
Vong gọi: “Thằng Thanh
đâu?”. Một thanh niên chừng 25 tuổi đứng bật dậy: “Dạ, con đây!”. Vong
nói: “Mày không biết thương vợ con. Mày tằng tịu với con Mai ở cùng cơ
quan”. Chàng thanh niên sợ hãi líu ríu nhận tội. Người phụ nữ ngồi cạnh
(chắc là vợ) oà lên khóc nức nở. Sau gần một giờ, gia đình đó mới kéo
nhau ra. Bỗng cô Phương nhìn chằm chằm vào mẹ tôi rồi kêu to lên: “Mợ
ơi! Con của Mợ đây! Thắng đây! (Thắng là đứa em út của chúng tôi, mất
lúc chưa đầy một tuổi).Mẹ tôi vừa xúc động vừa ngạc nhiên: “Trời ơi! Con
tôi… Nhưng con mất từ hồi mới… tám tháng…” Vong nói qua miệng cô
Phương: “Bây giờ con lớn rồi. Hôm qua con biết Mợ và hai anh đến, nhưng
con phải đi mời Cậu. Cậu không chịu về. Con phải nói: Mợ già yếu, còn
anh
Tâm ở xa về nên Cậu mới chịu. Cậu và Ông Nội cũng về đây với con” Rồi
quay sang phía hai anh em tôi, cô Phương nói: “Hai anh chẳng nhớ gì đến
em. Hai anh chỉ khấn Cậu thôi!”.Đúng vậy! Chúng tôi đâu có nghĩ đến
thằng em út đã mất từ lúc tám tháng. Thật bất ngờ cho chúng tôi.Quay trở
lại mẹ tôi, cô Phương nói: “Con thích tên là Bùi Duy Thắng như các anh
con là Bùi Duy Tâm, Bùi Duy Tuấn. Sao Mợ lại đặt tên con là Bùi Tất
Thắng?”. Mẹ tôi luống cuống: “Tại bố con đấy! ”. (Hồi đó cả nhà trách bố
tôi vì đặt tên thằng út là Tất Thắng. Tất còn có nghĩa là hết, tức là
chết. Nên nó mới mất sớm. Nhân tiện tôi nói thêm là việc đặt tên rất
quan trọng, còn quan trọng như thế nào thì tôi không biết. Nhưng tôi có
biết
ông Đỗ Trí ở Sơn Tây có tài chỉ cần đọc tên là ông biết con người ấy
như thế nào, như xem chỉ tay hay số tử vi vậy.) Vong em tôi nói tiếp qua
cô Phương: “Thôi, Mợ đã khắc tên con trên bia mộ rồi!”Đúng thế. Tên em
tôi đã được khắc trên bia mộ, nằm cạnh ông bà ngoại tôi trong nghĩa
trang Bất Bạt.Đến lượt bố tôi vào. Vong bố tôi qua thân xác cô Phương
nắm tay mẹ tôi, rồi nói: “Hơn mười năm rồi mới gặp lại bà. Tôi nhớ bà
lắm…”. Mẹ tôi khóc nức nở. Chúng tôi cũng khóc. Bố tôi bỗng trách đùa mẹ
tôi: “Bà diện lắm! Mới đi may áo đỏ…” Trời ơi! Sao bố tôi biết nhanh
thế? Trong gia đình tôi đã có ai biết chuyện may áo đỏ của mẹ tôi đâu!
Tôi mới về Hà Nội tối hôm trước thì sáng hôm sau trên đường đi
Thanh Hoá ghé qua tiệm may, bỏ xấp vải nhung đỏ để may áo cho mẹ kịp
mặc vào Lễ Đại Thọ. Mẹ tôi đương líu ríu chống chế thì bố tôi bồi thêm
một câu đùa yêu tiếp: “Bà còn muốn tô son đánh phấn nữa!” Mẹ tôi rên rỉ:
“Cái gì ông cũng biết! Đúng rồi! Tôi vừa xin con cháu Trinh Hương, con
gái anh Minh, một chút son phấn để hôm Lễ Đại Thọ thoa một chút. Mặt mũi
răn reo quá, sợ thằng con trai cả của ông nó ngượng với bạn bè”.
(Chuyện này mẹ tôi giấu kín mọi người, trong khi anh em tôi không hay
biết gì, thế mà bố tôi cũng biết!)” Rồi cô Phương quay sang tôi: “Tâm
ơi! Cậu buồn quá vì chuyện con Hà nhà con. Nó lôi thôi với chồng nó thì
chỉ khổ cho ba đứa con thôi”. (Hà là con gái tôi. Chuyện của nó mới xảy
ra trước khi tôi
về Hà Nội. Vợ chồng tôi nghe phong phanh, nhưng chưa có dịp trao đổi
với nhau. Thế mà mọi chuyện người Âm đều biết, không giấu giếm được!)
Một lúc sau thì ông nội tôi về. Qua miệng cô Phương: “Tao là Bùi Văn
Khanh, ông nội đây. Cả bà nội Nguyễn Thị Ngọt cũng về đây!”Tôi vội thưa:
“Thưa Ông, con nghe anh Đại con cô Hai nói tên Ông là Khánh, nhưng lâu
ngày trên giấy khai sinh của Bố con mất dần dấu sắc, nên đọc là Khanh”
(cô Hai là chị ruột bố tôi.) Ông nội tôi gắt lên: “Tên tao là Khanh, chứ
không phải là Khánh”. Rồi quay sang mắng mẹ tôi: “Chị về làm dâu nhà
tôi mà không đoái hoài mồ mả tổ tiên nhà chồng. Từ ngày cưới chị, chị
chỉ về quê nội có một lần!”.Mẹ tôi sợ hãi chống chế: “Gia đình con ở Hà
Nội, Hải Phòng. Quê nội ở mãi Bái Đô, Lam Kinh – Thanh Hoá, nên đi lại
khó khăn. Và, con sinh con đẻ cái đều đều ba năm hai đứa nên không về
thăm quê được. Con xin nhận tội với ông bà”. Cứ như thế trong 90 phút
vui buồn, khóc lóc...Hai anh em tôi và mẹ hớn hở ra về. Có lẽ vì cao
hứng nên chúng tôi ghé thăm nhà thơ Hữu Loan, người bạn cũ ở Thanh Hoá.
Đáng nhẽ về thẳng Hà Nội, nhưng chắc còn luyến tiếc những giờ phút quý
báu xúc động buổi sáng đó nên chúng tôi quay trở ngược lại cầu Hàm Rồng
để chụp ảnh với cô Phương. Kỳ này mẹ tôi không phản đối nữa mà còn hăm
hở muốn gặp cô Phương. Cô Phương vui vẻ cho biết thêm: “Cụ ông lại vừa
về cho biết đã đăng ký chỗ dạy học cho bà rồi”Lại thêm một ngạc
nhiên: Mẹ tôi vốn là một giáo viên hồi hưu. Ngày xưa, mẹ tôi là người
đàn bà Tây học. Khi lấy chồng, sinh con thì ở nhà. Khi các con khôn lớn
thì bà mới đi dạy lại vì sự khuyến khích của bố tôi. Thôi, không còn
nghi ngờ gì nữa. Đúng là vong linh của bố tôi rồi! Lúc nào bố tôi cũng
muốn mẹ tôi sử dụng cái tri thức của mình. Ngày hôm đó là ngày trọng đại
của đời tôi. Tôi thấy cụ thể sự hiện hữu của Linh hồn và cõi âm. Dù cho
sau này cô Phương có nói bậy gì đi nữa, các cô gọi hồn khác, các nhà
ngoại cảm khác đôi khi có nói bậy vì mưu sinh thì kết quả của ngày hôm
đó vẫn không thể chối cãi được, nếu không nói là được tuyệt đối chấp
nhận. Khác nào như ta cố gắng gọi điện thoại cho người thân, đường dây
rất khó
khăn, rất xấu, nhưng chỉ một lần thôi ta nghe rõ tiếng người thân trò
chuyện với ta về những chuyện gia đình mà người ngoài không thể biết
được, thì cũng khá đủ cho ta biết rằng người thân của ta vẫn tồn tại.
Tuy ta không nhìn thấy được vì giới hạn của ngũ quan, nhưng người thân
quá cố của ta vẫn tồn tại với các ký ức, với các kỷ niệm dưới một dạng
nào đó mà ta không biết, ta tạm gọi là “Linh hồn”, trong một thế giới
nào đó mà ta cũng không biết, tạm gọi là “cõi âm” (để phân biệt với cõi
Dương mà ta đang sống) hay theo kiểu Tây Phương gọi là “Cuộc đời sau khi
chết” (“Life after death”) Sau này mỗi lần về thăm quê hương, tôi đều
đưa mẹ tới gặp cô Phương. Lần sau cùng mẹ tôi gặp cô ấy là cuối năm
2005. Khi
đó mẹ tôi vẫn còn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn. Trước khi ra về, cô Phương nói
nhỏ với tôi: “Cụ ông nhớ bà lắm. Cụ ông sắp đưa bà về rồi.. Một cách
bình yên”. Ít lâu sau, mẹ tôi mất rất nhanh. Sau này tôi có gặp nhiều
nhà ngoại cảm khác ở Việt Nam, họ cũng có khả năng như cô Phương – cô
Bằng, cô Thao, cô Mến trên đường từ Hà Nội qua Hải Dương đến Hải Phòng.
Tôi cũng đã gặp các nhà ngoại cảm tìm mộ như Cậu Liên, anh Nguyễn Khắc
Bảy, cô Phan Thị Bích Hằng… Tôi cũng đã gặp các nhà khoa học nghiên cứu
về tâm linh như TS Nguyễn Chu Phác, GS Ngô Đạt Tam, GS Phi Phi, TS Ngô
Kiều Oanh… làm việc ở các cơ quan khác nhau. Tôi đã được đọc câu kết
luận của một tài liệu ở Việt Nam (không phổ biến công khai) như sau:
“Thế giới tâm
linh là có thật. Đó là một thực tế khách quan cần được các nhà khoa học
nghiên cứu nghiêm túc. Chúng ta hãy bình tĩnh, khách quan lắng nghe
những lời nhắn nhủ từ thế giới tâm linh để có cuộc sống nhân ái hơn,
lương thiện hơn”. Bùi Duy Tâm [ Nguồn : Trang Web :
Saigonocean.com ( ở hải ngoại ) , số tháng 6 / 2011 ] .
My blog is a gift for THANKSGIVING my parents/family, my teachers/collagues and my students/clients
Thứ Bảy, 21 tháng 12, 2013
Chủ Nhật, 18 tháng 8, 2013
2013 Triết học Mác qua thời gian..
Triết học Mác qua thời gian..
Cần một nền tảng triết lý tốt cho Trung Cộng Và Việt Nam
Sau gần 100 năm áp
dụng lý thuyết Mác, hậu quả là cả trăm triệu người chết: chết không phải chỉ vì
chống đối lý thuyết này, chống đối đảng cộng sản, mà chết nhiều nhất lại là sự
thanh trừng trong nội bộ đảng, rồi mới tới số người chết ở ngoài đảng, ngoài quốc
gia cộng sản.
Cali Today News - Trung cộng và Việt Nam, trên bình diện quốc
nội, thì không thể nào có một sự phát triển đúng mức, có thể huy động tất cả
những tiềm năng nhân sự quốc gia và một sự hài hòa xã hội; trên bình diện quốc
tế, thì không thể nào có được một sự hòa bình, không những với những nước láng
giềng, mà còn với cả thế giới; nếu hai nước còn giữ nền tảng triết lý sai trái
Mác Lê. Vì vậy 2 nước này cần phải thay đổi triết lý này bằng một nền tảng
triết lý đúng, dựa trên sự tự nhiên, bình thường của con người, trên những giá
trị nhân bản, toàn cầu.
Lý thuyết triết học Mác sai trái
và lỗi thời
Sau gần 100 năm áp dụng lý thuyết Mác, hậu quả
là cả trăm triệu người chết: chết không phải chỉ vì chống đối lý thuyết này,
chống đối đảng cộng sản, mà chết nhiều nhất lại là sự thanh trừng trong nội bộ
đảng, rồi mới tới số người chết ở ngoài đảng, ngoài quốc gia cộng sản.
Chỉ riêng điều này đã minh chứng quá rõ,
quá đủ sự sai trái của triết lý Mác.
Triết lý, định nghĩa một cách đơn giản và
bình dân, là cách tự nhìn mình, nhìn người, nhìn xã hội, nhìn vạn vật, để sau
đó tìm ra một cách sống, một quan niệm sống tốt đẹp nhất, hài hòa nhất, với
chính minh, với người chung quanh. Điều này đúng với cá nhân và đúng với cả một
tập đoàn, quốc gia xã hội.
Từ đó, chúng ta đi đến một nhận xét là triết lý
Mác sai trái, không tốt, cho cá nhân và cho quốc gia xã hội. Nó có tính cách
bệnh hoạn, nhìn sai sự vật, không giúp cho con người phát triển, không những
không đúng mức, mà còn không hài hòa, tự mâu thuẫn với chính mình và mâu thuẫn
với người chung quanh.
Thật vậy, triết lý của Marx không những vô
cùng không tưởng, mà còn sai trái, phản con người, phản thiên nhiên, phản sự
thật, lấy cái bất bình thường làm cái bình thường, làm đảo lộn tất cả những gì
thuộc về con người, làm cho những người theo lý thuyết này không còn là con
người, mà là người đến từ hành tinh khác, chỉ mang trong đầu óc ý nghĩ “ Phải
đập phá tất cả những cái gì thuộc về hành tinh con người “, như nhà văn hào
đoạt giải Nobel Nga Soljennytsine đã nhận xét.
Triết lý, quan niệm về lịch sử, về xã hội của
Marx, có thể nói, đã được tóm gọn khá đầy đủ trong quyển sách Tuyên Ngôn Thư
Đảng Cộng sản. Tuy nhiên Marx viết quyển sách này lúc còn rất trẻ và trong một
thời gian rất ngắn, chỉ có mấy tuần.
Thật vậy, vào năm 1847, một số tổ chức, hội đoàn
đấu tranh cho xã hội, thợ thuyền đã nhóm họp Đại Hội ở Luân Đôn, mà người ta
cho đây là tiền thân của Quốc tế Cộng sản sau này.
Lúc này, Marx đã phải sống cuộc đời tỵ nạn ở Bỉ
( Bruxelles), vì hoàn cảnh tiền bạc, gia đình, không thể tham dự, người đại
diện cho Marx là Engels. Trong Đại hội, Engels được chỉ định làm thư ký, ghi
chép tất cả những phát biểu của những đại biểu, sau đó bản ghi chép được đưa
cho Marx, để viết bản tuyên ngôn. Marx cứ chần chờ không viết, mặc dầu có nhiều
lời thúc dục của ban thư ký Đại hội. Cuối cùng ban này đã cảnh cáo Marx, nếu
không viết thì hãy trao bản ghi chép lại, để người khác viết. Lúc Đó Marx mới
bắt đầu viết vào cuối năm 1847, trong ba tuần, sau đó được xuất bản ở Anh, vào
năm 1848.
Điều này chứng tỏ Marx rất thông minh. Đó là
điểm đáng khen. Nhưng điểm đáng trách đó là viết quá vội vã, ở vào một tuổi quá
trẻ, 29 tuổi, vì Marx sinh năm 1818, chưa đủ kinh nghiệm, suy nghĩ chín chắn,
viết có tính cách lãng mạng, không tưởng, hứng khởi, nhiệt tình, hơn là suy
nghĩ, kiểm chứng, có tính cách khoa học, mặc dầu Marx tự nghĩ và cho rằng những
điều mình viết ra là khoa học.
Không cần tìm đâu xa, chỉ cần xem câu mở
đầu của bản Tuyên Ngôn: “ Lịch sử của tất cả mọi xã hội từ xưa đến nay là lịch
sử của đấu tranh giai cấp. “ ( L’Histoire de toute socìété jusqu’à nos jours
est l’histoire de la lutte des classes) ( K. Mars – Le manifeste du Parti
communiste – trang 19 – Nhà xuất bản Union générales d’ Editions – Paris
-1962).
Ở vào tuổi chưa đầy 30, dù có thông minh
đến mấy chăng nữa, chắc chắn Marx cũng không thể nào đọc hết lịch sử của tất cả
những xã hội nhân loại. Đây là đơn giản hóa, tổng quát hóa lịch sử. Thêm vào
đó, Marx đưa ra định luật « Đấu tranh giai cấp, bạo động lịch sử «, chia xã hội
ra làm 2 giai cấp, giai cấp sở hữu phương tiện sản xuất và giai cấp không có
phương tiện sản xuất, biến xã hội thành một cuộc chiến không ngừng.
Quan niệm bạo động lịch sữ là quan niệm lấy cái
gì bất bình thường làm cái bình thường. Con người nói riêng và ngay một quốc
gia, xã hội nói chung, bình thường là họ sống hòa bình. Chỉ khi nào bất đắc dĩ,
bất bình thường, họ bị bắt buộc chấp nhận bạo động và muốn chiến tranh.
Tiếp đến là triết lý duy vật biện chứng
của Marx. Thực ra thì Marx lấy tòan phần tư tưởng biện chứng lịch sử (
Dialectique historique) của Hégel, chỉ khác ở chỗ là Hégel áp dụng cho tư
tưởng, còn Marx áp dụng cho kinh tế, xã hội.
Chữ biện chứng ( Dialectique) lấy nguồn từ chữ
Hy lạp ( Dialegein) có nghĩa lúc đầu là nói chuyện, lý luận, nghệ thuận nói
chuyện, nghệ thuật lý luận, gồm có Đề, Phản Đề và Tổng Đề ( Thèse, Anti these
et Synthèse), được Socrate dùng để nói chuyện với dân, nêu ra những mâu thuẫn
của người đối thoại, nhất là giới bình dân, để gợi ý cho họ, để làm cuộc đối
thoại trở nên phong phú, tiếp đó là được những người của trường phái hùng biện
và ngụy biện dùng để nói lên sự mâu thuẫn của đối phương, để tìm cách chiến
thắng họ.
Sau này được Hégel áp dụng cho tiến
trình tư tưởng, cho rằng tư tưởng đi từ Đề tới Phản Đề rồi tới Tổng Đề,
và Tổng Đề lại trở thành Đề, có một Phản Đề khác chống lại, để đi đến Tổng Đề.
Cứ như vậy, tư tưởng con người đi từ chỗ chủ quan đến chỗ khách quan.
Hégel còn mang áp dụng cho tiến trình lịch sử, nhưng vẫn trong lãnh vực
tư tưởng. Còn Marx thì lấy tất cả tiến trình lịch sử này của Hégel, nhưng áp
dụng cho vật chất, cho đấu tranh giai cấp, mà Marx gọi là Duy vật biện chứng.
Có thể nói triết học Tây phương đã từ bỏ vai trò
khiêm nhượng ( l’humilité ) của mình, mà tiêu biểu là Socrate ( 470 – 399 trước
Tây lịch ), với câu nói khiêm nhường: “ Cái điều tôi biết là tôi không biết gì
cả.” ( Ce que je sais, c’est que je ne sais rien ) để bước sang thời kỳ kiêu
hãnh ( l’arrogance), bắt đầu với Hégel ( 1770 – 1831 ) rồi K. Marx ( 1818 –
1883), học trò của Hégel, và Nietzsche ( 1844 – 1900).
Những người này không còn tính khiêm
nhường của triết học cổ điển Tây phương bắt đầu từ Socrate qua Saint Augustin
tới Kant, mà trở nên kiêu hãnh, không những cho rằng mình biết mình, mà còn
biết xã hội, lịch sử, tiến trình lịch sử, không những biết về quá khứ, hiện
tại, mà cả tương lai, qua quá trình biện chứng lịch sử của Hégel và quá trình
duy vật biện chứng lịch sử của Marx. Với Nietzsche, thì con người không còn là
con người bình thường mà là con người Siêu Nhân, qua quan niệm Surhomme của
ông.
Từ thời Hégel tới giờ, chúng ta thấy gì qua lịch
sử, nhất là lịch sử Âu châu.
Hégel đã mang quan niệm biện chứng lịch sử
của mình áp dụng cho lịch sử Âu châu, nhất là lịch sử Pháp, qua cuộc Cách mạng Pháp
1789 và tiến trình của nó. Ông cho rằng xã hội Pháp lúc đó là Đề, cuộc Cách
mạng 1789 là Phản Đề và Tổng Đề là Napoléon Bonaparte (1769 – 1821), với những
lời khen ngợi hết cỡ vị hoàng đế Pháp này của Hégel. Chính Hégel đã tìm cách
chứng kiến Napoléon, khi ông tiến quân vào Ìéna (Đức).
Kết quả Tổng hợp lịch sử của Hégel, chúng ta
thấy gì: Đó là Napoléon đã gieo rắc chiến tranh khắp Âu châu, rồi sau đó bị các
nước Âu châu hạ bệ.
Marx cũng mang quan niệm duy vật biện chứng sử
quan của mình áp dụng cho lịch sử. Ông cũng dùng lịch sử Âu châu và đặc biệt là
lịch sử Pháp như Hégel, nhưng ông cho rằng Tổng đề của lịch sử là Ba lê Công
xã. Nhưng hậu quả của quan niệm triết lý lịch sử này là ra sao?
Đó là 100 triệu người là nạn nhân của chế độ
cộng sản trong thế kỷ vừa qua, như những nhà sử gia, ông S. Courtois, N. Werth,
J. L. Panné, A. Pczkowski, B. Bartosek và J.L. Margolin, trong Quển Sách đen về
Chủ nghĩa Cộng sản ( Le livre noir du communisme – nhà xuất bản Robert Lăffont
– 1997), đã chứng minh. Cũng chính vì vậy mà gần đây Quốc Hội Âu châu đã biểu
quyết Quyết nghị 1841 kết án chế độ cộng sản là chế độ diệt chủng.
Còn quan niệm Siêu nhân của Nietzsche thì
như thế nào?
Quan niệm này đã được Hitler lấy lại, đổi
thành quan niệm Siêu Chủng tộc ( Super race) cho rằng chủng tộc Aryen là siêu
chủng tộc mà đại diện là dân tộc Đức. Kết quả : Hitler đã là một trong những
nguyên nhân chính của trận Thế Chiến thứ Hai, với 50 triệu nạn nhân, trong đó
có 6 triệu dân Do Thái bị giết từ lệnh của Hitler và các bộ hạ của ông.
Từ đó chúng ta mới nhìn rõ ra rằng quan
niệm triết học, triết lý chính trị giữ một vai trò rất quan trọng, không những
cho cá nhân, mà còn cho quốc gia xã hội, cho sự phát triển và hòa bình không
những ở nội địa, mà cả quốc tế.
Ngoài việc lấy cái gì bất bình thường làm
cái bình thường cho rằng lịch sử nhân loại là bạo động, đi theo chân Hégel,
thiếu tinh cách khiêm nhượng của những nhà triết học cổ điển trước kia, Marx
còn bị lầm lẫn là quá tin vào khoa học, không biết rằng “ Khoa học mà không có lương
tâm, chỉ là sự phá hoại của tâm hồn “ ( Science sans conscience n’est que ruine
de l’ ame ) ( Rabelais – Pantagruel), hơn nữa cho rằng những điều mình viết là
khoa học, đưa đến chỗ lừa dối những người đồ đệ và những người theo lý thuyết
của mình, khiến họ trở thành nạn nhân và đau đớn cho Marx, vì sau cùng ông cũng
là nạn nhân của chính ông.
Thật vậy, sau khi viết xong quyển Tuyên Ngôn Thư
Đảng Cộng sản, nhiều lần Marx viết và tuyên bố là sẽ tìm cho thợ thuyền một
phương tiện đấu tranh có khoa học. Marx muốn biến khoa học kinh tế, một khoa
học nhân văn, thành một khoa học chính xác. Nhưng Marx bị lâm vào ngõ cụt, làm
việc không tưởng. Đây là là một trong những nguyên nhân chính cắt nghĩa tại sao
Marx bỏ cả cuộc đời viết quyển Tư Bản luận ( le Capital), gồm 3 quyển, mà Marx
chỉ có thể hoàn thành quyển đầu nói về giá trị hàng hóa.
Nhiều người nịnh bợ Marx cho rằng ông không thể
hoàn thành quyển Tư Bản luận là vì ông thận trọng, so đo từng chữ viết một.
Không phải thế. Ông không thể hoàn thành vì ông tự đặt mình trong ngõ cụt, muốn
biến khoa học kinh tế, một khoa học nhân văn, thiếu chính xác, thành khoa học
chính xác, như toán học. Điều này còn được chứng minh them là cuối cuộc đời,
Marx đã bỏ công học hỏi và nghiên cứu toán học.
Nói đến duy vật biện chứng của Marx, mà
không nói đến qui luật tất yếu của lịch sử, thì cũng là một điều thiếu xót, vì
sự kình chống giữa giai cấp chủ và giai cấp thợ càng ngày càng trở nên
gay gắt, chỉ có thể vượt qua bằng một cuộc cách mạng bạo động, vì giai
cấp chủ càng ngày càng giàu có và càng ít, giai cấp thợ càng ngày càng nghèo và
càng đông, hố ngăn cách càng ngày càng lớn, sẽ dẫn đến cách mạng bạo động tất
yếu.
Marx viết: “ Vũ khí mà giai cấp tư sản
dùng để hạ bệ chế độ phong kiến, nay quay lại chống chính họ. Giai cấp tư sản
không những tạo ra những vũ khí chống họ, mà họ còn tạo ra những người xử dụng
vũ khí này: thợ thuyền hiện đại, giai cấp vô sản.” ( K. Marx – Sách đã dẫn –
trang 27).
Suốt cuộc đời Marx ngồi chờ đợi cách mạng
tất yếu, lúc đầu hy vọng nó sẽ xẩy ra ở Anh, sau đó quay sang hy vọng ở Đức,
rồi Marx chết vào năm 1883, lúc 65 tuổi. 34 năm sau, Lénine làm “ Cách mạng
cộng sản “, áp dụng lý thuyết của Marx. Thực ra đây là một cuộc đảo chánh thì
đúng hơn, mà người thực hiện cuộc đảo chánh này không phải là Lénine, mà là
Trotski.
Vào lúc đó, đang là thời kỳ cuối của Đệ
Nhất Thế Chiến, gồm 2 phe: Phe Trục gồm Đức, đế quốc Áo hung và Thổ Nhĩ Kỳ; bên
kia là Phe Đồng minh, gồm Pháp, Anh, Nga, sau đó có Hoa kỳ. Càng về sau, Đức
thấy là không thể một lúc đương đầu với 2 mặt trận: mặt trận đông bắc với Nga,
và mặt trận tây nam với Pháp, muốn dồn lực lượng xuống tây nam. Lợi dụng cơ
hội, lúc đó Lénine đang sống lưu vong ở Thụy sĩ, liền tuyên bố: “ Hòa bình bằng
bất cứ giá nào. Ngay dù phải nhượng đất để có quyền, chúng ta cũng sẽ làm”.
Chính vì vậy mà Bộ Tham mưu Đức đã giúp Lénine tiền bạc, đưa từ Thụy sĩ về Nga.
Với số tiền này, Lénine đã đưa cho Trotski mở khóa huấn luyện những đội cảm tử
làm cách mạng. Và Trotski đã làm cuộc đảo chính vào tháng 10/19717. Chữ mà
Trotski dùng lúc ban đầu. Ông viết: “ Sau một đêm ngủ, thức giấc dậy, dân Moscou
đã thấy bộ mặt của thành phố thay đổi. Cuộc đảo chính làm 7 người chết và 50
người bị thương.”
Cuộc đảo chính này chẳng có sự tham dự của nhân
dân và thợ thuyền như tuyên truyền cộng sản sau này rêu rao.
Vì đi theo triết lý bạo động lịch sử, đấu tranh
giai cấp, nên ngay từ đầu trong nội bộ đảng cộng sản do Lénine lập ra, đã có
những sự đấu đá, thanh trừng lẫn nhau khốc liệt, mà nạn nhân đầu tiên là
Lénine.
Vào cuối đời, Lénine bị bệnh giang mai, do nhiều
sử gia và bác sĩ nói. Tuy nhiên vào lúc đó chưa có thuốc trụ sinh để chữa trị,
người ta chỉ dùng độc dược để giảm con đau, mỗi khi lên cơn. Người lo chăm sóc
Lénie không ai hơn là Staline. Một khi biết Lénine không còn tin tưởng mình
nữa, Staline đã cho Lénine uống quá liều thuốc, đưa đến cái chết, như lời tố
cáo của vợ Lénine. Cuộc đấu đá to lớn thứ nhì đó là giữa Trotski và Staline.
Sau cùng Trotski đã thua, đổi họ, đổi tên, chạy trốn sang Mễ tây cơ. Tuy nhiên,
Staline vẫn cho người dò hỏi, sau đó giết Trotski.
Cộng sản Tàu và cộng sản Việt Nam cũng
vậy, thanh trừng nội bộ bằng cách này hay cách khác.
Một nền tảng triết lý tốt cho Trung
cộng và Việt Nam
Người bình dân Việt Nam có câu “
Nghĩ làm sao, chiêm bao làm vậy “.
Đức Đạt Lai Lạt ma, trong một cuộc đối thoại với
một nhà thần học người Brazil, Leonardo Boff, có nói:
“Hãy suy tư cẩn thận vì Tư Tưởng sẽ biến thành
Lời Nói.
Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời Nói sẽ biến thành
Hành Động.
Hãy hành xử cẩn thận vì Hành Động sẽ biến thành
Thói quen.
Hãy chú trọng Thói Quen vì chúng hình thành Nhân
Cách.
Hãy chú trọng Nhân Cách vì nó hình thành Số
Mệnh,
và Số Mệnh của anh sẽ là Cuộc Đời của anh
Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự
Thật.”
Số mệnh là do chính anh tạo ra cho anh qua
cách suy nghĩ, lời nói và việc làm thường ngày của anh. Điều này không những
đúng với mỗi cá nhân, đối với giai tầng lãnh đạo, mà còn đúng với cả một quốc
gia, dân tộc.
Suy nghĩ, tư tưởng đây chính là khởi đầu của
triết lý. Suy nghĩ, tư tưởng, triết lý sai, thì hành động sẽ sai.
Suy nghĩ, tư tưởng, triết lý chủ trương
bạo động, thì hành động trở nên bạo động. Thêm vào đó, Marx chủ trương vứt bỏ
mọi đạo đức cổ truyền, ngay dù những giá trị cổ truyền còn có giá trị và hơn
thế nữa còn có tinh cách toàn cầu: “ Bởi lẽ đó, chủ nghĩa cộng sản loại bỏ tất
cả những chân lý muôn thuở; nó loại bỏ tôn giáo và đạo đức thay vì cải tạo nó,
nó đi ngược lại tất cả mọi sự phát triển lịch sử trước đó “ ( K. Marx Sách đã
dẫn – trang 44). Vì thế xã hội cộng sản, không còn đạo đức, kỷ cương bị đảo
lộn, con người tìm cách cấu xé lẫn nhau, những vụ chém giết nhau vì tiền, con
giết cha, giết mẹ, thầy hiếp dâm học trò, là chuyện bình thường, cũng là vì đi
theo lời dạy của Marx.
Bởi lẽ đó, quả là một điều cấp bách, đối
với những xã hội cộng sản còn lại, đặc biệt là Trung cộng và Việt nam, phải mau
chóng từ bỏ triết học Mác lê làm nền tảng cho chế độ, thay thế bằng một
nền tảng triết học khác.
Vậy đâu là nền tảng triết học mới cho 2
nước trên ?
Có người cho rằng để tạo ra một nền tảng triết
lý mới thật là khó khăn.
Không phải hoàn toàn như vậy. Chúng ta cứ xét sự
phát triển thành công, hài hòa của Nhật và những nước mới như Nam Hàn, Đài
Loan, Singapour, rồi chúng ta suy nghiệm và tìm ra triết lý nền tảng:
Kinh nghiệm của những nước phát triển Á
châu, hiện nay, bắt đầu bởi Nhật, người ta thấy rõ rằng để phát triển cần phải
có sự hài hòa giữa cũ và mới, giữa những cái tốt đẹp của truyền thống giáo dục,
đạo đức cổ truyền và sự du nhập gạn lọc những cái hay, cái đẹp của thế giới bên
ngoài. Nói một cách khác đi, chúng ta có thể ví đời sống văn hóa, văn minh của
một dân tộc như một cái cây: rễ cây là quá khứ, cần phải đi sâu vào lòng đất để
hút nhựa, thân cây là hiện tại cần phải to lớn để chuyển nhựa, cành lá là tương
lai, phải rườm rà để hút cái hay thập phương. Quan niệm vứt bỏ quá khứ như
triết lý của Marx chẳng khác nào chặt rễ cây, làm sao cây có thể sống, nói chi
đến lớn mạnh.
Ở điểm này, khi xét sự phát triển của Nhật từ
trước đến giờ, chúng ta thấy rõ nhất. Nếu nói đến quốc gia phát triển thứ nhì
thế giới, thì chính là nước Nhật, chứ không phải là Trung cộng, vì người ta chỉ
nói đến tổng sản lượng quốc gia, vì tổng sản lượng của Trung cộng là 6 988,5 tỷ
$, của Nhật là 5 855,4 tỷ, sau Hoa kỳ là 15 064,8 tỷ. Sở dĩ như vậy là vì dân
Tàu đông tới 1,353 tỷ người; trong khi dân Nhật là 128,1 triệu. Nếu tính theo
sản lượng bình quân đầu người hàng năm, thì Nhật gấp gần 9 lần Trung cộng, với
con số 45 773,8 $, trong khi Trung cộng là 5 163,9 $, Hoa kỳ là 48 147,2 $. (
Theo Le Monde – Le Bilan du Monde – Edition 2012). Hơn thế nữa, xã hội Nhật là
một xã hội phát triển về đủ mọi mặt, về vật chất và cả về tinh thần. Dân Nhật
được coi là một trong số dân có văn hóa, đạo đức nhất. Chỉ cần lấy hình ảnh của
một em bé trong trận động đất ở Fukushima vừa qua chúng ta cũng rõ. Em bé là
một trong những trăm ngàn nạn nhân, mất gia đình, mất cha mẹ, anh chị em. Em
đứng xếp hàng để được phát thức ăn, những người lớn đã thấy tội nghiệp, nhường
em. Nhưng em từ chối. Từ đó, nhìn vào Trung cộng và Việt nam hiện nay, theo
triết lý “ duy vật “ của Marx, con người coi con người như kẻ thù, cấu xé lẫn
nhau, tìm đủ mọi cách để có tiền, tham nhũng, hối lộ, làm hàng giả, đâm chém
nhau chỉ vì mấy trăm, mấy chục $, nói chi đến việc xắp hàng thứ tự.
Nhiều người, khi nói đến sự phát triển của Nhật,
chỉ nghĩ đến thời Minh trị Thiên Hoàng, lên ngôi năm 1848, và bắt đầu công cuộc
cải cách từ đây. Điều này không sai. Nhưng chưa đủ. Nước Nhật từ thế kỷ thứ 6,
với hoàng tử Shotoku ( 574 – 622), đã biết tổng hợp đạo giáo, gồm Thần giáo tức
đạo dân gian Nhật, Phật giáo và Nho giáo, trong tinh thần này là đã có sự phối
hợp hài hòa giữa cái gì của mình và cái của người đến từ những nước chung quanh
như Tàu và Ấn độ. Hơn thế nữa hoàng tử Shotoku còn cho ra đời một hiến pháp,
vào năm 604, trong đó có câu: “ Chúng ta không tất yếu là triết nhân quân tử,
và người khác cũng không tất yếu là kẻ ngu. Tất cả chúng ta là những người bình
thường. “ ( Nous ne sommes pas nécessairement des sages et les autres ne sont
pas nécessairement des sots. Nous sommes tous des hommes ordinaires). Khác hẳn
với những người tự cho mình là « Đỉnh cao trí tuệ của loài người tiến bộ «,
nhưng tụt hậu về mọi phương diện, từ vật chất đến tinh thần.
Nước phát triển thứ nhì ở châu Á phải nói
đến Nam Hàn, về cả vật chất lẫn tinh thần, vì cũng biết giữ lại những giá trị
tốt đẹp cổ truyền và đồng thời nhập cảng gạn lọc những cái gì hay của thế giới.
Tổng sản lượng của Nam Hàn là 1 163,8 tỷ$, với dân số là 49 triệu người, sản
lượng tính theo đầu người hàng năm là 23 749,2 $, gấp hơn 4 lần Trung cộng. Nam
Hàn hiện nay đứng đầu trong nhiều lãnh vực khoa học. Chỉ cần lấy lãnh vực điện
thoại cầm tay là lãnh vực khoa học cao cấp hiện giờ. Hãng Samsung đứng đầu về
con số sản xuất, sau mới là hãng Apple của Hoa kỳ, thứ ba mới là hãng Nokia của
một nước bắc Âu. Không những thế, về tinh thần, giới lãnh đạo Nam hàn được coi
là giới lãnh đạo có liêm sỉ, tự trọng và trong sạch nhất. Chỉ cần nói đến
trường hợp một vị cựu tổng thống nam Hàn, vì dính dáng tới tham nhũng, không
phải ông, mà là người nhà của ông, vói 50 000$, mà ông đã tự tử.
Từ đó nhìn sang Trung cộng và Việt Nam, giới
lãnh đạo cao cấp, có ai là không tham nhũng, không phải là 50 000 $ mà cả tiền
triệu $, tích lũy tài sản lên tới bạc tỷ $, thế mà miệng vẫn rêu rao
chống tham nhũng, chống hối lộ.
Liêm sỉ, nhân cách con người để ở đâu ?
Phải chăng vì « Triết lý duy vật « đã cướp mất ?
Chúng ta chỉ cần nhìn 2 nước Nam Hàn và
Bắc Hàn thì rõ. Một nước tôn trọng giá trị đạo đức cổ truyền, đồng thời thu
nhập những cái hay cái đẹp một cách gạn lọc của tây phương. Một nước nhập cảng
không suy nghĩ triết lý Marx, chối bỏ tất cả những tốt đẹp cổ truyền, năm nào
cũng bị đe dọa bởi đói kém, đưa một người miệng còn hơi sữa lên làm lãnh tụ,
rồi tìm đủ mọi cách để trét phấn, bôi son, nào là « Thiên tài về chiến
lược « , « Lãnh tụ tối cao của dân tộc « v.v...
Tấm gương đã quá rõ, thế mà ở Trung cộng
và ở Việt nam vẫn còn có người bám vào triết lý Mác Lê.
Không nói đâu xa, chúng ta cứ trở về 2 nền
Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trước năm 1975, thì chúng ta cũng thấy rõ. Trước
năm 1975, miền Nam Việt nam, với 2 nền Cộng hòa, phát triển hài hòa về cả 2 mặt
vật chất và tinh thần, hơn cả Nam hàn và Đài Loan, nước phát triển thứ 3 hiện
nay của châu Á, với tổng sản lượng là 504,6 tỷ $, dân số là 23,2 triệu dân, sản
lượng tính theo đầu người là 21 591,8$. Trước năm 75, chính Đài loan đã bắt
chước áp dụng luật Người cày có ruộng, của nền Đệ Nhị Cộng hòa miền Nam. Về thể
chế chính trị, miền Nam không thể sánh với những nước dân chủ tân tiến, nhưng
miền Nam có một thể chế tương đối dân chủ nhất trong vùng, chỉ sau Nhật
bản.
Chính những nhà kinh tế cộng sản, như Lê đăng
Doanh, trong một bài phỏng vấn trên đài BBC, phải công nhận rằng, sau 75, ông
vào miền quê miền Nam, ông đã nhận thấy một sự phát triển không ngờ của hạ tầng
cơ sở kinh tế miền nam. Thế rồi cộng sản vào, phá hủy tất, theo đúng như triết
lý của Marx, không những vật chất, qua những cuộc “Đánh tư bản, mại sản”, mà cả
tinh thần, đốt sách, vứt bỏ tất cả những cái hay cái đẹp của văn hóa cổ truyền,
làm cho xã hội Việt Nam ngày hôm nay không còn căn bản đạo đức, sống xô bồ,
chen chúc, đạp lên nhau để tồn tại, trên đủ mọi phương diện, mọi lãnh vực, từ
giới lãnh đạo, đến người dân đen. Tham nhũng hối lộ hoành hoành, bất công càng
ngày càng to lớn.
“ Nghĩ làm sao, chiêm bao làm vậy “, xin
nhắc lại câu châm ngôn Việt nam.”
Dựa trên nền tảng triết học nào, thì sự phát
tiển xã hội sẽ theo tinh thần triết lý đó.
Triết lý của Marx lấy sự bất bình thường làm sự
bình thường qua quan niệm đấu tranh giai cấp, bạo động lịch sử, thêm vào đó lại
có một số người cộng sản, nhất là giới lãnh đạo, hiểu chủ nghĩa “ Duy vật “ ở
nghĩa thấp nhất là tôn sùng vật chất, chạy theo vật chất, tiền bạc, làm cho xã
hội Trung cộng và Việt Nam đi đến tình trạng ngày hôm nay.
Bởi lẽ đó, để có một sự phát triển hài hòa, bớt
bất công tham nhũng, ở quốc nội, và có thể sống hòa bình với quốc ngoại, thì
hai nước này nên vứt bỏ triết lý Mác Lê, bắt chước những nước Nhật, Nam Hàn,
Đài loan, dựa trên một nền tảng triết học, tôn trọng những giá trị nhân bản,
toàn cầu cổ truyền, đồng thời thâu nhận một cách khôn ngoan, gạn lọc những cái
gì hay của thế giới. (1)
Paris ngày 17/08/2013
Chu chi Nam
(1) Xin
xem thêm những bài phê bình lý thuyết của Marx, trên:
http://perso.orange.fr/chuchinam/
Thứ Tư, 3 tháng 7, 2013
2013..An Giang -Châu Đốc- Tịnh Biện
2013
Núi Két Nhà Bàn
Châu Đốc-Tinh Biên -Tri Tôn / An Giang 3+4+5-7-
Bs Phạm Ngọc Định 45 Lê Lợi-TX Châu Đốc
Cafe Châu Đốc -Bờ sông Hậu CTy DuLich
Núi Két Nhà Bàn
Thứ Tư, 12 tháng 6, 2013
2013 Cầu bình an
Mỗi ngôn ngữ có một cách khác nhau
để diễn đạt tư tưởng. Trong lời chào hỏi thông thường, người Trung Hoa hỏi đã
dùng cơm hay chưa? Người Pháp, nếu chúng ta dịch nghĩa đen thì câu hỏi thăm là,
"Đi đứng như thế nào?" Người Việt chúng ta hỏi có mạnh khỏe hay
không. Người Do-thái và một số quốc gia ở Trung Đông thì lời chào là bình an
hay chúc bình an. Bình an hay an bình là một trong những điều chúng ta cần nhất
trên đời, nhất là trong những ngày mà thế giới dẫy đầy những xôn xao và bất an.
Chúng ta thường hiểu bình an hay hòa bình là phản nghĩa của chiến tranh hay nói
khác đi, hòa bình là tình trạng không chiến tranh, nhưng thực tế không nhất
thiết như vậy vì có những nơi đang có chiến tranh mà người ta vẫn bình an và
ngược lại, có những chỗ rất an bình nhưng con người vẫn bất an. Bình an vì vậy
là một trạng thái của tâm hồn chứ không phải là hoàn cảnh.
Chữ "bình an" trong tiếng
chào của người Do-thái chẳng những mang ý nghĩa an bình nhưng cũng nói lên ý
niệm hòa hợp và hài hòa như hợp âm trong một khúc nhạc hay màu sắc của một bức
tranh. Hài hòa, hòa nhịp với nhau, đó là hình ảnh đích thực của bình an hay hòa
bình. Trong gia đình khi vợ chồng, cha mẹ con cái, anh chị em sống hòa hợp với
nhau, chúng ta có an bình. Tương tự như vậy trong mọi mối quan hệ giữa người
với người. Mối quan hệ giữa con người chúng ta với Thiên Chúa cũng giống như
vậy. Nếu tâm hồn, tư tưởng, đường lối của chúng ta hòa hợp với tư tưởng, đường
lối của Thiên Chúa, chúng ta sẽ có hòa hợp và an bình. Ngược lại, chỉ có xôn
xao và bất an. Trong kinh nghiệm chúng ta thấy rằng xôn xao và bất an là tình
trạng thường xuyên của con người mà lý do là vì đường lối và nếp sống của chúng
ta không phù hợp với đường lối của Thiên Chúa là Đấng đã tạo dựng chúng ta.
Chẳng những không phù hợp, chúng ta còn đi ngược lại và chống đối Thiên Chúa.
Chúng ta tự đặt mình vào tư thế địch thù với Đức Chúa Trời. Chúng ta ở trong tư
thế thù nghịch với Đức Chúa Trời vì Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết mà chúng
ta là con người tội lỗi. Hai điều nầy không thể nào hòa hợp với nhau được như
ánh sáng với bóng tối. Nếu có ánh sáng thì không có bóng tối và chỗ nào có bóng
tối thì không thể có ánh sáng.
Con người vẫn ở trong tư thế nghịch
thù với Thiên Chúa như vậy cho đến 2,000 năm trước, Chúa Giê-xu vào đời, mang
hình hài thể xác của con người, chịu chết thế cho con người để giải hòa con
người với Đức Chúa Trời. Kinh Thánh gọi Chúa Giê-xu là sự hòa bình của chúng
ta. Nói như vậy nghĩa là Chúa Giê-xu đã giải hòa chúng ta với Đức Chúa Trời qua
sự chết của Ngài. Những bộ lạc trong vùng Papua New Guinea thường hay tranh
chiến với nhau và mỗi khi ngưng chiến họ thường bày tỏ thiện chí bằng cách mỗi
phe trao đổi cho phe bên kia một đứa bé của bộ lạc mình. Về sau, nếu hai bộ lạc
có đánh nhau, người ta sẽ dùng hai đứa bé đó để thương thuyết. Đứa bé trao đổi
trong cuộc chiến ở Papua New Guinea gọi là "Em Bé Hòa Bình" hàm ý em
bé tạo hòa bình hay em bé đem lại hòa bình. Khi Chúa Giê-xu giáng trần làm
người 2,000 năm trước, Ngài chính là em bé hòa bình đó. Ngài giải hòa chúng ta
với Đức Chúa Trời thánh khiết bằng cách mang tội và chịu chết thế cho chúng ta.
Được giải hòa với Đức Chúa Trời rồi, chúng ta mới có hòa bình trong tâm hồn và
có thể sống trong hòa bình, an lạc với chính mình và với mọi người.
Điều chúng ta cần nhất hiện nay là
hòa bình, nói đúng hơn là an bình trong tâm hồn giữa những biến chuyển của thời
cuộc. Chúa Giê-xu phán hứa với chúng ta rằng Ngài sẽ ban bình an đó cho chúng
ta. Chúa Giê-xu phán, "Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình
an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho.
Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi" (Phúc Âm Giăng 14:27). Bình an
thật đến từ Thiên Chúa và chúng ta chỉ có bình an thật khi chúng ta được giải
hòa với Thiên Chúa. Con người vẫn tiếp tục ở trong tư thế thù địch với Thiên
Chúa nếu không ăn năn, quay trở lại, nhận tội với Chúa để được Ngài thứ tha tội
lỗi. Khi tội lỗi được tha thứ, chúng ta mới kinh nghiệm được bình an hay hòa
bình với Ngài.
Có hai họa sĩ cùng vẽ bức tranh với
chủ đề bình an. Họa sĩ thứ nhất vẽ cảnh một mặt hồ phẳng lặng, bầu trời trong
xanh với đàn chim bay lượn. Họa sĩ thứ nhì thì vẽ một cảnh biển giông tố nhưng
bên cạnh là một hốc đá kín đáo, trong hốc đá đó, một chú chim nhỏ đang hót vì
được an toàn trong một hoàn cảnh đầy đe dọa. Đó là bình an thật.
Có ba điều quan trọng về bình an mà
chúng tôi muốn thưa với quý vị hôm nay:
1. Bình an thật là bình trong tâm
hồn không phải ngoại cảnh.
2. Chúa Giê-xu là sự bình an của
chúng ta vì Ngài đã đến chịu chết thế vì tội lỗi của chúng ta để hòa giải chúng
ta với Đức Chúa Trời.
3. Sở dĩ chúng tôi loan báo những
điều nầy cho quý vị hôm nay là vì Lời Chúa dạy rằng "Chúa đã giao chức vụ
giảng hòa cho chúng tôi."
Vâng, Chúa đã "phó đạo giảng
hòa cho chúng tôi và chúng tôi làm chức khâm sai của Chúa Cứu Thế, cũng như Đức
Chúa Trời bởi chúng tôi mà khuyên bảo. Chúng tôi nhân danh Chúa Cứu Thế mà nài
xin anh em: hãy hòa thuận lại với Đức Chúa Trời" (Thư I Cổ-linh 5:18-20).
Lý do duy nhất thúc đẩy chúng tôi loan báo tin mừng nầy là muốn thấy mọi người
được hòa giải với Thiên Chúa và kinh nghiệm bình an của Ngài.
Người Trung Hoa hỏi thăm nhau đã
dùng cơm chưa. Chúng ta hỏi thăm nhau có mạnh khỏe không. Người Do-thái khi gặp
nhau cũng như khi từ giã đều nói shalom nghĩa là bình an. Đây cũng là
tiếng chào mà những người con của Chúa thích chào nhau. Hôm nay chúng tôi cũng
muốn gởi đến quý vị lời chào bình an tương tự. Bình an trong tâm hồn, bình an
với Đức Chúa Trời qua Chúa Cứu Thế Giê-xu. Bình an đó sẽ canh giữ tâm hồn quý
vị để chẳng những quý vị có thể sống một cuộc sống an lành nhưng cũng sống
trong hài hòa và đem bình an thực sự đến cho mọi người. Quý vị muốn biết rõ hơn
về bình an trong Chúa, xin liên lạc với chúng tôi theo địa chỉ sau:
Phát
Thanh Tin Lành2275 W Lincoln Ave
Anaheim CA 9801
(714) 533-2278
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
