Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH TẾ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn KINH TẾ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

2013 VN Tiềm năng-Lạm phát/Tăng trưởng



Việt Nam sẽ có thể vượt qua khủng hoảng? 
 Hiện thật dễ chê bai Việt Nam, đất nước mà mấy năm qua đã sứt mẻ danh tiếng là biểu tượng của tiềm năng kinh tế ở các thị trường mới nổi. Lạm phát là đe dọa thường trực, tăng trưởng đang chậm lại, và các ngân hàng cùng doanh nghiệp nhà nước đang chống chọi với mức nợ xấu đe dọa gây bất ổn (NỢ CÔNG 115 TỶ USD-NỢ XẤU >10 TỶ USD.) Chưa hết, các lãnh đạo chính trị Việt Nam đang đánh nhau trong khi tình hình đòi hỏi có hành động cương quyết. Kết quả là giới đầu tư nước ngoài gãi đầu, tự hỏi liệu Việt Nam có thể xây dựng những định chế và năng lực cần thiết để gia nhập hàng ngũ nhữg quốc gia thị trường đang nổi. Các định chế của Việt Nam không sẵn sàng cho tăng trưởng mạnh. Điều này thể hiện rõ từ cuộc khủng hoảng diễn ra trong mấy năm qua: các định chế và lãnh đạo Việt Nam đã quản lý tồi dòng vốn chảy vào, gây nên lạm phát, quyết định đầu tư sai lầm và các ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước bê bối. Toàn bộ xảy ra dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, và mặc dù ông vượt qua ít nhất hai lần thách thức sự lãnh đạo, vị thế của ông đã yếu đi và giảm sút. Quyết định theo kiểu đồng thuận sẽ đóng vai trò lớn hơn trong những năm tới, trong khi các đối thủ của ông Dũng (bao gồm Chủ tịch Trương Tấn Sang) giảm bớt sự kiểm soát chính sách của Thủ tướng và thắt chặt giám sát. Hệ quả gần của diễn trình này là khả năng đấu tranh phe nhóm sẽ tạo ra các chính sách thất thường và tín hiệu mâu thuẫn. Nhưng đừng vội bỏ qua Việt Nam. Trong lịch sử, các cuộc khủng hoảng đã giúp thúc đẩy các lựa chọn chính sách hiệu quả từ chính phủ (giống như cuộc lật đổ năm 2001 với Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu). Tình hình hiện nay sẽ không thể khiến ông Dũng ra đi, nhưng nó sẽ khiến người ta phải xem lại nghiêm túc chính sách kinh tế, đặc biệt là việc phân bổ đầu tư tốt hơn. Dẫu sao trong giới tinh hoa Việt Nam nói chung vẫn có đồng thuận rằng các cải cách trước đây nên được giữ lại và rằng sự sống còn của Đảng Cộng sản phụ thuộc vào tăng trưởng lâu dài và cải thiện bình đẳng trong chất lượng cuộc sống. Kinh tế Việt Nam cũng có thể hưởng lợi từ những yếu tố cơ cấu mà đang khuyến khích các nhà đầu tư xem xét việc chuyển địa điểm sản xuất ra khỏi Trung Quốc. Các nhà sản xuất có thể thấy hấp dẫn khi nhìn về các nước khác ở châu Á, nhưng họ không nên đánh giá thấp khả năng Việt Nam sẽ trở lại là địa điểm đầu tư thuận lợi. Các lãnh đạo nước này có thể đang cãi vã, nhưng họ hiểu rằng không cải cách là đe dọa lớn cho quyền uy của họ, lớn hơn cả sự bất trắc đi kèm với thay đổi. Roberto Herrera Lim là giám đốc ban châu Á của Eurasia Group, một công ty nghiên cứu và tư vấn. Bài viết đã đăng lần đầu trên trangBấmForeign Policy.

Lạm phát Việt Nam trong tháng 11/2012 lên cao nhất trong sáu tháng qua theo số liệu chính thức cho thấy hôm Thứ bảy.
Lạm phát cao được cho là sẽ gây thêm áp lực bên cạnh những thách thức kinh tế vốn có mà các nhà lãnh đạo của quốc gia Cộng sản đang phải đối mặt.
Theo Tổng cục Thống kê, giá tiêu dùng tăng ước tính 7,08% trong tháng này so với một năm trước đó, sau khi tăng 7,0% trong tháng 10/2012. Đây là mức tăng rõ nét nhất kể từ tháng Năm.
So sánh từng tháng, giá cả đã tăng 0,47% vào tháng Mười Một.
Một quan chức cấp cao của một trong các ngân hàng tư nhân lớn của Việt Nam không muốn nêu danh tính nói với hãng AFP:
"Chính phủ đang thực sự vật lộn để cố kiềm chế lạm phát trong khi muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế."
Theo theo dõi của AFP, Việt Nam vật lộn với nạn tăng giá ở mức hai con số trong suốt nhiều năm nhưng sau một chuỗi tăng lãi suất được ngân hàng trung ương đưa ra nhằm ngăn chặn nền kinh tế quá nóng, lạm phát hàng năm giảm xuống mức thấp nhất trong ba năm với khoảng 5,0% vào tháng Tám, so với đỉnh cao lên tới 23% một năm trước đó.
Một quan chức ngân hàng tư nhân
Giới chức từ đó đã thay đổi chiến thuật để đáp ứng tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại và đã cắt giảm lãi suất năm lần kể từ đầu năm 2012.
Quốc gia cộng sản dự kiến tăng trưởng kinh tế 5,2% cho năm 2012 - mức thấp nhất trong 13 năm qua.
Việt Nam cũng đang khó khăn vì đầu tư trực tiếp nước ngoài tụt dốc bên cạnh lo ngại ngày một nhiều về các khoản nợ độc hại trong hệ thống ngân hàng mong manh, nhiều rủi ro.
Vào tháng trước, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thừa nhận rằng Chính phủ của ông đã phạm nhiều sai lầm trong quản lý nền kinh tế gặp nhiều khó khăn và nói với Quốc hội rằng nội các của ông "đã học được một bài học."
'Quý tư sóng gió
Chỉ số giá tiêu dùng mở đầu quý Tư tăng cao nhất trong vòng một năm qua
Trước đó, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) Việt Nam trong tháng 9/2012, được giới chức công bố cho thấy có mức tăng cao nhất trong vòng hơn một năm qua.
Theo đó, chỉ số CPI của Việt Nam trong tháng mở đầu Quý 4 và mở đầu giai đoạn cuối năm, tăng 2,2% so với tháng liền trước đó – mức cao nhất kể từ tháng Sáu năm 2011.
Trước đó, Việt Nam đã chứng kiến hai tháng giảm phát liên tiếp trong tháng Sáu và tháng Bảy làm giảm sức ép tăng giá và làm nhẹ bớt phần nào gánh nặng cơm áo gạo tiền của người dân.
Tuy nhiên, chỉ số CPI đột ngột tăng mạnh đã dẫn đến lo ngại rằng lạm phát có khả năng trở lại tác động xấu đến cuộc sống của đại đa số người dân lao động Việt Nam vốn đang vất vả mưu sinh trong điều kiện kinh tế khó khăn.
Đầu tháng trước, hôm 8/10, Ngân hàng Thế giới (WB) đã hạ mức dự đoán tăng trưởng của Việt Nam xuống thấp hơn so với mức đưa ra hồi tháng 5/2012 trong báo cáo của tổ chức này đăng tải trên trang nhà.
Theo "Báo cáo kinh tế Đông Á-Thái Bình Dương", Ngân hàng Thế giới dự đoán tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam trong năm 2012 giảm xuống còn 5,2% so với mức 5,7% hồi cuối tháng Năm.
Tuy nhiên Ngân hàng Thế giới cũng nhận định rằng tăng trưởng GDP của Việt Nam có thể có triển vọng tăng lên 5,7% trong năm 2013 với một số điều kiện nhất định.

VN cần ‘tự do kinh tế và tư duy độc lập’

Cập nhật: 14:34 GMT - thứ tư, 19 tháng 9, 2012 
"Một đứa trẻ mồ côi thời chiến tại Việt Nam được nhận làm con nuôi mà có cơ hội vươn lên trong một xã hội dân chủ như vậy, và gánh vác trách nhiệm lớn thì đó là bằng chứng nền dân chủ có thể tạo ra sức mạnh như thế nào."
 “Với những người không được tự do để chọn cho mình cách suy nghĩ và hành động độc lập, thì sẽ không có kinh doanh, và thiếu tự do kinh tế cũng sẽ không có tự do xã hội,”
Ông Roesler đã nhận bằng tiến sỹ danh dự ở Hà Nội
Đến thăm Hà Nội và phát biểu trước các sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân, Phó Thủ tướng Đức gốc Việt, ông Philipp Roesler đã kêu gọi nước chủ nhà cải cách dân chủ đầy đủ, trao tự do cho nhân dân cả trong lĩnh vực kinh tế và xã hội.
Là một lãnh tụ trẻ tuổi của đảng Tự do Dân chủ (FDP) trong chính phủ liên minh ở Đức, ông Roesler, người sinh ra năm 1973 tại Nam Việt Nam, đã nói về tự do hôm 18/9/2012 khi nhận bằng tiến sỹ danh dự viên Đại học Kinh tế Quốc dân ở Hà Nội.
Ông hối thúc chính quyền Việt Nam không chỉ tư nhân hóa và mở cửa thị trường, mà cần trao cho người dân thêm quyền tự do:
“Với những người không được tự do để chọn cho mình cách suy nghĩ và hành động độc lập, thì sẽ không có kinh doanh, và thiếu tự do kinh tế cũng sẽ không có tự do xã hội,”
Nhắc đến cơ hội cho bản thân là một người sinh tại Việt Nam nhưng trưởng thành tại Đức, ông coi đó là ví dụ về sức mạnh của tự do:
“Một đứa trẻ mồ côi thời chiến tại Việt Nam được nhận làm con nuôi mà có cơ hội vươn lên trong một xã hội dân chủ như vậy, và gánh vác trách nhiệm lớn thì đó là bằng chứng nền dân chủ có thể tạo ra sức mạnh như thế nào.”
Philipp Roesler
Là Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Kinh tế và Công nghệ, ông Roesler cũng nhấn mạnh với diễn giả trong buổi lễ ở Đại học Kinh tế Quốc dân, về vai trò của khu vực tư nhân trong nền kinh tế, cũng như nói về sở hữu tư nhân.
Ông cũng nói điều kiện cho đầu tư là chữ tín của hợp đồng và niềm tin của đối tác với hợp đồng.
Theo hãng tin Đức DPA, các công ty Đức thường phàn nàn về việc thực hiện hợp đồng tại Việt Nam.
Khi trao đổi với chính giới Việt Nam, ông Roesler cũng mang theo một danh sách 5 tù nhân lương tâm theo Thiên Chúa giáo bị bệnh mà Bộ Ngoại giao Đức nhờ ông chuyển cho các lãnh đạo Việt Nam, yêu cầu thả tự do cho họ, theo DPA.
Được biết chính phủ Đức cũng bày tỏ quan tâm vụ phóng viên Hoàng Khương của báo Tuổi Trẻ bị bốn năm tù.
Berlin cũng theo dõi vụ xử ba blogger, Điếu Cày, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần, đã ba lần đình hoãn và theo tin mới nhất, có thể diễn ra vào ngày 24/9.
Cùng đi với ông Roesler đi thăm Việt Nam và Thái Lan lần này có khoảng 50 đại diện các công ty Đức.

Thứ Sáu, 12 tháng 7, 2013

2012 VN=Quản lý kinh tế kiểu mới..

Quản lý thị trường vàng, những câu hỏi đang đợi trả lời
Lê Đăng Doanh
Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý nhà nước ban hành các quy định về quản lý vàng, đồng thời lại là cơ quan độc quyền nhập khẩu vàng, kinh doanh vàng miếng SJC, đấu thầu vàng, mua-bán vàng để bình ổn thị trường vàng. Trên thế giới chưa thấy có nền kinh tế thị trường nào lại áp dụng những biện pháp quản lý như vậy và hiện tượng “vừa đá bóng vừa thổi còi” là quá lộ liễu.
Trải qua những biến động lịch sử (chiến tranh, thay đổi chính phủ, đổi tiền v.v.), người dân Việt Nam đã có thói quen dùng vàng để giữ tài sản của mình. Không chỉ người giàu có, người nghèo cũng giữ vàng, người mẹ nào cũng cố gắng cho con gái vài đồng cân vàng khi đi lấy chồng. Theo Hội đồng Vàng Thế giới từ năm 1993 đến 2010, Việt Nam đã nhập tổng cộng 1.000 tấn vàng (trong đó có tỷ lệ khá lớn nhập lậu), trừ đi số vàng đã xuất khẩu, trong dân còn khoảng 400-500 tấn vàng, một nguồn lực rất lớn có thể và cần huy động để xây dựng đất nước.
Trong những năm 1990, giá vàng liên tục biến động, tình hình chỉ ổn định sau khi nhà nước chủ động áp dung cơ chế thị trường vàng, cân đối cung-cầu. Từ 1993, người dân được quyền sở hữu, cất giữ vàng không hạn chế.Từ 1999 Nghị định NĐ174/1999/NĐ-CP và NĐ 64/2003/NĐ-CP cấp phép cho 8 ngân hàng thương mại và một công ty sản xuất vàng miếng. Năm 2000, Ngân hàng Nhà nước cho phép ngân hàng thương mại được huy động vốn bằng vàng và cho vay bằng vàng (Quyết định 432/2000/QĐ-NHNN). Từ năm 2011, Nhà nước cấp quota nhập khẩu vàng cho tám ngân hàng thương mại và công ty SJC để “tham gia bình ổn thị trường vàng” trong nước.
Từ năm 2008, trước tình hình lạm phát tăng cao, xu hướng dùng vàng để thanh toán những phi vụ mua bán nhà, đất tăng lên. Tình trạng “vàng hóa” nền kinh tế xuất hiện, vàng không chỉ còn là phương tiện cất giữ mà còn trở thành phương tiện thanh toán, tức là đồng tiền mạnh trong nền kinh tế, tác động tới tỷ giá, dự trữ ngoại tệ. Trên cả nước đã có khoảng 12.000 cửa hàng lớn nhỏ được cấp phép hoạt động, một số còn kiêm cả mua bán ngoại tệ, chủ yếu là USD. Cứ mỗi khi có biến động tỷ giá hay giá vàng biến động lại có hiện tượng đoàn người xếp hàng chen chúc nhau để mua vàng kiếm lợi.
Các hiệp hội đã kiến nghị tổ chức “sàn vàng” như một thị trường vàng có sự quản lý của nhà nước, từng bước liên thông với thị trường vàng thế giới, giảm bớt chênh lệch giá giữa giá vàng trong ước và giá vàng thế giới.
Trước tình hình đó, Nghị định 24/2012/ NĐ-CP đã quyết định bỏ quy định cấp quota nhập khẩu vàng, không liên thông giá vàng trong nước và giá vàng thế giới, ấn định thời hạn tất toán dịch vụ nhận gửi tiết kiệm và cho vay bằng vàng tại các ngân hàng thương mại đến ngày 30/6/2013, tuyên bố vàng miếng SJC trở thành nhãn hiệu vàng độc quyền, Ngân hàng Nhà nước độc quyền nhập vàng, độc quyền phát hành vàng SJC và là người độc quyền bán vàng để bình ổn thị trường, áp đặt những điều kiện ngặt nghèo cho các hộ kinh doanh vàng phải đăng ký lại v.v.
Những người dân giữ vàng miếng không phải SJC phải đổi với chênh lệch giá khá lớn, số cửa hàng kinh doanh vàng được cấp phép trơ lại giảm đáng kể. Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức đấu thầu vàng, cho đến nay đã hơn 40 phiên, bán ra 41,4 tấn vàng, phải sử dụng lương lớn ngoại tệ để nhập khẩu. Nếu như trước ngày 30.6, bình quân mỗi phiên chỉ bản 26.000 lượng vàng thì ngày 9/7/2013, sau thời hạn tất toán vàng, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục đấu thầu lượng vàng gần gấp đôi, lến đến 40.000 tấn vàng/ phiên. Chênh lệch giá vàng trước và giá vàng thế giới có lúc lên đến 7 triệu đồng/lượng, nay vẫn còn ở mức 5-6 triệu đồng/lượng. Ngân hàng Nhà nước tuyên bố bình ổn thị trường vàng nhưng không bình ổn giá. (?!).
 Ngân hàng Nhà nước tuyên bố chính sách quản lý thị trường vảng đã đạt thắng lợi quan trọng, không còn cảnh người mua vàng chen chúc, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại tệ tăng lên v.v. Báo chí đưa tin Ngân hàng Nhà nước đã lãi 5.000 tỷ đồng nhờ nhập khẩu vàng giá thấp, bán vàng giá cao và Ngân hàng Nhà nước quả quyết toàn bộ lợi nhuận thuộc về nhân dân và nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy vậy, chưa thấy Kho bạc Nhà nước có thông báo về số thu ngân sách này.
Song, sau thời hạn khóa sổ ngày 30/6/2013, tình hình không ổn định như Ngân hàng Nhà nước dự đoán. Một số ngân hàng thương mại thiếu thanh khoản, chưa thể tất toán vàng. Dự báo nhu cầu của các ngân hàng này còn ít nhất 9 tấn vàng để tất toán. Trong những ngày nắng nóng lên đến 40 độ C cuối tháng Sáu, đầu tháng Bảy này ở Hà Nội, hiện tượng sắp hàng từ sáng đến tối để mua vàng của người dân lại xuất hiện trở lại. Tỷ giá đã phải điều chỉnh lên 1% ngày 28/6 và đã có lúc đạt mức 22.000 VND/USD trên thị trường tự do. Nhu cầu vàng chưa thấy đến giới hạn. Tình hình đang tiếp tục diễn biến phức tạp.
Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước là cơ quan quản lý nhà nước ban hành các quy định về quản lý vàng, đồng thời lại là cơ quan độc quyền nhập khẩu vàng, độc quyền kinh doanh vàng miếng SJC, độc quyền đấu thầu vàng, mua-bán vàng để bình ổn thị trường vàng. Trên thế giới chưa thấy có nền kinh tế thị trường nào lại áp dụng những biện pháp quản lý như vậy và hiện tượng “vừa đá bóng vừa thổi còi” là quá lộ liễu. Thanh tra Nhà nước tháng 4/2013 đã thông báo sẽ thanh tra hoạt động kinh doang vàng của Ngân hàng Nhà nước.
Số vàng trong dân chưa biết đến bao giờ mới huy động được và bằng phương án nào. Giá vàng trong nước tiếp tục nhảy múa, chênh lệch giá vàng trong nước và giá vàng thế giới vẫn rất cao.
Muốn biết kết quả kinh doanh vàng thế nào phải đợi kết quả của Thanh tra Nhà nước, song cách vừa tự ban hành quy định lại độc quyền thực hiện như hiện nay là điều không giống bất kỳ nước nào


Thứ Ba, 11 tháng 6, 2013

2013 Câu chuyện còn dài NỢ XẤU CỦA VIỆT NAM !

VỀ NỢ XẤU CỦA VIỆT NAM





By: Wegreen
 
Thời gian gần đây, Nợ Xấu đang là một trong những vấn đề trọng điểm trong các cuộc họp bàn của Chính phủ cũng như trên các mặt báo của giới truyền thông. Nợ xấu gia tăng được coi là một trong những nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự đình đốn của nền kinh tế Việt Nam, khiến ngôi sao đang lên của Châu Á bị lao dốc tăng trưởng kinh tế xuống mức thấp nhất (5,03%) trong vòng 13 năm đầu của thế kỷ 21 [1], khiến hàng trăm nghìn doanh nghiệp trong nước phái đóng cửa trong hơn 2 năm vừa qua. Vậy đâu là những vấn đề cốt tử của câu chuyện nợ xấu đang đè nặng lên nền kinh tế Việt Nam này?

1. WHAT: NỢ XẤU VIỆT NAM CẤU THÀNH TỪ NHỮNG NGUỒN NÀO?

a. Bất động sản đóng băng:
Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, riêng nợ liên quan bất động sản khoảng trên 1 triệu tỷ đồng. Trong đó, nợ xấu chưa được bóc tách nhưng chắc chắn không hề nhỏ. [2] Một thực tế là trong thời kỳ tăng trưởng nóng những năm 2007-2008 ở Việt Nam, quá nhiều doanh nghiệp lớn tham lam vay tiền đầu tư dàn trải ngoài lĩnh vực kinh doanh cốt lõi sang bất động sản và bị tắc dòng vốn ở đây không tài nào gỡ ra được khi nền kinh tế thế giới bị cảm nặng từ con virus khủng hoảng tài chính Mỹ và Châu Âu.

b. Sản xuất đình trệ đặc biệt từ khu vực DNNN
Tổng nợ xấu thương mại giữa các doanh nghiệp đến nay là bao nhiêu và liên quan đến nợ xấu của hệ thống ngân hàng thế nào, hiện không có cơ quan nào thống kê và đưa ra.

Chỉ tính riêng khối doanh nghiệp nhà nước (DNNN), theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến cuối năm 2011, tổng nợ phải trả của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 1.292.400 tỷ đồng, nhưng bao nhiêu trong số này là nợ xấu vẫn đang là ẩn số. [3]

Việc tăng trưởng kinh tế (GDP) cao và dựa vào kênh tăng vốn là chính, trong khi công nghệ hỗ trợ tăng trưởng và hiệu năng quản lý bị trượt dài phía sau, nảy sinh ra vấn đề doanh nghiệp càng vay nhiều càng khó có khả năng quản lý hiệu quả các đồng vốn vay đó, dẫn đến hệ số ICOR thấp, lãng phí đồng vốn và gia tăng nguy cơ tham nhũng khi đồng tiền như “mỡ để miệng mèo”.
c. Xây dựng cơ bản
Tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản tại các địa phương diễn ra khá phổ biến và ở mức độ khá nghiêm trọng. Nên nhớ rằng, đầu tư xây dựng cơ bản là một phần quan trọng của đầu tư công của Chính phủ trong nỗ lực phát triển cơ sở hạ tầng cho phát triển kinh tế đất nước.

Hậu quả là công trình thi công dở dang, kéo dài, hiệu quả đầu tư kém; chủ đầu tư không có nguồn vốn để thanh toán; nhiều doanh nghiệp xây dựng, nhà thầu nợ lương công nhân, chiếm dụng vốn của nhau, không ít doanh nghiệp giải thể và phá sản; góp phần làm cho nợ xấu của ngân hàng tăng lên... Điều đó đã và đang ảnh hưởng xấu đến an ninh tài chính, an toàn nợ công và tăng trưởng kinh tế bền vững. [4]
d. Thị trường chứng khoán bong bóng & trì trệ
Đây cũng là một yếu tố tác động không nhỏ khi thực tế không ít các công ty, đại gia, và các nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng đã vay tiền không tiếc tay rồi đổ vào sòng bạc này và bị “đá đít” ra khỏi sân chơi đầu tư cổ phiếu với không một manh áo giữ lại sau giai đoạn thị trường chứng khoán bị lên đồng bởi tâm lý đám đông của các nhà đầu tư, hoang tưởng rằng bữa tiệc của thị trường giá lên sẽ không bao giờ tàn.

2. WHERE: ĐÂU LÀ NGUYÊN NHÂN THÚC ĐẨY SỰ GIA TĂNG NỢ XẤU?

Tất nhiên và đơn giản thường có 2 nhóm nguyên nhân chính:

a. Khách quan:
Khủng hoảng kinh tế thế giới lan rộng khiến các doanh nghiệp Việt Nam bị shock do mất mát vô số hợp đồng đã được ký. Vinashin là một điển hình khi các hợp đồng đóng tàu từ các khách hàng, đối tác nước ngoài bị hủy bỏ do sự suy thoái của ngành vận tải đường biển toàn cầu [5]. Xuất khẩu bị đình trệ, dẫn đến nhiều doanh nghiệp xuất khẩu cùng các doanh nghiệp ăn theo trôi tới bờ vực phá sản.

b. Chủ quan:
Một nền kinh tế đang rơi vào tình trạng ngủ mê. Các nhà đầu tư mơ về một thị trường chứng khoán - hàn thử biểu của nền kinh tế - chỉ có lên trong kể cả ngắn hạn và trung hạn. Các doanh nghiệp mơ trở thành điển hình phát triển thần kỳ và các doanh nhân mơ sớm tới ngày được bước chân vào cung điện của giới siêu giàu Việt Nam nơi những Đặng Nhật Vượng (Vincom), Đoàn Nguyên Đức (HAGL), Đỗ Quang Hiển (SHB), Đặng Lê Nguyên Vũ (Trung Nguyên)…đeo những vòng nguyệt quế bằng vàng ròng đang ngự trị. Các ngân hàng thì mơ giấc mơ lãi xuất ngày này tháng khác luôn ở mức 2 con số khiến tiền vào như nước và sẽ nhanh chóng trở thành những Bank of America, Cit Group, hay Well Fargo của Việt Nam. Chính phủ thì mơ Việt Nam sẽ chẳng mấy chốc sẽ vượt Thái Lan và tiệm cận Hàn Quốc (những quốc gia mà 50 năm trước đây chẳng hơn gì Việt Nam) nhờ tài năng điều hành phi thường của mình.

3. HOW MUCH: CON SỐ NỢ XẤU THỰC LÀ BAO NHIÊU?
Mới đây, tiến sĩ Nguyễn Đức Thành (VERP) nhận xét, nếu căn cứ vào tỷ lệ nợ xấu được Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố là 6% vào tháng 2-2013 vừa qua, và các số liệu nợ xấu khác, thì nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng nằm trong khoảng 180 -300 ngàn tỉ đồng. [6]

Trong khi đó, theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), các khoản nợ xấu được các tổ chức tín dụng cơ cấu lại tính đến tháng 10-2012 cỡ 250.000 tỷ đồng, tương ứng 8% dư nợ tín dụng. Tuy nhiên, trao đổi với phóng viên báo Tiền Phong, TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam cho biết, con số mới nhất mà ông được biết thì nợ xấu ngân hàng tới 400.000 tỷ đồng (~20 tỷ USD) [7]. Điều đó có nghĩa là nợ xấu của Việt Nam đang vào khoảng hơn 12% chứ không thực sự khoảng 6% như NHNN công bố.

4. WHEN: KHI NÀO THÌ NỢ XẤU GÂY PHÁ SẢN CÁC NGÂN HÀNG?

Có một minh họa rất đáng ngẫm rằng, nếu những ông chủ ngân hàng bỏ ra 5 đồng (gọi là vốn tự có), thu hút tiền gửi 95 đồng và họ cho vay 100 đồng thì như thế nếu nợ không đòi được là 6 đồng thì vốn tự có của các ông chủ ngân hàng coi như hơn mất sạch. Ở Việt Nam, hệ số vốn hiện nay chỉ khoảng 4-6% [8], và kết hợp với dự đoán của các chuyên gia kinh tế Việt Nam và NHNN bên trên rằng tỷ lệ nợ xấu khoảng 8-12% thì chắc chắn một tỷ lệ không thể nhỏ các NHTM đang rơi vào tình trạng vỡ nợ mà không dám công bố.

5. WHO: AI LÀ CHỦ NỢ LỚN CỦA VIỆT NAM?

Thêm một đòn knock out cho khu vực nợ công của Việt Nam là, nợ nước ngoài tính bằng nội tệ tăng với tốc độ chóng mặt, kích thích rủi ro tỷ giá. Các chủ nợ lớn của Chính phủ Việt Nam bao gồm Nhật (chiếm 34,3% tổng nợ) và các tổ chức quốc tế như Hiệp hội phát triển quốc tế IDA (International Development Association - 24,9%) và Ngân hàng phát triển châu Á ADB (Aisan Development Bank - 15,0%). Mỹ và khối EU chỉ chiếm lần lượt 0,3% và gần 6,9% tổng nợ của Chính phủ Việt Nam, tuy nhiên nợ theo đồng tiền của các nước/khu vực này lại chiếm tỉ trọng lớn. Các chủ nợ thường có xu hướng sử dụng những đồng tiền mạnh, và việc vay nợ theo các đồng tiền mạnh này khiến nợ nước ngoài chịu rủi ro cao khi chúng có xu hướng lên giá theo thời gian. [9]

Chỉ tính kể từ đầu năm 2010 đến cuối tháng 6/2011, ba đồng tiền chủ chốt gồm EUR, USD và JPY trong giỏ nợ nước ngoài của Việt Nam đã lên giá lần lượt khoảng 12%, 13% và 26% so với VND. Điều này cũng đồng nghĩa với việc gánh nặng nợ nước ngoài tính theo nội tệ đang tăng với tốc độ chóng mặt và gây sức ép đối với thâm hụt ngân sách và chính sách tiền tệ. [9]

6. HOW: ĐÂU LÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CỐT LÕI GIẢI QUYẾT NỢ XẤU?

Nhiều cuộc họp bàn sôi nổi của các chuyên gia kinh tế và các Think Tank của Chính phủ đã được tiến hành xung quanh vấn đề nợ công và nợ xấu. Tựu chung lại, giải pháp vẫn nằm ở:

a. Tái cấu trúc nợ của các tập đoàn, tổng công ty Nhà Nước, từ những anh hút và xúc tài nguyên đang khan hiếm lên để hưởng lợi nhuận như Petrolimex và Vinacomin, tới những anh độc quyền bán ánh sáng điện cho 90 triệu dân Việt Nam như EVN hay bám biển đảo để làm giàu như Vinashin và Vinalines.
b. Ngân hàng Nhà Nước (NHNN) giảm lãi suất tái cấp vốn xuống để hỗ trợ các NHTM phục hồi. Các ngân hàng thương mại đồng thời cũng giảm lãi suất cho vay hay dãn nợ cho doanh nghiệp để cùng tồn tại. Hành lang giám sát bên vay để đảm bảo họ sử dụng vốn vay đúng quy ước cũng cần phải siết chặt.
c. Thành lập trung gian (Công ty Quản lý tài sản là một ví dụ) để giúp xóa nợ xấu cho các NHTM thông qua sự hỗ trợ tài chính của Chính phủ, qua đó cứu trợ khu vực ngân hàng trong cơn bể dâu.
d. Tìm kiếm sự viện trợ kỹ thuật và tài chính từ các Tổ chức quốc tế, cũng như vận động kiều hối, để bơm tiền vào nền kinh tế bong bóng đang bị xịt và có nguy cơ rơi vào vòng xoáy đình lạm (Stagflation) [10].


7. WHY: TẠI SAO CÔNG TY QUẢN TÀI SẢN (VAMC) KHÔNG PHẢI LÀ GIẢI PHÁP HIỆU QUẢ CHO ĐỐNG NỢ XẤU ĐANG GIA TĂNG?

Nghị định thành lập Công ty Quản tài sản (VAMC) vừa được Thủ tướng ký ban hành và có hiệu lực kể từ 9/7/2013. Theo đó, VAMC sẽ là công ty TNHH một thành viên do Nhà nước sở hữu 100%, với vốn điều lệ 500 tỷ đồng. VAMC ngoài quyền năng phát hành trái phiếu đặc biệt thời hạn tối đa 5 năm và lãi suất bằng 0% để hỗ trợ kéo các NHTM khỏi bờ vực phá sản còn có khả năng mua nợ xấu của tổ chức tín dụng theo giá trị thị trường bằng nguồn vốn không phải trái phiếu đặc biệt [11].

Tuy nhiên, có thể thấy kỳ vọng vào “nước thánh” của VAMC không thực sự nhiều khi xét tới quy mô không gian khổng lồ của nợ xấu. Liệu một công ty có quy mô 500 tỷ đồng có làm teo nhỏ đáng kế món nợ xấu gấp 500 tới 800 lần (250.000 – 400.000 tỷ) mà nền kinh tế Việt Nam đang phải gánh chịu? Hơn nữa, bối cảnh kinh tế Việt Nam đang đầy một màu xám khi nợ xấu đang nằm chính ở khu vực DNNN – khu vực kinh tế chủ đạo và có hệ số ICOR thấp nhất trong các khu vực kinh tế, các Doanh nghiệp tư nhân phá sản hàng loạt, thị trường chứng khoán – nơi hút tiền đầu tư quan trọng nhất – thì lạnh lẽo, và thị trường bất động sản – nơi hàng đống tiền của các “ông lớn” đang bị kẹt – thì đông cứng.

8. WHICH: VẬY YẾU TỐ NÀO THỰC SỰ LÀ GIẢI PHÁP GIÁ TRỊ HƠN CHO BÀI TOÁN NỢ XẤU?

Trong các tác nhân chính (NHNN, Công ty Quản lý tài sản – tay trung gian đòi nợ xấu, NHTM, Doanh nghiệp) tham gia vào bức tranh nợ xấu quốc gia, doanh nghiệp chính là nút thắt cổ chai mà nếu không cố giải pháp quyết triệt để cho khu vực này thì không cách nào thực sự giảm được nợ xấu. 

Nếu để doanh nghiệp phá sản hàng loạt (như đang diễn ra) thì họ xuống mồ để lại nguyên đống nợ xấu cho các NHTM mà không cách nào xóa được. Ngoài ra, đến lượt mình, để tránh bị phá sản do nợ xấu vượt quá hệ số vốn tự có, NHTM phải phụ thuộc vào “bầu sữa” cứu trợ thanh khoản từ NHNN. Song, nếu các doanh nghiệp bị chết hoặc sống như các Zombia thì họ không thể có lợi nhuận, và do đó Chính phủ sẽ không thu được thuế để bỏ vào két của NHNN mà qua đó NHNN có phao tiền tệ mang đi cứu trợ. 

Tuy nhiên, giả thiết màu hồng là NHNN có tiền thoải mái cho NHTM vay, NHTM có tiền thoải mái cho doanh nghiệp vay, và Công ty quản lý tài sản cùng NHTM cho phép doanh nghiệp dãn trả lãi và vốn vay thì thực tế rằng doanh nghiệp vẫn sẽ vô cùng khó khăn trong khâu tìm kiếm lợi nhuận để quay về thời thịnh vượng. Tại sao? Tại vì lợi nhuận phụ thuộc đầu ra sản phẩm có tiêu thụ được không. Và hiện tại, thị trường nội địa đang rơi vào giảm phát trầm trọng người dân phải tiết kiệm không dám tiêu dùng, trong khi các doanh nghiệp khách hàng của các doanh nghiệp khác cũng không còn tiền hoặc không dám vay để mua nguyên vật liệu sản xuất. Tệ không kém, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới bắt nguồn từ Mỹ năm 2008 vẫn đang như đám mây vần vũ ngăn cản sự ấm lên của nền kinh tế thế giới, dẫn đến các doanh nghiệp Việt Nam không tài nào gia tăng năng lực xuất khẩu được.

Dù thế nào, có thể thấy Doanh nghiệp là tác nhân ảnh hưởng lớn tới vòng xoay của nợ xấu. Cởi trói cho các khu vực kinh tế, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân, với những chính sách công bằng hơn cho khu vực năng động chiếm trên dưới 90% thị trường này là giải pháp không thể thiếu để cứu túi tiền của Chính phủ, cứu khu vực ngân hàng, và tái thiết niềm tin của thị trường cùng các nhà đầu tư trong và ngoài nước.

Quả là tiến thoái lưỡng nan và sẽ thật thần kỳ nếu Chính phủ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thể gỡ rối được mớ bòng bong đang quấn chặt lấy nền kinh tế Việt Nam. Chúc ông và các nhà lãnh đạo Việt Nam gặp nhiều may mắn.

Thứ Bảy, 11 tháng 5, 2013

Diễn đàn kinh te VN


Một trong những diễn biến thú vị của Diễn đàn Kinh tế Mùa Xuân vừa diễn ra là việc tranh luận xung quanh cái gọi là vai trò của các chuyên gia đối với các quyết sách của chính phủ cũng như trách nhiệm của họ với đất nước.

Nói theo cách nói của ông Bùi Trinh, chuyên gia của Tổng cục Thống kê, người tin rằng sự phát triển dài hạn của nền kinh tế phải dựa trên chính sách trọng cung, trong khi nhiều chuyên gia lại gây sức ép với Chính phủ để điều hành theo hướng tổng cầu, thì “nền kinh tế đất nước bị thế này có đóng góp không nhỏ của các chuyên gia, nhà kinh tế” và “các chuyên gia phải có trách nhiệm với nền kinh tế đất nước”.

Còn nói theo cách nói của tiến sĩ Nguyễn Đình Cung, viện phó Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, người cho rằng giới chuyên gia nói theo cảm tính cũng nhiều, thì “tất cả mọi phân tích về chính sách phải chuẩn mực chứ không thể chỉ nói theo ý của mình”, “chúng ta phê phán Chính phủ ngập ngừng này kia trong tái cơ cấu kinh tế, có lẽ cũng có phần của chuyên gia chúng ta” và “bối cảnh kinh tế hiện nay có phần của chuyên gia”.

Không chỉ trong khuôn khổ của diễn đàn này, ở nhiều nơi, nhiều chỗ, khi nói về các nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng hiện nay, đã có nhiều người quy trách nhiệm cho các chuyên gia kinh tế. Có thật là các chuyên gia kinh tế là những người góp phần tạo nên cuộc khủng hoảng hiện nay và họ phải chịu trách nhiệm về các hậu quả này hay không? Để trả lời câu hỏi này, phải quay lại bản chất của kinh tế học là gì và việc ứng dụng nó trong thực tế như thế nào.

Bản chất của kinh tế học

Trước hết phải nói rằng nền kinh tế của Việt Nam hôm nay không còn là nền kinh tế của 30 năm trước. Các lý thuyết và kinh nghiệm về quản lý kinh tế trong một nền kinh tế chỉ huy không còn chút giá trị đáng kể nào trong một nền kinh tế thị trường. Kinh tế học ở đây được hiểu là khoa học kinh tế nghiên cứu về nền kinh tế thị trường. Nó khởi đầu bằng các cố gắng giải thích các hiện tượng diễn ra trên thị trường mà nhìn có vẻ như mang tính quy luật.

Các nhà kinh tế học trước đây, và cho tới tận bây giờ, đều đưa ra các lý thuyết dựa trên việc khái quát hoá các hiện tượng quan sát được. Để nghiên cứu, họ phải dựa trên các giả định, phải đưa ra các công cụ phân tích logic, toán học, và khoa học định lượng để giải thích và dự đoán.

Cùng một vấn đề, nhưng có nhiều cách nhìn rất khác nhau giữa các nhà kinh tế. Một thí dụ “vỡ lòng” trong kinh tế học là câu chuyện thị trường phản ứng nhanh hay chậm đối với một thay đổi trong chính sách. Có hai trường phái lớn có cách nhìn khác nhau về việc này, đó là trường phái cổ điển (sau này là trường phái tân - cổ điển), và một trường phái khác là trường phái Keynes. Thí dụ, cùng một chuyện nhà nước in tiền trong điều kiện nền kinh tế đang có tỷ lệ thất nghiệp thấp, các nhà kinh tế cổ điển cho rằng nó chỉ dẫn đến lạm phát vì thị trường sẽ hầu như ngay lập tức điều chỉnh. Trong khi đó, trường phái Keynes cho rằng thị trường cần thời gian để điều chỉnh, vì thế trong ngắn hạn, tăng cung tiền dẫn đến tăng công ăn việc làm và tổng sản lượng của nền kinh tế.

Những nhà kinh tế học theo trường phái Keynes luôn cổ vũ cho sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Vì thế nhiều khi họ còn được gọi là trường phái can thiệp. Cho đến giờ, vẫn có rất nhiều nhà kinh tế học lớn của thế giới là những đệ tử nhiệt thành của trường phái này. Paul Krugman, khôi nguyên giải Nobel kinh tế năm 2008, là một người như vậy. Ông liên tục cổ suý cho sự can thiệp hết sức mạnh mẽ của nhà nước vào nền kinh tế kể từ năm 2008 trở lại đây, đặc biệt là việc thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng hết cỡ (lãi suất bằng không) và tăng chi tiêu của chính phủ để cứu nền kinh tế ra khỏi khủng hoảng.

Đối ngược lại là các nhà kinh tế học theo trường phái cổ điển, họ cổ vũ cho một thị trường tự do, tự điều chỉnh, giảm can thiệp của nhà nước. Trong khoảng vài năm trở lại đây, trường phái này có ảnh hưởng rất lớn đến hệ thống các chính sách gọi là austerity (thắt lưng buộc bụng) vốn được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước. Quan niệm của họ là thị trường có thể tự điều chỉnh. Nhà nước chỉ làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng khi tăng chi tiêu (và vì thế gánh nặng nợ công thêm chồng chất) và nới lỏng tiền tệ (dẫn tới lạm phát).

Tiếp cận cùng một vấn đề, nhưng kinh tế học lại đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau, nhiều mô hình hay lý thuyết khác nhau. Nhiều khi các lý thuyết này lại dẫn tới những khuyến nghị về chiến lược hoàn toàn trái ngược nhau. Vì thế, dù được gọi là một khoa học, nó thường không cho người ta một đáp án duy nhất. Chuyện tranh luận, thậm chí cãi cọ, giữa các nhà kinh tế về một khuyến nghị chiến lược (dù là cho nhà nước hay cho doanh nghiệp) là chuyện hết sức bình thường.

Nói như vậy không có nghĩa kinh tế học là một thứ khoa học vô dụng. Kinh tế học cung cấp cho mọi người các công cụ để tư duy. Người ta có thể xuất phát từ niềm tin khác nhau, và vì thế có các giả định khác nhau. Nhưng khi đã có hệ thống các giả định này, cũng giống như các nguyên liệu đầu vào của một nhà máy, nó sẽ ra một loại thành phẩm nhất định. Quy trình này là một quy trình khoa học. Vì thế, nó ngăn ngừa sự tuỳ tiện trong tư duy và trong ra quyết định.

Giới chuyên gia kinh tế ở Việt Nam

Khác với nhiều nước có truyền thống nghiên cứu kinh tế học, Việt Nam thiếu vắng những nhà kinh tế chuyên nghiên cứu lý thuyết. Các chuyên gia kinh tế ở Việt Nam phần nhiều là các chuyên gia thực hành – tức là những người tìm cách ứng dụng các học thuyết kinh tế vào đời sống, thí dụ như tư vấn chính sách, làm chiến lược, hoặc thực hiện các chương trình nghiên cứu thực nghiệm nhất định.

Đội ngũ chuyên gia này của Việt Nam ban đầu được hình thành từ các công chức làm việc trong các cơ quan quản lý, các Bộ, các viện nghiên cứu, và các trường đại học của nhà nước. Trên nguyên tắc, các chuyên gia này không phải là các chuyên gia độc lập. Họ là một phần của bộ máy hành chính được kỹ trị hóa. Lập trường, định hướng, và phát ngôn của họ không thể tách rời khỏi vai trò của cơ quan nơi họ làm việc.

Đội ngũ này được nhà nước tuyển dụng để tham mưu cho nhà nước trong các quyết sách về kinh tế, thậm chí một số (ít) người còn được bổ nhiệm vào các vị trí quan trọng có quyền lực ban hành các chính sách. Trách nhiệm của họ, dù là đứng dưới góc độ trực tiếp ra quyết định hay dưới góc độ tham mưu, cũng là để giúp nhà nước điều hành nền kinh tế có hiệu quả hơn. Vì thế, khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng, họ cũng có một phần trách nhiệm.

Gần đây đã bắt đầu xuất hiện nhiều hơn các chuyên gia có thể coi là độc lập. Họ là các quan chức đã nghỉ hưu, giảng viên các trường đại học tư thục, nhân viên các công ty hoặc tổ chức tư nhân, và một số chuyên gia và giáo sư Việt Nam ở nước ngoài. Con số này còn khá ít ỏi và họ cũng không được tiếp cận nhiều đến các nguồn thông tin hoặc số liệu quan trọng của nhà nước. Họ cũng không được tham gia nhiều vào các chương trình hoặc các dự án của nhà nước. Mặc dù có thể xuất hiện nhiều trên báo chí hay diễn đàn, họ không phải là những người thực sự có ảnh hưởng tới các quyết sách của bộ máy hành chính.

Tuy thế, các chuyên gia độc lập lại có một vai trò quan trọng. Đó là phản biện chính sách. Những người phản biện khác với những người làm chính sách ở chỗ họ không nhất thiết phải đưa ra các đề xuất hoàn chỉnh như người làm chính sách, mà họ sẽ tập trung hơn vào việc chỉ ra các chỗ sai lầm trong các đề xuất hay dự thảo của những người làm chính sách. Nói nôm na, họ không cần phải đẻ ra trứng gà nhưng có thể chỉ ra quả trứng nào ung, quả trứng nào không.

Những ý kiến phản biện có cần thiết hay không? Đương nhiên là cần thiết vì nó giúp công chúng, những người làm chính sách, và những người ra quyết định có thêm một góc nhìn mới.

Người phản biện có cần phải có tinh thần trách nhiệm cao hay không? Đương nhiên là cần. Trên thực tế, những người phản biện sẽ phải chịu rủi ro về uy tín cá nhân khi đưa ra những ý kiến ngây thơ, sai lầm, hoặc lập luận thiếu thực tế. Tuy nhiên, những người phản biện thường không được trả công để phản biện chính sách. Vì thế không thể quy lỗi cho họ khi phản biện sai. Nếu quy trách nhiệm với các ý kiến phản biện, thì cuối cùng sẽ không có ý kiến phản biện nữa.

Như đã nói ở trên, bản chất của kinh tế học là sự đa dạng. Kinh tế học hiếm khi đưa ra một đáp số duy nhất cho một vấn đề cụ thể. Vì thế, việc tồn tại các lập trường khác nhau, các đề xuất khác nhau, các ý kiến khác nhau giữa các nhà kinh tế trên mỗi vấn đề đang gặp phải của nền kinh tế là chuyện đương nhiên. Vai trò của các nhà chính trị là trên quan điểm và lập trường của mình, phải xây dựng được bộ máy trên cơ sở tuyển trọn những nhà kinh tế phù hợp nhất với công việc mà nhà chính trị cần phải thực hiện.

Sẽ luôn có những ý kiến phản biện, thậm chí gay gắt, với lập trường và chính sách của nhà nước. Điều đó là rất cần thiết và phải được khuyến khích. Không thể coi việc có nhiều ý kiến trái chiều là việc làm cho bức tranh thêm rối, mà đó là sự đa dạng làm cho bức tranh thêm đẹp. Càng có nhiều luồng ý kiến khác nhau thì những người ra quyết định càng có thông tin và lựa chọn khi ra quyết định.Trách nhiệm cuối cùng thuộc về các nhà chính trị và bộ máy mà các nhà chính trị này tuyển chọn chứ nó không thuộc về những người phản biện đứng ngoài bộ máy nhà nước trừ chính uy tín cá nhân của người phản biện.

* Blog của Tiến sĩ Trần Vinh Dự là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.

Thứ Tư, 9 tháng 1, 2013

2012 Kinh tế VNCH=Nhìn lại 1954-1975


Kinh tế Việt Nam Cộng hòa
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa cho đến năm 1975 là một nền kinh tế thị trường, đang phát triển, và mở cửa. Mức độ tự do của nền kinh tế khá cao trong những năm 1963 đến 1973. Tuy nhiên, phát triển kinh tế vẫn được triển khai dựa trên các kế hoạch kinh tế 5 năm hoặc kế hoạch bốn năm. Nền kinh tế ổn định trong gần 10 năm đầu tiên, sau đó do tác động của chiến tranh leo thang trở nên mất ổn định với những đặc trưng như tốc độ tăng trưởng kinh tế không đều, tỷ lệ lạm phát cao, thâm hụt ngân sách nhà nước  thâm hụt thương mại. Chính quyền đã phải tiến hành cải cách ruộng đất tới hai lần.
Mỹ đóng vai trò to lớn đối với phát triển kinh tế của Việt Nam Cộng hòa thông qua viện trợ kinh tế cũng như hỗ trợ kỹ thuật. Một đặc điểm khác là sự lũng đoạn đáng kể của giới thương nhân người Hoa đối với nền kinh tế.[1]
Tính chung giai đoạn 1955-1975, kinh tế Việt Nam Cộng hòa phát triển trung bình 3,9%/năm (bình quân đầu người tăng 0,8% mỗi năm), trong khi kinh tế Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phát triển bình quân 6%/năm (GDP đầu người tăng khoảng 3% mỗi năm). Tính trung bình toàn Việt Nam thì GDP đầu người tăng 1,9%/năm[2]
Các giai đoạn phát triển
Giai đoạn Pháp thuộc tới trước 1955
Kinh tế Việt Nam lúc này chủ yếu là một nền kinh tế thuộc địa để hỗ trợ cho Pháp chứ không có kế hoạch tự túc hoặc phát triển theo khả năng bản xứ. Toàn quyền Pasquier khẳng định: "Lợi nhuận từ Đông Dương phải trao lại cho nước Pháp". Đông Dương là nguồn nguyên liệu và vật liệu bán chế trong khi mẫu quốc Pháp cung ứng những sản phẩm chế biến để bán sang Đông Dương.
Về mặt nông lâm, cơ chế đồn điền nhất là đồn điền cao su để cung cấp cho thị trường Âu Mỹ là một điển hình. Cây cao su Hevea brasiliensis đầu tiên đem từ Mã Lai sang trồng ở Đông Dương là vào năm 1897 ở Sài Gòn. Đến năm 1905 thì cạo mủ thấy sản xuất được nên bắt đầu phát động đem trồng nhiều nơi.[3] Miền Đông Nam Kỳ là một trong những địa phương phản ánh tập trung những yếu tố của đồn điền cao su – ngành đại diện cho hoạt động nông nghiệp thực dân hiện đại.
Sài Gòn là trung tâm chính trị – kinh tế – văn hoá – xã hội của miền Nam. Năm 1859, người Pháp chiếm thành Gia Định và bắt đầu công cuộc quy hoạch xây dựng Gia Định – Sài Gòn thành một đô thị lớn kiểu phương Tây, là một trung tâm đa chức năng phục vụ cho việc khai thác thuộc địa. Rất nhanh chóng, các công trình quan trọng của thành phố như Dinh Thống đốc, Phủ Toàn quyền... được thực hiện. Sau hai năm xây dựng, bộ mặt Sài Gòn hoàn toàn thay đổi. Sài Gòn sau đó được thực dân Pháp ngợi ca là "hòn ngọc Viễn Đông" để chỉ nơi vui thú xa xỉ nổi tiếng tại các thuộc địa phía Đông của Pháp.
Nguồn lợi xuất khẩu lúa gạo, đã kích thích thực dân Pháp cướp đoạt ruộng đất và lôi cuốn cả giai cấp địa chủ phong kiến Việt Nam vào guồng máy thương nghiệp, hình thành nên tầng lớp thương nhân tư sản mại bản rất sớm và khá đông ở Sài Gòn – Gia Định đầu thế kỷ XX. Pháp ưu đãi tư bản người Hoa: cho lãnh thầu xây cất, thu mua lúa từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, lập nhà máy xay lúa gạo, cho công khai mở các loại cửa hàng độc quyền, công khai mở cả cửa tiệm thuốc phiện, sòng bạc  nhà thổ. Tư bản người Hoa dần lũng đoạn kinh tế miền Nam cho tới các giai đoạn sau này.
Theo phân tích của Madison (1995) thì GDP đầu người của Nam Việt Nam cuối thế kỉ 19 vào loại cao nhất châu Á, ngang ngửa với Nhật bản, cao hơn Thái lan. Tuy nhiên, thứ hạng GDP đầu người của Nam Việt Nam đã dần giảm xuống từ sau năm 1930, tới thập kỷ 1960 đã trở thành một trong những mức thấp nhất châu Á.
Giai đoạn 1955-1965
Đây là giai đoạn mà kinh tế của Việt Nam Cộng hòa tăng trưởng tương đối nhanh, song vẫn giữ được mức độ tăng giá vừa phải. Ngân sách Nhà nước thời gian đầu cân đối thậm chí có thặng dư, song từ năm 1961 trở đi bắt đầu chuyển sang thâm hụt. Mức độ đầu tư lớn, nông  công nghiệp nói chung đều phát triển mạnh.
Năm 1955, chính quyền Đệ nhất Cộng hòa thời Tổng thống Ngô Đình Diệm quyết định thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam, Viện Hối đoái, phát hành đơn vị tiền tệ mới thay cho tiền Đông Dương, ấn định tỷ giá hối đoái giữa đồng Việt Nam Cộng hòa và dollar Mỹ là 35:1.
Năm 1956, Việt Nam Cộng hòa ban hành hiến pháp trong đó có nêu rõ việc thành lập và vai trò của Hội đồng Kinh tế Quốc gia. Phó Tổng thống sẽ làm chủ tịch hội đồng này. Cũng năm 1956, Việt Nam Cộng hòa gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế.[4]
Tháng 3 năm 1957, Ngô Đình Diệm đọc Tuyên ngôn của Tổng thống Đệ nhất Cộng hòa trong đó có kêu gọi đầu tư của tư nhân trong và ngoài nước, cam kết về những quyền lợi họ và những khuyến khích đầu tư (ưu đãi về thuế thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh, thuế lợi tức).
Để khuyến khích phát triển doanh nghiệp, chính phủ đã thành lập Trung tâm Khuếch trương Kỹ nghệ để giúp đỡ các doanh nhân khởi nghiệp, giúp đỡ các doanh nghiệp về công nghệ  tín dụng, hỗ trợ công nghệ và hướng dẫn đầu tư cho doanh nghiệp.
Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đã tích cực triển khai chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu. Các hàng rào thuế quan và phi thuế quan được dựng lên để bảo hộ một loạt ngành công nghiệp nhẹ. Kết quả phải kể đến nhà máy giấy đầu tiên ở Việt Nam: nhà máy giấy Cogido An Hảo (1961) ở Biên hòa, thỏa mãn 30-40% nhu cầu tiêu thụ giấy trong nước[5]; hai xưởng dệt Vinatexco và Vimytex với năng suất 13,2 triệu mét vải mỗi năm; nhà máy thủy tinh Khánh Hội năng suất 15.000 tấn/năm; hai nhà máy xi măng, một ở Hà Tiên, một ở Thủ Đức với năng suất 540.000 tấn mỗi năm; và đập thủy điện Đa Nhim, hoàn thành năm 1961[6]. Đồng thời, các loại máy móc, kim loại - những đầu vào cho các ngành được bảo hộ - được ưu tiên nhập khẩu. Trong khi hạn chế nhập khẩu, xuất khẩu được khuyến khích. Một số mặt hàng xuất khẩu còn được chính quyền trợ cấp. Ngay cả tỷ giá hối đoái cũng được điều chỉnh thuận lợi cho xuất khẩu (thông qua trừ đi một mức phụ đảm). Thời kỳ 1955-1965 là thời kỳ tốt đẹp nhất của xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa.
Vai trò của chính phủ trong phát triển kinh tế còn thể hiện rõ qua việc triển khai kế hoạch kinh tế 5 năm (Việt Nam Cộng hòa gọi làNgũ niên Kinh tế Kế hoạch do Tổng nha Kế hoạch thiết kế) từ năm 1957 tới 1962 (Kế hoạch Ngũ niên I) và từ năm 1962 tới 1966 (Kế hoạch Ngũ niên II). Chính phủ VNCH còn thành lập khu công nghiệp (hay khu kỹ nghệ theo cách gọi tại VNCH lúc đó) để tạo thuận lợi cho đầu tư vào lĩnh vực chế tạo. Cụ thể, Khu kỹ nghệ Biên Hòa được thành lập vào tháng 5 năm 1963, và Công ty Quốc gia Khuếch trương Khu Kỹ nghệ (SONADEZI - Société nationale du Dévelopment dé zones industrielles) được thành lập vào tháng 12 năm 1963 để quản lý và phát triển các khu công nghiệp, Khu kỹ nghệ Phong Dinh(Cần Thơ ngày nay) được thành lập vào năm 1967, chưa kể đến Khu kỹ nghệ An Hòa - Nông Sơn(Quảng Ngãi) được thành lập từ trước đó.[7] Bên cạnh đó, để khuyến khích đầu tư tư nhân, chính quyền VNCH đã có các biện pháp hỗ trợ về tín dụng, chẳng hạn như thành lập Quốc gia Doanh Tế Cuộc vào năm 1955 mà sau đó được thay thế bằng Trung Tâm Khuếch Trương Kỹ Nghệ vào năm 1958, để hỗ trợ các doanh nghiệp mới (theo cách gọi ngày nay là ươm tạo doanh nghiệp), hướng dẫn cho các doanh nghiệp về mặt công nghệ và tài chính, cho doanh nghiệp vay với lãi suất thấp.[8]
Ở nông thôn thì Cải cách ruộng đất (lúc đó gọi là "Cải cách điền địa") được triển khai từ năm 1955 và kéo dài tới cuối năm 1960. Những ruộng đất của địa chủ bỏ hoang sẽ bị thu hồi và cấp cho tá điền. Địa chủ không được phép sở hữu quá 100 hecta đất (riêng các đồn điền dù hơn 100 ha vẫn được phép). Số dư ngoài 100 ha sẽ bị buộc phải bán cho chính quyền để bán lại cho tá điền. Tá điền được yêu cầu lập hợp đồng khai thác ruộng đất với địa chủ, gọi là khế ước tá điền trong đó có ghi mức địa tô mà tá điền phải trả cho địa chủ. Thời hạn khế ước là 5 năm, có tái ký. Tá điền có quyền trả đất và phải báo trước chủ đất 6 tháng. Chủ đất muốn lấy đất lại phải báo trước tá điền 3 năm. Do mức hạn điền lớn (100 ha), đường lối cải cách ruộng đất này vẫn để lại hai phần ba diện tích đất canh tác của Việt Nam Cộng hòa trong tay tầng lớp địa chủ.[9] Do đó, chính quyền Đệ nhị Cộng hòa với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu sau này phải làm lại cải cách ruộng đất.
Những chính sách phát triển kinh tế của chính quyền Việt Nam Cộng hòa giai đoạn này có thể coi là tiến bộ, song bất ổn định chính trị (xung đột vũ trang giữa các phe phái, đảo chính, sự nổi dậy của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam) đã hạn chế các chính sách nói trên phát huy hiệu quả.
Giai đoạn 1965 - 1969
Đây là thời kỳ mà nền kinh tế không chính thức (kinh tế ngầm) phát triển rất mạnh, thâm hụt ngân sách gia tăng, giá cả tăng nhanh ở tốc độ phi mã, tiền đồng Việt Nam Cộng hòa liên tục bị phá giá, kinh tế suy thoái. Chiến tranh ngày càng tác động tiêu cực tới phát triển kinh tế, nhất là Sự kiện Tết Mậu Thân. Suốt 4 năm 1965-1968, kinh tế tăng trưởng âm, đỉnh điểm là năm 1967 bị âm 17%.[10]
Năm 1965, Việt Nam Cộng hòa đang từ xuất khẩu lúa gạo chuyển sang nhập khẩu lúa gạo. Nhập khẩu gạo tiếp tục đến tận năm 1975. Sản lượng giảm sút trong các năm từ 1965 đến 1968 là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng đảo chiều này. Tuy nhiên, sản lượng đã tăng liên tục từ sau đó do diện tích canh tác lúa lẫn năng suất ngày càng tăng. Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam Cộng hòa đạt được nhiều tiến bộ nhờ sử dụng phân bón hóa học, cơ giới hóa, sử dụng giống mới. Vì vậy, nguyên nhân chính của việc Việt Nam Cộng hòa phải nhập khẩu gạo là do nhu cầu gạo từ vùng do Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam kiểm soát tăng lên cùng với sự thâm nhập ngày càng nhiều của lực lượng từ miền Bắc Việt Nam.[11]
Từ năm 1965, đường lối sản xuất thay thế nhập khẩu bị gác lại. Một số ngành công nghiệp non trẻ như dệt, sản xuất đường bỗng dưng không được bảo hộ nữa nên gặp khó khăn. Nhưng một số ngành khác lại có cơ hội phát triển. Nhìn chung, công nghiệp vẫn tăng trưởng, trừ năm 1968 và sau đó là năm 1972 bị giảm sút do tác động của chiến tranh.
Nạn lạm phát diễn ra nghiêm trọng với tỷ lệ trung bình trên 30-40%/năm, giá cả mọi hàng hóa đều tăng vọt. Theo thống kê, giá một số thực phẩm vào cuối năm 1965 và cuối năm 1967 như sau: 1 kg thịt gà tăng từ 96 đồng lên 309 đồng (gấp 3,2 lần); 1 kg thịt vịt tăng từ 63 đồng lên 203 đồng (gấp 3,2 lần); 1 kg tôm tươi tăng từ 62 đồng lên 216 đồng (gần 3,5 lần). Trên chợ đen, giá 1 USD lên tới 270 đồng và không ngừng tăng đến 360 đồng (1969), 414 đồng (1971), 640 đồng (1974), 700 đồng (1975).
Một sự kiện kinh tế đáng chú ý trong giai đoạn này là Chiến dịch Bông Lan. Đây là mật danh của chiến dịch cải cách tiền tệ do chính phủ Nguyễn Văn Thiệu thực hiện từ ngày 18 tháng 6 năm 1966. Loạt tiền đồng Việt Nam Cộng hòa mới được phát hành. Loạt này còn được gọi là "giấy bạc Đệ nhị Cộng hòa". Với tư cách là Chủ tịch Uỷ ban hành pháp Trung ương, Nguyễn Cao Kỳ ký sắc lệnh về những “biện pháp kinh tế để ổn định nền kinh tế” bằng cách phá giá đồng bạc miền Nam, tăng giá hàng lên 100%, tỷ giá chính thức từ 60 đồng đổi 1 đôla tăng lên 117 đồng đổi 1 đôla.
Nguyên nhân của chiến dịch cải cách tiền tệ này là do lạm phát cao sự thâm hụt ngân sách lớn. Một trong những nguyên nhân quan trọng là do quân Mỹ đổ vào miền Nam ngày càng đông, nhưng lính Mỹ không dùng đồng đôla mà dùng tín phiếu, gọi là đồng “đôla đỏ”. Trước đây mỗi đôla Mỹ đổi được 60 đồng tiền miền Nam. Nhưng khi đổi từ đôla sang tiền miền Nam thì ngoài 60 đồng theo quy định còn cộng thêm khoản “phụ cấp hối suất” thành 73 đồng rưỡi. Mỗi “đôla đỏ” đổi được 118 đồng miền Nam, thì Việt Nam Cộng hòa phải trả thêm cho lính Mỹ 58 đồng miền Nam một đôla. Theo báo Chính luận (14-2-1966), vào cuối năm 1965, đầu 1966, mỗi tháng lính Mỹ tiêu ở thị trường miền Nam chừng 10 triệu “đôla đỏ”, thì Sài Gòn phải trả thêm cho lính Mỹ 580 đến 600 triệu đồng tiền miền Nam, hàng năm phải trả hơn 7 tỷ đồng, tương đương 40% ngân sách. Để bù vào chỗ thâm hụt đó, chính quyền Sài Gòn chỉ còn cách là in ra nhiều giấy bạc. Khối tiền giấy lưu hành ở miền Nam ngày càng tăng lên, cuối năm 1965 là 18 tỷ, đến tháng 7-1966 đã lên đến 57 tỷ. Giấy bạc in ra nhiều tất yếu dẫn đến lạm phát ngày càng nghiêm trọng (báo chí gọi là lạm phát phi mã).[12]
Thập niên 1960 trong những năm đầu tình hình kinh tế VNCH còn khá triển vọng. Năm 1960 miền Nam vẫn còn xuất cảng được gạo với tổng xuất là 340.000 tấn nhưng sau đó do các cuộc tiến công của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, nông thôn bắt đầu thiếu an ninh, xuất cảng gạo xuống dần, tới năm 1962 chỉ còn 85.000 tấn. Từ 1965 trở đi thì phải chuyển sang nhập, có năm lên tới 760.000 tấn. So với năm 1939: xuất cảng gạo của riêng Nam Bộ lên tới gần hai triệu tấn. Tới năm 1954 cũng vẫn còn 520.000 tấn [13]
Bộ mặt các đô thị lớn được nâng cao, xuất hiện những cao ốc, đường sá theo thiết kế phương Tây. Nhưng những công trình này được xây dựng chủ yếu bằng vốn viện trợ của Mỹ chứ không phải ở vốn nội tại của nền kinh tế. Nó tương phản với tình trạng lạc hậu ở các khu ổ chuột lớn của di dân từ nông thôn kéo về, cũng như đại đa số các vùng nông thôn và đô thị nhỏ. Bên cạnh số ít người có quan hệ với Mỹ và VNCH được hưởng lợi từ viện trợ, đại bộ phận nhân dân lao động có cuộc sống khó khăn do lương thấp và lạm phát cao. Họ lập ra Ủy ban bảo vệ quyền lợi lao động, Ủy ban đấu tranh chống sa thải công nhân, Ủy ban cải thiện đời sống công nhân, v.v... để đòi giới chủ phải tăng lương, hạ giá sinh hoạt, chống đuổi thợ dưới bất kỳ hình thức nào.[14] Theo phúc trình của VECCO xuất bản tháng 1-1975 thì: Sài Gòn năm 1974 có 3 triệu dân thì có đến 60 vạn người thất nghiệp. Chênh lêch giàu nghèo rất lớn khi thu nhập của thiểu số "tầng lớp trên" chiếm 43,5% GDP, tầng lớp dưới chỉ đạt 1,8%.
Nhìn chung, theo giáo sư Đặng Phong, sự phồn vinh ở các đô thị chỉ là vẻ bề ngoài mang tính giả tạo, nếu không có viện trợ thì nội tại nền kinh tế miền Nam không thể duy trì nổi sự phồn vinh đó.
Giai đoạn 1969-1975
Kinh tế trở nên khó khăn do tổng cầu giảm sút đột ngột (hậu quả của việc quân đội Mỹ và đồng minh rút dần). Thâm hụt ngân sách thêm gia tăng bất chấp việc thu ngân sách nội địa và viện trợ kinh tế của Mỹ nhiều hơn mà lý do là chính quyền phải tự đảm đương nhiều hoạt động quân sự hơn. Lạm phát tiếp tục ở mức phi mã. Năm 1970, tỷ lệ lạm phát (tính toán dựa trên chỉ số giá tiêu dùng tại Sài Gòn áp dụng cho tầng lớp lao động) lên tới 36,8%. Năm 1973, tỷ lệ lạm phát là 44,5%. Những năm cuối cùng của Việt Nam Cộng hòa, 1973-1975, các chính sách hạn chế nhập khẩu, khuyến khích xuất khẩu, đẩy mạnh tiêu dùng trong nước được triển khai. Kim ngạch xuất khẩu gia tăng, nhưng kim ngạch nhập khẩu không giảm, thậm chí còn tăng.
Những năm 1969-1971, sau sự kiện Tết Mậu Thân, du kích bị đẩy lùi nên tình hình an ninh ở nhiều nơi được cải thiện. Ngày 26 tháng Ba, 1970 chương trình "Người cày có ruộng" bắt đầu đã chia gần một triệu mẫu ruộng cho nông dân không phải trả tiền[15]. Chính phủ bán công khố phiếu lấy tiền mua lại ruộng đất của điền chú rồi chia cho nông dân. Người nào có quá 15 mẫu phải bán đất còn lại. Đang từ tá điền, bốn triệu nông dân trở thành gia chủ nhưng việc sở hữu ruộng đất có hai mặt: được hưởng trọn vẹn kết quả mình làm ra nhưng cũng phải chịu rủi ro của mùa màng, thời tiết.
Đến năm 1971 thì lúa thần nông (tức loại lúa giống IR-3 phát xuất ở Phillippines) đã được trồng trên 2,6 triệu mẫu ruộng, bằng 42% diện tích canh tác. Sản lượng thóc lên trên bảy triệu tấn, cao hơn năm 1966 là 63%. Nhập cảng gạo xuống chỉ còn 160.000 tấn.[16] Nhiều quan sát viên quốc tế đã cho chương trình "Người cày Có ruộng" là một trong những chương trình cải cách điền địa thành công nhất[15].
Nhằm khôi phục sản xuất sau Sự kiện Tết Mậu Thân,chính quyền VNCH đã thành lập "Quỹ Tái Thiết Cơ Sở Sản Xuất" vào ngày 19 tháng 4 năm 1968 nhằm cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp bị tàn phá.[17] Để khuyến khích nông nghiệp phát triển và "xoa dịu bộ phận dân cư" ở nông thôn, chính quyền đã triển khai lại cải cách ruộng đất dưới cái tên chương trình Người cày có ruộng vào năm 1970 với mục tiêu cấp không 1,5 triệu hecta ruộng lúa cho 80 vạn hộ nông dân, đồng thời cấp giấy chứng nhận sở hữu ruộng đất cho nông dân. Ba năm sau khi triển khai chương trình này, tổng cộng có 75 vạn hộ gia đình, gồm khoảng 5 triệu người, đã được cấp đất. Chương trình này đã tạo ra một tầng lớp tiểu nông đông đảo, thúc đẩy kinh tế hàng hóa trong nông nghiệp phát triển. Nông dân hăng hái sản xuất và năng suất lao động trong sản xuất lúa gạo tăng lên nhanh chóng. Đời sống của nông dân được cải thiện.[18] Năm 1972, chính quyền thành lập "Quỹ Phát Triển Kinh tế Quốc gia" nhằm "tài trợ tất cả dự án có tánh cách khuếch trương, canh tân hay tân tạo thuộc các ngành canh nông, kỹ nghệ và dịch vụ".[19] Từ năm 1972, một kế hoạch kinh tế 4 năm được triển khai. Tính đến năm 1972 diện tích canh tác lúa tổng cộng khoảng gần 2,8 triệu hecta, trong đó duyên hải miền Trung chiếm khoảng nửa triệu và miền Nam với 2,3 triệu.[20]
Do cải tiến kỹ thuật và giống lúa mới đã nâng sản xuất nông nghiệp lên tới bảy triệu tấn thóc vào năm 1973, tương đương bằng 4,6 triệu tấn gạo, gần tới mức đủ ăn. Dự tính của Nam Việt Nam là chỉ tới 1976 đã có thể xuất cảng.
Cây công nghiệp được đẩy mạnh để thay thế nhập cảng: sản xuất thuốc lá đã tới trên 18.000 tấn so với 9.000 tấn năm 1971; mía đường lên trên 900.000 tấn, gần gấp ba mức 1970. Dự phóng cho 1975 là sẽ tăng gấp đôi, tức 1,8 triệu tấn. Ngô bắp thì từ 31.000 tấn (1970), tăng lên trên 50.000 tấn (1974). Đồn điền cao su với diện tích hơn 100.000 hecta vào năm 1968 sản xuất chỉ hơn 20.831 tấn năm 1969 nhưng đến năm 1970 đã đạt 24.100 tấn[21] lại có khả năng phục hồi sản xuất trên 70.000 tấn cao su như mức tiền chiến.[22] Xuất cảng tôm và hải sản từ vỏn vẹn 500.000 lên gần 11 triệu đô la. Dự đoán cho 1975 là 30 triệu. Tổng số xuất cảng năm 1973 lên tới 53 triệu, tăng gấp ba lần năm 1972.
Tháng ba 1972, quân đội Nhân dân Việt Nam tấn công mạnh trên vùng vĩ tuyến. Đà tiến triển kinh tế bỗng khựng lại do trên 200 cầu bị hư hại, đường sá bị phá huỷ, 40% sản xuất cao su bị mất vì rừng cao su đã thành bãi chiến trường. Thêm mấy trăm ngàn người nữa từ miền vĩ tuyến chạy vào phía nam, làm cho số người di cư tăng vọt lên 1,2 triệu. Áp lực nhu cầu tiếp tế lương thực, nước uống, thuốc men, vệ sinh, lều trại cho những người chạy nạn chiến tranh càng thêm nặng. Lại là năm mất mùa vì hạn hán nên nhập cảng gạo nhảy lên 284.000 tấn.
Tuy nhiên, vào những tháng cuối năm 1972, khi chiến cuộc tạm lắng, tình hình lại trở nên khá hơn, và nền kinh tế bắt đầu có dấu hiệu phục hồi trong vài tháng. Nhưng không lâu sau đó, Mỹ cắt giảm một nửa viện trợ, cùng với đó là cuộc Khủng hoảng dầu lửa 1973, kinh tế VNCH vốn phụ thuộc quá nhiều vào viện trợ nên lại lâm vào suy thoái. Giai đoạn 1974-1975, giá cả tăng vọt, nền kinh tế lâm vào đình đốn với mức tăng trưởng âm 5%, lạm phát vượt mức 200%.[23]
Cơ cấu kinh tế
Trong vòng 20 năm, xét theo giá trị sản lượng tuyệt đối, công nghiệp tăng khoảng 2,5 đến 3 lần, nhưng xét theo tỷ trọng trong GDP thì hầu như không tăng, thậm chí có những năm giảm nghiêm trọng xuống 6%.Nông-lâm-ngư luôn chiếm tỷ trọng khoảng 30% GDP. Còn tỷ trọng củakhu vực dịch vụ đã tăng nhanh chóng từ 45% lên 60%.
Quá trình phát triển của nền công nghiệp Việt Nam Cộng hòa trải qua một số giai đoạn.
·         Giai đoạn 1954-1956: Công nghiệp khá nghèo nàn với số lượng nhà máy ít ỏi có từ thời Pháp thuộc.
·         Giai đoạn 1957-1967: là giai đoạn bùng nổ của công nghiệp nhờ chính sách công nghiệp tích cực của chính quyền và nhờ các biện phápbảo hộ nền công nghiệp trong nước.
·         Giai đoạn 1967-1972: có sự phân hóa rõ rệt giữa các phân ngành. Những phân ngành như sản xuất đường  dệt không được bảo vệ nữa nên bị hàng ngoại tràn ngập bóp chết. Trong khi đó, những ngành như chế biến thực phẩm phục vụ quân nhu, chế biếngỗ, vật liệu xây dựng lại phát triển mạnh. Đặc biệt, ngành luyện kim phát triển rất nhanh mặc dù miền Nam Việt Nam không có những mỏ kim loại. Chính phế thải kim loại của chiến tranh mới là nguồn nguyên liệu dồi dào và rẻ cho ngành luyện kim. Trên cơ sở sự phát triển của ngành luyện kim, ngành gia công kim loại cũng phát triển vượt bậc.
·         Giai đoạn sau 1972: là giai đoạn suy thoái của nền công nghiệp nói chung. Nguyên nhân là thị trường tiêu thụ hàng công nghiệp dân dụng bị thu hẹp do quân đội Mỹ và đồng minh rút khỏi Việt Nam. Tuy nhiên, các ngành luyện kim và điện vẫn phát triển với nhiều nhà máy mới được xây dựng. Còn các ngành sản xuất vật liệu xây dựng là những ngành suy giảm mạnh. Cơ cấu công nghiệp của Việt Nam Cộng hòa tại thời điểm 1973 cho thấy công nghiệp của Việt Nam Cộng hòa chủ yếu là công nghiệp nhẹ. Công nghiệp nặng  hóa chất mới ở trình độ sơ khai. Nguyên liệu cho ngành chế tạo chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài.
Năm 1973, chính phủ đã tổ chức 2 vòng đấu thầu khai thác dầu lửa ngoài khơi thềm lục địa. Nhiều công ty khai thác dầu lửa nước ngoài đã tham gia, bất chấp là tình hình an ninh chưa ổn định. Chính phủ cấp giấy phép cho sáu tổ hợp công ty dầu lửa được khai thác 13 địa điểm trong một khu vực 82.000 km² mới chỉ là 16% của thềm lục địa. Tới tháng 10, 1974 hãng Mobil khoanmỏ Bạch Hổ, tại lô 04-TLD, tìm được dầu dưới độ sâu trên 2,7 km. Ước tính là vào cuối 1975, sẽ có ít nhất 20 giàn khoan. Sản xuất một lượng dầu khả quan sắp được bắt đầu muộn lắm là vào cuối năm 1977. Các Công ty dầu đề nghị Chính phủ hai điểm: thứ nhất, cho công ty đào ngay mà không phải qua thủ tục đấu thầu, hành chánh; thứ hai, khi khai thác được dầu sẽ chia đôi, một nửa cho công ty, một nửa cho Chính phủ.[15] Sau 1975, các mỏ dầu này do Liên doanh Vietsopetro của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quản lý và khai thác.
Về địa lý công nghiệp, hầu hết các cơ sở công nghiệp của Việt Nam Cộng hòa tập trung ở Sài Gòn, Gia Định, Biên Hòa. Ba địa phương này chiếm khoảng 85% tổng số xí nghiệp, 90% tổng sản lượng khu vực chế tạo.
Nông nghiệp là một khu vực kinh tế quan trọng của Việt Nam Cộng hòa. Các nông sản chính là lúa, cây công nghiệp (đặc biệt là cà phê). Việt Nam Cộng hòa đã có thời gian xuất khẩu cả gạo. Năm 1960 đánh dấu mức cao nhất trong lịch sử kinh tế Việt Nam Cộng hoà, với tổng xuất là 340.000 tấn. Từ năm đó, nông thôn bắt đầu thiếu an ninh, xuất cảng gạo xuống dần, và tới năm 1962, còn 85 ngàn tấn. Từ năm 1965, đã có lúc phải nhập cảng gạo. Nhờ những chính sách phát triển nông thôn, từ năm 1970, sản xuất lúa gạo tại miền Nam đã tăng trưởng. Thêm vào đó là nhờ tiến bộ kỹ thuật: loại lúa giống IR-3 phát xuất ở Philippines được đem vào đồng bằng Cửu Long, nhờ phát triển nhanh và tốt, còn được gọi là lúa Thần Nông. Đến năm 1971 thì lúa Thần Nông đã phủ được trên 2,6 triệu mẫu ruộng, bằng 42% diện tích canh tác[15].
Xuất nhập khẩu
Các nguồn nhập khẩu quan trọng đối với kinh tế Việt Nam Cộng hòa làMỹ, Pháp  Nhật Bản. Các mặt hàng nhập khẩu quan trọng trong thời kỳ trước năm 1965 là dầu hỏa, dược phẩm, sắt thép, máy móc, phân bón. Điều này phản ánh thực tế là Việt Nam Cộng hòa đang trong quá trình công nghiệp hóa. Các mặt hàng nhập khẩu quan trọng của thời kỳ sau 1965 là gạo, hàng tiêu dùng, nhiên liệu và vật tư. Sự thay đổi về cơ cấu nhập khẩu trước và sau năm 1965 chính là do tác động của chiến tranh tới sản xuất và nhu cầu trong nước. Sản xuất cầm chừng, nên nhập khẩu hàng tiêu dùng tăng lên. Trong khi đó quân nhu gia tăng dẫn tới nhập khẩu vật tư, nguyên liệu tăng cao.
Xuất khẩu của Việt Nam Cộng hòa chủ yếu là hàng thủy sản và nông-lâm nghiệp (gạo trước năm 1965, cao su). Hàng chế tạo xuất khẩu chỉ chiếm tỷ trọng rất khiêm tốn phản ánh quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam Cộng hòa chưa vượt qua giai đoạn thay thế nhập khẩu hàng công nghiệp nhẹ để chuyển sang xuất khẩu các sản phẩm này.
Suốt 20 năm tồn tại, Việt Nam Cộng hòa luôn nhập siêu. Thâm hụt cán cân thương mại khuếch đại từ năm 1965 vừa do kim ngạch nhập khẩu tăng, vừa do kim ngạch xuất khẩu giảm. Xuất khẩu giảm có thể là do chiến tranh khiến sản xuất nông nghiệp và thủy sản - hai nguồn hàng xuất khẩu chính - giảm đi. Còn nhập khẩu tăng cùng với viện trợ thương mại tăng khi chiến tranh leo thang và do nhu cầu hàng nhập khẩu tăng vọt cùng với sự hiện diện của quân đội Mỹ và đồng mình.
Trước năm 1959, giữa Việt Nam Cộng hòa và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có trao đổi thương mại. Từ năm 1959, trao đổi này chấm dứt khi quan hệ chính trị giữa hai bên trở nên căng thẳng hơn.[26]
Tài chính công
Ngân sách của chính quyền Việt Nam Cộng hòa luôn ở trong tình trạng thâm hụt mà nguyên nhân chính là các khoản chi cho quân sự luôn lớn hơn cho chi dân sự và càng ngày càng tăng. Mức thâm hụt đã tăng từ mức trên 50% một chút trong nửa cuốithập niên 1950 lên gần 70% đầu thập niên 1960 và đến 78,9% vào năm 1968.[27] Để bù đắp thâm hụt ngân sách, chính quyền đã nỗ lực cải cách hệ thống thuế nhằm tăng nguồn thu, bán dự trữ ngoại tệ (và kim loại quý) đồng thời phá giá nội tệ nhằm tăng thu từ thuế nhập khẩu và tăng mức thu tính bằng nội tệ từ bán ngoại tệ. Tuy nhiên, các biện pháp khẩn cấp để bù đắp thâm hụt ngân sách đã được áp dụng là vay của Ngân hàng Quốc gia, vay của các ngân hàng thương mại và bán công trái.
Trong cơ cấu chi ngân sách, chi tiêu quân sự luôn chiếm tỷ trọng lớn. Năm thấp nhất, 1959, là 41%. Năm cao nhất, 1968-1969, là 66%. Chi tiêu dân sự có tới 89% là chi trả lương cho đội ngũ công chức và quân nhân.[28]
Trong cơ cấu thu ngân sách từ nguồn nội địa, thu từ thuế chiếm một tỷ trọng lớn, từ 70% tới 85%. Nhờ cải cách hệ thống thuế, từ năm 1966, số thu từ thuế tăng nhanh, và đặc biệt nhanh trong các năm 1973-1974. Các sắc thuế cho số thu lớn là thuế thu nhập, thuế sản xuất và thuế rượu-bia, thuế thuốc lá.
Chính sách tiền tệ
Mức giá chung của nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa tương đối ổn định trong thời kỳ trước 1965. Những năm 1957-1958 và 1960, mức giá chung không những không tăng mà còn giảm (hiện tượng giảm phát). Sang thời kỳ chiến tranh leo thang, mức giá chung của nền kinh tế cũng leo thang mà nguyên nhân là chính quyền phải phát hành tiền nhiều hơn để chi tiêu cho chiến tranh và để đổi cho quân đội Mỹ và đồng minh chiến đấu tại Việt Nam Cộng hòa. Trước xu hướng lạm phát tăng tốc, chính quyền đã triển khai một số biện pháp kìm chế, trong đó có biện pháp phá giá tiền tệ đồng thời đẩy mạnh bán ngoại tệ trong dự trữ ngoại hối nhà nước để có thể thu hồi được nhiều hơn số tiền trong lưu thông về ngân khố quốc gia (biện pháp ngày 17-6-1966), tăng thuế (biện pháp ngày 23-10-1969), tăng lãi suất ngân hàng và áp dụng chế độ tỷ giá song song (biện pháp ngày 5-10-1970).[32]
Do mức giá chung tăng lên, chính quyền cũng đã có những thay đổi trong phát hành tiền. Nếu như trong thời kỳ giá cả ổn định trước năm 1965, tờ tiền giấy có mệnh giá cao nhất là tờ 1.000 đồng, thì năm 1975, các tờ mệnh giá 5.000 đồng và 10.000 đồng đã được phát hành.
Trong suốt hai mươi năm tồn tại, trong nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa luôn tồn tại đồng thời nhiều loại tỷ giá hối đoái giữa nội tệ với ngoại tệ bao gồm một số loại tỷ giá chính thức và một loại tỷ giá không chính thức (tỷ giá chợ đen). Đây là điều thường thấy ở các nền kinh tế đang phát triển. Các loại tỷ giá hối đoái chính thức gồm tỷ giá để tính toán củaNgân hàng Quốc gia Việt Nam và Viện Thống kê Quốc gia, tỷ giá áp dụng cho xuất khẩu, tỷ giá áp dụng cho nhập khẩu, tỷ giá áp dụng cho nhập khẩu bằng ngoại tệ từ dự trữ của nhà nước. Hai loại tỷ giá thứ hai và thứ ba bằng tỷ giá thứ nhất cộng hoặc trừ một mức theo quy định của chính quyền. Hệ thống nhiều tỷ giá này cho phép chính quyền linh hoạt trong điều tiết xuất nhập khẩu. Trong những năm 1972-1973, chính quyền đã điều chỉnh tỷ giá chính thức áp dụng cho xuất khẩu lên cao hơn cả tỷ giá thị trường chợ đen nhằm thúc đẩy xuất khẩu. Cùng lúc đó, tỷ giá áp dụng cho nhập khẩu lại được điều chỉnh xuống thấp hơn cả tỷ giá chính thức để tính toán và thống kê nhằm mục đích hạn chế nhập khẩu. Tháng 1 năm 1955, tỷ giá chính thức loại dùng để thống kê giữa Đồng và Dollar Mỹ là 35:1, trong khi tỷ giá ngoài thị trường là 180:1. Tháng 12 năm 1974, giá trị tương ứng của hai loại tỷ giá đó lần lượt là 685:1 và 721:1.
Vai trò của Hoa Kỳ
Hỗ trợ tài chính
Hỗ trợ tài chính của Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng hòa chính là các khoản viện trợ kinh tế bao gồm viện trợ thương mại (nhằm hỗ trợ nhập khẩu và hỗ trợ ngân sách nhà nước), viện trợ nông phẩm (dưới hình thưc hiện vật là các lương thực và thực phẩm), viện trợ theo dự án (có thể bằng tiền hoặc hiện vật cho từng dự án cụ thể trong các lĩnh vực hành chính, xã hội, kinh tế-văn hóa).
Nếu xét theo tính chất cho vay hoặc cho không, thì phần lớn viện trợ kinh tế của Mỹ cho Việt Nam Cộng hòa là viện trợ cho không (không hoàn lại), viện trợ cho vay trong 20 năm từ 1955 đến 1975 chỉ chưa đến 200 triệu USD. Các khoản cho vay lớn của Mỹ giúp Việt Nam Cộng hòa đóng tiền gia nhập Quỹ Tiền tệ Quốc tế (4 triệu USD năm 1956), đổi mới hệ thống viễn thông (6,8 triệu USD năm 1958-1959), phát triển đội tàu hỏa (9,7 triệu USD năm 1959, 9,7 triệu USD năm 1961), mở rộng hệ thống dẫn nước từ sông Đồng Nai về Sài Gòn (17,5 triệu USD năm 1960), xây dựng một nhà máy nhiệt điện  Thủ Đức (12,7 triệu USD năm 1961), hỗ trợ chương trình Người cày có ruộng (5 triệu USD năm 1970).[33][34]
Viện trợ kinh tế của Hoa Kỳ cho Việt Nam Cộng hòa 1955-1975
Năm
 
Tổng viện trợ
triệu USD
Bình quân đầu người
USD
Bình quân đầu người
Đồng
Năm
 
Tổng viện trợ
triệu USD
Bình quân đầu người
USD
Bình quân đầu người
Đồng
1955
322,4
28,03
981,22
1966
793,9
47,47
4.936,95
1956
210,0
16,33
571,54
1967
666,6
38,85
4.195,33
1957
282,2
21,38
748,43
1968
651,1
36,89
4.352,96
1958
189,0
14,04
491,35
1969
560,5
30,97
3.654,09
1959
207,4
15,01
525,44
1970
655,4
33,63
3.968,45
1960
181,8
12,92
542,17
1971
778,0
38,71
4.567,36
1961
152,0
10,45
365,71
1972
587,7
28,46
10.131,78
1962
156,0
10,45
627,05
1973
531,2
25,06
12.377,96
1963
195,9
12,74
764,39
1974
657,4
30,16
19.088,72
1964
230,6
14,62
876,97
1975
240,9
10,43
--
1965
290,3
17,81
1.068,65




Ghi chú: Mức viện trợ bình quân đầu người được tính bằng cách lấy tổng viện trợ chia cho dân số VNCH cùng năm. Mức viện trợ tính bằng tiền Đồng tính bằng cách lấy mức viện trợ tính bằng Đô la Mỹ nhân với tỷ giá hối đoái chính thức giữa Đồng VNCH với Dollar.
Nguồn: Số liêu về tổng viện trợ lấy từ Dacy (1986), bảng 10.2, trang 200; Số liệu về dân số VNCH lấy từ Trần Văn Thọ chủ biên (2000), bảng 1.1, trang 238; Số liệu về tỷ giá hối đoái lấy từ Dacy (1986), bảng 9.5, trang 190.
Hỗ trợ kỹ thuật
Hỗ trợ kỹ thuật trong lĩnh vực kinh tế là các hoạt động tư vấn về thiết kế và thực thi những chính sách, biện pháp quản lý, phát triển kinh tế. Từ 1963, sau khi lật đổ Ngô Đình Diệm và có thể tham gia sâu hơn vào các quyết định của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, Mỹ đã chú trọng giúp Việt Nam Cộng hòa phát triển kinh tế, coi đó là một điều kiện quan trọng hậu thuẫn cho thắng lợi về quân sự. Mỹ đã cử nhà kinh tế David Lilienthal tới Việt Nam Cộng hòa giúp thiết kế Kế hoạch kinh tế hậu chiến.
Giai đoạn 1965-1969, nhiều cơ chế, chính sách kinh tế của Việt Nam Cộng hòa là Phái bộ viện trợ Mỹ (USAID-VM) thiết kế. Thí dụ, chương trình Người cày có ruộng mà chính quyền Nguyễn Văn Thiệu đã tiến hành do đoàn cố vấn Mỹ đấu thầu để xin hỗ trợ tài chính, thiết kế nội dung và lộ trình sau khi trúng thầu.
Nhiều dự án kinh tế với sự hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật của Mỹ đã có tác dụng rõ rệt trong việc nâng cao năng lực sản xuấtnông-lâm-ngư.
Phát triển con người
Gần 20 năm hoạt động, cơ quan Viện Trợ Hoa kỳ USAID đã giúp Chính phủ Việt Nam Cộng hòa phương tiện và kỹ thuật để phát triển giáo dục và đào tạo. Năm 1973, tỷ lệ biết đọc, biết viết là 70% rất cao so với các nước Á châu láng giềng hồi đó[15].
Xáo trộn kinh tế
Vì sự hiện diện đông đảo của quân nhân Mỹ, cao điểm lên tới hơn nửa triệu quân, kinh tế Việt Nam bị dao động không ít. Tính trung bình thì mỗi quân nhân Mỹ được trả lương 600 Mỹ kim, nếu để chi tiêu tự do sẽ làm rối loạn giá sinh hoạt cho dân thường, gây ra lạm phát. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đề ra cách hạn chế tiền đô la áp đảo bằng cách dùng MPC (thông tục gọi là "đô la đỏ") thay vì Mỹ kim thật (tục gọi là "đô la xanh") để quân nhân mua bán. Dù vậy nạn đô la lan tràn gây vấn nạn khi người Mỹ mua bán MPC với người Việt trong việc giao thương quốc nội. Để đối phó chính phủ Việt Nam đề nghị Quân lực Mỹ thỉnh thoảng đổi hình dạng MPC khiến những ai tích trữ và dùng MPC cũ không thể đem đổi lại sang Mỹ kim.[35]
Khu vực kinh tế không chính thức
Trong vùng chính quyền kiểm soát
Trong khu vực chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát được, kinh tế không chính thức (hay kinh tế ngầm) rất phát triển. Một bộ phận không nhỏ dân chúng ở nông thôn di cư tới thành phố để tránh chiến tranh đã tham gia vào các hoạt động thương nghiệp không đăng ký.
Nhiều quân nhân của Mỹ và lực lượng đồng minh tại Việt Nam, vợ con người Việt của họ, được phép mua hàng tại các cửa hàng dành riêng cho họ (các Post Exchange - PX) với giá rẻ bằng nửa giá ngoài thị trường. Họ mua hàng trong các PX và đem bán lại trên thị trường. Việc mua bán lại này nhiều khi diễn ra ngay bên cạnh các PX. Những quân nhân Mỹ còn tranh thủ các kỳ nghỉ tại Thái Lan, Hong Kong, Philippines để mua vàng, đá quý đem về Việt Nam bán kiếm lời.[36] Nhiều mặt hàng quân dụng như xăng dầu, thuốc lá, quân phục, giầy nhà binh, đồng hồ, ống nhòm, thậm chí cả xe Jeep, được binh lính Việt Nam Cộng hòa, Mỹ và đồng minh đem bán cho dân thường.
Báo chí Việt Nam Cộng hòa nhận xét: "Chợ đen chợ đỏ lan tràn. Từ xi măng, sữa đến xe gắn máy, vật gì cũng có thể bán chợ đen được,..."[37]
Trong vùng Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam kiểm soát
Ở vùng do mình kiểm soát, Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam đã thành lập một bộ máy quản lý kinh tế riêng tới mức phát hành cả đơn vị tiền tệ riêng. Tuy nhiên, sản xuất ở những vùng này kém phát triển do thiếu lao động, công cụ sản xuất và nhất là do chiến tranh triền miên. Nhiều lương thực, thực phẩm do chính lực lượng vũ trang ở đây tự làm ra và tự tiêu dùng.[38] Lương thực không đủ cung cấp cho quân đội của mình, nên Mặt trận đã phải tiến hành thu mua lúa gạo từ vùng do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kiểm soát. Không chỉ lương thực, nhiều hàng hóa khác cũng được thu mua về từ các chợ ở vùng giáp ranh.
Đánh giá
Theo đánh giá của ông Nguyễn Tiến Hưng, tiến sĩ kinh tế, nguyên Tổng trưởng Kế hoạch và Phát triển của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, hiện là giáo sư tại Đại học Howard.[15], nền kinh tế miền Nam trong thời kỳ trước và sau khi người Mỹ có mặt có sáu đặc tính rõ ràng:
1.     Cơ cấu kinh tế nghiêng hẳn về cung cấp dịch vụ, chiếm 55% tổng sản lượng quốc gia (GDP). Sản xuất hàng hoá, vật dụng không nhiều.
2.     Do công nghiệp nặng và hóa chất vẫn ở mức sơ khai, nên nguyên vật liệu phải lệ thuộc vào nhập cảng: gạo, xăng dầu,phân bón, xi măng, hàng tiêu thụ, vật liệu sản xuất. Trung bình là phải nhập 750 triệu đô la một năm.
3.     Tiết kiệm xuống số âm: trung bình bằng -5% GDP. Lúc còn hoà bình, có năm đã lên tới +6% GDP (1960). Khi chiến tranh leo thang thì không còn có thể tiết kiệm nội địa, đầu tư cho phát triển phải tuỳ thuộc vào tiền bạc từ bên ngoài.
4.     Gánh nặng kinh tế của nạn nhân chiến tranh: đoàn người di tản từ những vùng có chiến sự lên tới vài triệu. Số đông di tản về thành thị, làm số người ở đây lên tới 40% tổng dân số (năm 1960 chỉ có 22%). Kết quả là thất nghiệp cao ở thành thị (14%), các khu ổ chuột cùng với những tệ nạn xã hội đi kèm trong khi nông thôn lại thiếu người canh tác.
5.     Gánh nặng quốc phòng: nhu cầu quốc phòng quá lớn, cần chi tiêu tới 50% ngân sách (242 tỷ đồng). Tài trợ cho phát triển chỉ còn 9% (66 tỷ đồng). Về vấn đề nhân lực thì rất nhiều thanh niên còn phải tham chiến, chưa kể 310.000 công, tư chức. Ngoài ra còn số người di tản kể trên, tất cả cũng vượt 30% nhân lực lao động.
6.     Tâm lý dựa vào viện trợ: Nền kinh tế Việt Nam Cộng hòa bé nhỏ, sản xuất căn bản là nông nghiệp. Khi quân đội Mỹ sang thì nhu cầu quốc phòng, tiêu dùng, xây dựng hạ tầng lớn. Sản xuất còn yếu kém, căn bản chỉ là gạo thóc nên chỉ còn cách nhập hàng hoá từ ngoài vào. Tài trợ nhập hàng hoá đang từ 162 triệu đôla năm 1964 tăng lên tới 830 triệu năm 1966, cao hơn năm lần. Sự kiện này làm tăng lên cường độ của tâm lý lệ thuộc của kinh tế Việt Nam Cộng hòa và mang tới nhiều cơ hội tham nhũng cho nhiều quan chức chính phủ.
Xét riêng về sự phụ thuộc của kinh tế VNCH vào viện trợ Mỹ, Giáo sư Kinh tế Đặng Phong nhận định: “Nền kinh tế miền Nam trước 1975 tuy có vẻ ngoài phồn vinh nhưng giả tạo ở chỗ nó không tự nuôi nổi nó”. Lấy ví dụ, tổng thu nội địa của VNCH năm 1974 (năm cao nhất trong lịch sử) là khoảng 300 tỉ đồng, với tỉ giá năm 1974 là 685 đồng/1 đô la, tức tương đương với 438 triệu đôla (bình quân 54 USD/người/năm), chỉ bằng một nửa viện trợ của Mỹ, thậm chí chỉ bằng 1/6 chi phí quân sự hàng năm.[23] Như vậy có nghĩa hơn 65% thu nhập quốc dân và hầu hết chi tiêu chính phủ là lấy từ viện trợ kinh tế của Mỹ. Sự phồn vinh không phải ở nội tại nền kinh tế mà là nhờ nguồn viện trợ khổng lồ của Mỹ bằng 4 con đường chính:[39]
1.     Thứ nhất, bình quân mỗi năm Mỹ đổ vào miền Nam VN 1 tỉ USD, chia bình quân cho 8 triệu dân trong vùng kiểm soát của VNCH, thì lên tới 125 USD/người/năm, tương đương 75% thu nhập bình quân. 1 tỉ USD trút vào nuôi bộ máy Nhà nước, binh lính nên thu nhập của họ rất cao, ví dụ thiếu úy được nhà riêng (gia binh), một tổng trưởng (bộ trưởng) lương trị giá 10 cây vàng/tháng.
2.     Thứ hai, chi phí chiến tranh (nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - có thời kỳ lên đến 28 tỉ USD/năm, như các năm 1967, 1968). Mỹ quản lý nhưng vẫn rơi vãi ra dân sự. Riêng vỏ đạn cũng đủ tạo ra 7 nhà máy đồng, xác chiến xa và các loại vũ khí... là đầu vào của các nhà máy cán thép, dù miền Nam không có mỏ sắt. Chi phí quân sự đã trở thành kinh tế dân sự.
3.     Thứ ba, cũng nằm ngoài 1 tỉ USD viện trợ - là sức chi tiêu tại chỗ của nửa triệu binh lính Mỹ, bình quân 1 người 800USD/tháng, một năm là trên 4 tỉ đôla - gấp 10 lần tổng GDP của cả 8 triệu dân do VNCH kiểm soát. Khoản tiền khổng lồ này tạo ra vô khối ngành dịch vụ và thu nhập cho người dân. Một chủ tiệm giặt là từng nhận thầu giặt đồ cho lính Mỹ, bảo chỉ nhặt tiền lẻ trong đống quần áo, gom lại trong 1 năm xây được nhà 4 tầng lầu.
4.     Thứ tư, ngoài 1 tỉ USD tiền còn các khoản viện trợ thường xuyên bằng hàng hoá do người Mỹ chỉ định mua từ nước nào, hãng nào, loại hàng gì, theo giá nào... để giải quyết cán cân thương mại giữa Mỹ và các nước đồng minh. Cách làm này tạo ra vô số nhà máy đường, nhà máy dệt... không có vùng nguyên liệu trồng mía, bông – mà nhập nguyên liệu từIndonesia, Malaysia, Nhật Bản... để sản xuất.
Một đặc điểm khác là sự kiểm soát của giới thương nhân người Hoa đối với nền kinh tế. Trước năm 1975, ở miền Nam, Hoa kiều kiểm soát gần như toàn bộ các vị trí kinh tế quan trọng, và đặc biệt nắm chắc 3 lĩnh vực quan trọng: sản xuất, phân phối vàtín dụng. Đến cuối năm 1974, họ kiểm soát hơn 80% các cơ sở sản xuất của các ngành công nghiệp thực phẩm, dệt may, hóa chất, luyện kim, điện... và gần như đạt được độc quyền thương mại: 100% bán buôn, hơn 50% bán lẻ và 90% xuất nhập khẩu. Hoa kiều ở miền Nam gần như hoàn toàn kiểm soát giá cả thị trường.[40]. Năm 1978, chính phủ mới của nước Việt Nam thống nhất đã quốc hữu hóa khoảng 30.000 doanh nghiệp lớn nhỏ của người Hoa để chấm dứt sự kiểm soát của họ, thắt chặt kiểm soát nền kinh tế tập trung của mình.
GDP đầu người của miền Nam năm cao nhất (1974) tương đương 54 USD một năm (tương đương với khoảng 150 đôla năm 2010), theo chuẩn hiện nay trên thế giới là rất thấp (phải trên 1000 USD mới thoát danh sách nước kém phát triển), nhưng hồi đó vẫn còn cao hơn các nước Bangladesh, Ấn Độ, Pakistan.[41] Lợi tức bình quân của người dân miền Nam vào năm 1971 là 200 USD/năm, vào thời điểm đó là xấp xỉ với Thái Lan, gần gấp rưỡi Ấn Độ và hơn Trung Quốc 25% (nhưng đến năm 1974 thu nhập đã sụt xuống còn 54 USD do tiền VNCH bị phá giá gần 4 lần so với USD và việc Mỹ giảm viện trợ kinh tế).[42]
Theo tác giả Nguyễn Tiến Hưng[15], nếu tổng kết toàn bộ thì hình ảnh của nền kinh tế có nhiều triển vọng nếu miền Nam hội đủ điều kiện cần thiết để tiến tới chỗ thoát khỏi tình trạng lạc hậu. Quan sát tại chỗ, Đại sứ Martin đã phát biểu cho ký giả tuần báoU.S. News and World Report:
"Đôi khi ta thấy trong cùng một quốc gia có sự phối hợp giữa tài nguyên phong phú, một hệ thống hành chính có quyết tâm với những chính sách kinh tế hợp lý một dân tộc thông minh, khéo léo, và hết sức dẻo dai, với một khả năng cố gắng bền vững, một quyết tâm mãnh liệt và tha thiết bảo tồn tự do của mình.
"Khi có một kết hợp như vậy, như hiện đang có ở Việt nam, thì chỉ cần một nguồn tài chính từ ngoài vào làm vai trò tác động, để nối kết tất cả những yếu tố này lại với nhau thì có thể có những kết quả thật là xuất sắc"[43]