Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Xã hội. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2023

2023 LƯƠNG !!!



1978 Lương bs mới ra trường 51₫/ tháng, sau 2 năm hết thời gian thực tập 60₫. Lúc vê hưu 2010 hệ số 6,6.
2024 lương hưu 10 triệu/ tháng
2023 Lương
Đại biểu Vũ Thị Lưu Mai (đoàn Hà Nội) cho biết, tháng 10 tới đây, dự kiến Chính phủ sẽ trình Quốc hội phương án cải cách tổng thể về tiền lương theo Nghị quyết 27.
Đại biểu nhận định, chính sách tiền lương rất quan trọng, là yếu tố thúc đẩy kinh tế phát triển. Chính sách tiền lương bất hợp lý, ngược lại, sẽ là rào cản với bước tiến của xã hội.
Trải qua 4 lần cải cách tiền lương, đại biểu Vũ Thị Lưu Mai cho rằng, thực tế mức lương của cán bộ công chức vẫn thấp. Bà Mai băn khoăn, Việt Nam đang ở đâu trên bản đồ thu nhập thế giới?ại biểu xác nhận, sẽ là khập khiễng nếu so sánh mức lương với cán bộ, công chức của các nước phát triển, song so với các nước trong khu vực, tiền lương của công chức Việt Nam đang có khoảng cách không nhỏ.
Một sinh viên mới ra trường tại Việt Nam, bước vào môi trường công có mức thu nhập 3.480.000 đồng/tháng. Mức lương trung bình của công chức cả nước cũng chỉ trên dưới 10 triệu.
Bà Mai so sánh con số này với thu nhập trung bình của công chức
Thái Lan là 56,7 triệu đồng, Malaysia là 29 triệu đồng và Campuchia 17 triệu đồng.
Xem tiếp 

Thứ Năm, 08 tháng 12 2011

Lương của chính trị gia

Đầu tháng 12, trong lúc dân chúng đang rục rịch chuẩn bị mua sắm cho mùa Giáng sinh và nôn nao nghĩ đến mùa nghỉ hè sắp tới, các chính trị gia Úc lặng lẽ thông qua quyết định tăng lương cho mình. Mà tăng rất nhiều. Ví dụ, lương của Thủ tướng Julia Gillard được tăng lên 470.000 đô la (hiện nay đô Úc tương đương với đô Mỹ), tức cao hơn mức lương cũ đến gần 100.000.  Lương phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngân khố Wayne Swan cũng tăng gần 100.000, từ 287.000 lên 370.000. Lương của Thủ lãnh Đối lập Tony Abbott cũng được tăng từ 259.000 lên 333.000 đô. Tất cả các dân biểu khác cũng đều được tăng lương. Mức lương thấp nhất trong Quốc Hội trước đây là khoảng 140.000, bây giờ khoảng 180.000 đô.
Cần nói thêm: Đó chỉ là lương căn bản. Chính trị gia ở Úc, cũng như ở khắp nơi trên thế giới, ngoài lương, còn nhận được khá nhiều món trợ cấp khác. Ở Úc, tất cả các chính trị gia đều là dân biểu. Với tư cách dân biểu, họ được trợ cấp để điều hành văn phòng ở khu vực mình đại diện cũng như tiền đi lại và ăn ở mỗi lần đến thủ đô để họp. Ngoài ra, họ còn được cung cấp một chiếc xe mới, điện thoại nhà và điện thoại di động miễn phí. Và nhiều thứ khác nữa.
Với đợt tăng lương lần này, các chính trị gia Úc có mức lương cao hơn hẳn những người cùng chức vụ của họ ở Mỹ (tổng thống: 400.000 đô; phó tổng thống: 230.000; đô; các bộ trưởng: 199.700 đô; dân biểu và nghị sĩ: trung bình 174.000 đô).
Lương của họ cũng cao hơn hẳn lương của các tổng thống hay thủ tướng ở châu Âu, phần lớn chỉ từ 200.000 đến hơn 300.000 đô
Trong giới lãnh đạo chính trị, có lẽ lương của Thủ tướng Julia Gillard bây giờ chỉ thua có hai người: Đặc khu trưởng Hong Kong Donald Tsang (trên 500.000 đô) và đặc biệt, Lý Hiển Long ở Singapore (khoảng 2 triệu 7).
Ở trên, ngay câu đầu tiên, tôi có viết “các chính trị gia Úc lặng lẽ thông qua quyết định tăng lương cho mình”. Dùng chữ ‘lặng lẽ” như vậy, tôi không có ý chê trách. Thật ra, từ trước đến nay, ít nhất là ở Úc, hầu như chính phủ nào cũng thế, nếu muốn tự tăng lương, họ đều quyết định tăng vào dịp cuối năm, lúc không khí chính trị như giãn ra, mọi người chỉ tập trung vào việc mua sắm và nghỉ ngơi. Bởi vậy, chúng không gây xôn xao trong dư luận. Và cũng ít bị chống đối.
Có điều, lần này, để ý dư luận trên báo chí, từ tả đến hữu, tôi thấy giới bình luận đều có thái độ khá giống nhau: đồng ý. Dĩ nhiên, đây đó vẫn có người chống đối. Nhưng phần lớn đều cho đó là điều đúng đắn và cần thiết. Người ta nêu lên bốn lý do chính:
Thứ nhất, công việc của các chính trị gia rất nhọc nhằn. Giới lãnh đạo lại càng nhọc nhằn hơn. Họ làm việc hầu như bất kể giờ giấc. Trách nhiệm lại hết sức nặng nề. Bất cứ chuyện gì thuộc chính phủ cũng là trách nhiệm của họ. Người ta đòi hỏi họ phải biết mọi chuyện. Phải có ý kiến về mọi chuyện. Câu trả lời “không biết” hay “chưa biết” là điều hầu như không thể chấp nhận đối với những người lãnh đạo cao nhất nước. Ghế ngồi của họ cũng rất dễ lung lay. Ở nhiều nước khác, nhà lãnh đạo tại vị theo nhiệm kỳ. Ở Úc thì tùy thuộc vào đảng của họ. Ngay cả khi đảng của họ đang cầm quyền, họ vẫn có thể bị mất chức nếu không được sự ủng hộ của các đa số thành viên trong Quốc Hội. Thành ra, lúc nào họ cũng căng thẳng. Như những lúc quyết liệt tranh cử.
Thứ hai, lương thủ tướng gần nửa triệu đô la, thoạt nhìn, có vẻ cao. Nhưng so với vô số người khác, đặc biệt trong giới kinh doanh, thể thao và giải trí, lại rất thấp. Hầu hết các tổng giám đốc điều hành của các công ty thương mại lớn ở Úc đều có mức lương trên một triệu. Một số người gần 10 triệu. Lương của các cầu thủ bóng đá Úc cũng trên dưới một triệu, chưa kể các khoản thu nhập khác từ quảng cáo. Ngay trong các cơ quan chính phủ, lương của các chuyên gia và chuyên viên đầu ngành cũng thường cao hơn lương của các thủ trưởng của họ.
Thứ ba, nói đến chuyện cao hay thấp, người ta so sánh với ai? So sánh với những người đồng nhiệm ở nước ngoài là một cách. Nhưng quan trọng nhất là so sánh với thu nhập bình quân trên đầu người trong nước. Nói chung, lương của người lãnh đạo cao hơn khoảng trên dưới 10 lần là có thể chấp nhận được. Nhìn vào bảng thống kê dưới đây, chúng ta sẽ thấy lương của lãnh tụ ở tất cả các quốc gia giàu mạnh (vào năm 2010) đều ở mức ấy.

Nguồn: http://www.economist.com/node/16525240
(Cần chú ý là Thủ tướng Kenya Raila Odinga được đề nghị mức lương 430.000 đô la một năm, gấp 240 lần thu nhập trung bình trong nước!)
Thứ tư, phần lớn giới bình luận chính trị đều cho tăng lương là một biện pháp tốt nhất để thu hút nhân tài. Không ai có thể chối cãi việc lãnh đạo một đất nước hoặc một bộ là quan trọng hơn hẳn việc lãnh đạo một công ty. Thế nhưng, hiện nay, lương hướng trong các lãnh vực tư nhân, nói chung, đều cao hơn của chính phủ. Đi vào con đường chính trị, do đó, đứng về phương diện tài chính, là một thiệt thòi. Không phải ai cũng chấp nhận sự hy sinh như thế. Hậu quả là không ít tài năng bị đánh mất. Nghĩ cho cùng, đó là một tai họa cho đất nước.
Đó là lý do tại sao phần lớn giới bình luận chính trị tại Úc đều đồng ý với việc tăng lương cho các chính khách.
Nhân tiện, xin nói thêm vài điều.
Một, nhìn vào bảng lương trên, chúng ta thấy lương của Chủ tịch nước Trung Quốc chỉ có 10.633 đô một năm.
Hai, còn Việt Nam thì sao? Tôi chỉ tìm được, trên internet, bảng lương của giới lãnh đạo Việt Nam vào năm 2004, tức cách đây 7 năm.
BẢNG LƯƠNG CHỨC VỤ ĐỐI VỚI CÁN BỘ LÃNH ĐẠO
CỦA NHÀ NƯỚC

(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 730/2004/NQ-UBTVQH11 ngày 30/9/2004
của Uỷ ban thường vụ Quốc hội)

I- Các chức danh lãnh đạo quy định một mức lương:
Đơn vị tính: 1.000 đồng
STT Chức danh Hệ số lương Mức lương thực hiện 01/10/2004
1 Chủ tịch nước 13,00 3.770,0
2 Chủ tịch Quốc hội 12,50 3.625,0
3 Thủ tướng Chính phủ 12,50 3.625,0

II- Các chức danh lãnh đạo quy định hai bậc lương:
Đơn vị tính: 1.000 đồng
STT Chức danh Bậc 1 Bậc 2
Hệ số lương Mức lương thực hiện 01/10/2004 Hệ số lương Mức lương thực hiện 01/10/2004
1 Phó chủ tịch nước 11,10 3.219,0 11,70 3.393,0
2 Phó chủ tịch Quốc hội 10,40 3.016,0 11,00 3.190,0
3 Phó Thủ tướng Chính phủ 10,40 3.016,0 11,00 3.190,0
4 Chánh án Toà án nhân dân tối cao 10,40 3.016,0 11,00 3.190,0
5 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao 10,40 3.016,0 11,00 3.190,0
6 Uỷ viên Uỷ ban Thường vụ Quốc hội 9,80 2.842,0 10,40 3.016,0
7 Chủ tịch Hội đồng dân tộc 9,70 2.813,0 10,30 2.987,0
8 Chủ nhiệm Uỷ ban của Quốc hội 9,70 2.813,0 10,30 2.987,0
9 Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ 9,70 2.813,0 10,30 2.987,0
10 Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội 9,70 2.813,0 10,30 2.987,0
Cứ cho từ đó đến nay lương của các cán bộ lãnh đạo Việt Nam được tăng gấp đôi. Thì lương Chủ tịch nước và Thủ tướng cũng chỉ có khoảng 8 triệu đồng Việt Nam, tức khoảng 400 đô một tháng hoặc gần 5.000 đô một năm. Với bảng lương trên, theo lời Thứ trưởng Bộ xây dựng Nguyễn Trần Nam trên báo Vnexpress.net ngày 18 tháng 8 năm 2011, phải ky cóp cả 40 năm mới mua được một căn nhà thu nhập thấp!
Với số lương như thế, nhưng mọi người cứ nhìn vào tài sản và cách sống của họ mà xem. Đố tìm ra được người nào không giàu.
Và hãy tự hỏi: Họ lấy tiền đâu ra mà giàu có đến vậy?

Thứ Tư, 3 tháng 3, 2021

2014 ODA-2012 VN= Good Country Index -Xếp hạng-2014 BBC-Chỉ số hạnh phúc

 

Việt Nam hạng nhì trên bảng xếp hạng Chỉ số Hạnh phúc Hành tinh 2012


Việt Nam đứng thứ hai trong số các quốc gia hạnh phúc nhất trên thế giới xét về lĩnh vực sử dụng các nguồn tài nguyên môi trường để mang lại cuộc sống hạnh phúc và tuổi thọ lâu dài cho người dân, theo bảng xếp hạng Chỉ số Hạnh phúc Hành tinh 2012 (HPI) do Qũy Kinh tế Mới vừa công bố.

Ba nước dẫn đầu bảng xếp hạng 151 quốc gia trên thế giới được xem là có dân số thọ nhất, hài lòng với cuộc sống nhất, và có dấu ấn sinh thái thấp nhất (tức tiêu thụ và thải carbonic vào môi trường thấp) lần lượt là Costa Rica, Việt Nam, và Colombia.

Đây là năm thứ hai liên tiếp Costa Rica giữ vị trí hàng đầu về chỉ số HPI. Ba nước chót bảng là Botswana, Chad, và Qatar.

Kết quả chỉ số HPI 2012 cho thấy con người vẫn chưa được sống trong một hành tinh hạnh phúc. Sở dĩ các nước thu nhập cao có điểm số thấp là do có dấu ấn về sinh thái cao. Còn các quốc gia có thu nhập kém nhất như ở Châu Phi bị xếp hạng thấp về chỉ số HPI bởi mức độ hài lòng cuộc sống và tuổi thọ của người dân không cao.

Qũy Kinh tế Mới nhấn mạnh chỉ số HPI không đo lường được tất cả. Các nước có chỉ số HPI cao có thể có rất nhiều vấn đề và thực tế là nhiều nước xếp hạng cao trên bảng Chỉ số Hạnh phúc Hành tinh bị tai tiếng bởi tình trạng nhân quyền. Dù nhân quyền có thể tác động tiêu cực đến mức độ hạnh phúc và hài lòng của người dân, nhưng chỉ số HPI không nhắm tới việc đánh giá, đo lường những quyền này. Vì vậy, Qũy Kinh tế Mới đề nghị không nên chỉ dựa trên chỉ số HPI để đánh giá, mà nên xem đó là một thành tố cộng gộp để xem xét cùng với các chỉ số đo lường khác như tình hình kinh tế và áp lực môi trường.

Juliet Michaelson
​​Bà Juliet Michaelson, chuyên viên nghiên cứu cao cấp của Qũy Kinh tế Mới có trụ sở ở London, Anh Quốc, cho VOA Việt ngữ biết:

“Dù Việt Nam đứng thứ hai trên bảng xếp hạng Chỉ số Hạnh phúc Hành tinh 2012, không có nghĩa là Việt Nam là nước hạng nhì trên thế giới về mức độ mà chúng ta gọi là hạnh phúc hoặc mức độ mà người dân hài lòng về cuộc sống của mình một cách tổng thể. Sở dĩ Việt Nam chiếm thứ hạng cao về HPI là do tuổi thọ trung bình của người dân cao (cao hơn người dân ở nhiều nước có thu nhập cao) và tỷ lệ khai thác-sử dụng tài nguyên sinh thái thấp. Chỉ số Hạnh phúc Hành tinh nêu lên sự an sinh của người dân song hành với sự quan tâm tới hành tinh của chúng ta để xem rằng liệu cách chúng ta đang sống trong hành tinh này hiện nay có thể mang lại cuộc sống hạnh phúc trong tương lai hay không. Dĩ nhiên cần phải nhìn cụ thể vào nhiều thước đo khác nữa để đánh giá xã hội ở các nước như thế nào. HPI là chỉ số hạnh phúc của người dân tương quan với các hoạt động khai thác-sử dụng tài nguyên sinh thái, là một thông điệp hữu ích chỉ ra rằng liệu con đường mà một quốc gia đang đi có đạt được tiến bộ hay không.”

Qũy Kinh tế Mới là một tổ chức nghiên cứu độc lập chuyên thực hiện các cuộc nghiên cứu về chỉ số HPI của các nước trên thế giới nhằm cải thiện chất lượng cuộc sống bằng cách phát huy các giải pháp sáng tạo cho các vấn đề kinh tế, môi trường, và xã hội.

Chỉ số Hạnh phúc Hành tinh được công bố lần đầu tiên vào năm 2006 và bảng xếp hạng 2012 là bản phúc trình toàn cầu lần thứ ba về chỉ số này. Trong bảng xếp hạng công bố hồi năm 2009, Việt Nam xếp thứ 5


HÀ NỘI (NV) .- Các chuyên gia kinh tế Việt Nam tiếp tục lặp lại cảnh báo về những tác hại khi nhà cầm quyền CSVN để các dự án có tầm vóc quốc gia lệ thuộc gần như hoàn toàn vào ODA.


Phối cảnh đường xe điện trên cao ở Hà Nội, một dự án vận chuyển công cộng nội thị thực hiện từ vốn vay ODA của Nhật đang bị điều tra về tham nhũng. (Hình: kienthuc.net)

ODA là ba chữ viết tắt của Official Development Assistance (hỗ trợ phát triển chính thức). ODA có thể là các khoản cho vay không tính lãi hoặc tính lãi thấp với thời gian cho vay dài hạn, nói chung là theo các điều kiện ưu đãi. Đôi khi ODA là viện trợ. Mục tiêu của ODA là trợ giúp để phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở quốc gia nào đó còn kém phát triển.
Những cảnh báo về ODA được lặp lại sau khi scandal các viên chức ngành đường sắt nhận 80triệu Yen (khoảng 800 ngàn USD, tương đương 16 tỷ đồng Việt Nam) của Công ty Tư vấn Giao thông Nhật Bản (Japan Transport Consultants – JTC) để chọn công ty này làm nhà thầu, tư vấn cho các dự án được thực hiện bằng viện trợ của Nhật ở Việt Nam.
Nhật hiện là quốc gia dẫn đầu trong việc cấp ODA cho Việt Nam. Đến nay, đã xảy ra hai scandal về nhận hối lộ của các công ty Nhật để chọn họ là nhà thầu Nhật thực hiện những dự án bằng ODA do Nhật cung cấp. Scandal đầu tiên xảy ra vào năm 2010, liên quan tới PCI – một công ty tư vấn khác của Nhật về dự án đại lộ Đông Tây ở Sài Gòn.
Trên tờ Sài Gòn Tiếp Thị, ông Nguyễn Lương Hải Khôi, một người chuyên nghiên cứu về Nhật cho biết, trong thập niên vừa qua, JICA (Cơ quan Hợp tác Quốc tế của chính phủ Nhật Bản) xây dựng chiến lược giao thông toàn quốc cho Việt Nam. Sau đó, chính JICA đề nghị cho Việt Nam vay ODA để thực hiện chiến lược giao thông mà họ xây dựng. JICA kiểm soát từ A đến Z: vốn vay, tiền lãi, kỹ thuật, thị phần xây dựng, thậm chí kiểm soát cả hiểu biết về thực tiễn của Việt Nam. Việt Nam gần như chẳng phải làm gì. Chỉ cần ký vay nợ và cầu đường cứ thế mọc lên. JICA nếu có vạch ra một “hệ thống” thì “hệ thống” đó chỉ là bản đồ những dự án mà các công ty Nhật đã sẵn sàng giành hợp đồng xây dựng.
Trò chuyện với tờ Đất Việt, ông Trần Đình Bá, một chuyên gia kinh tế cho rằng, với phương thức vừa cho vay, vừa thực hiện dự án theo kiểu kiểm soát từ A tới Z: Đưa ra ra ý tưởng, tự lập dự án tiền khả thi, khả thi, thiết kế, tổ chức thi công, ép người vay làm theo ý mình như kiểu các dự án ODA của Nhật tại Việt Nam thì đấu thầu chỉ còn là hình thức.
Theo tờ Thời Báo Kinh tế Sài Gòn, sau khi kiểm tra những nôi dung liên quan đến scandal JTC, Bộ trưởng Giao thông Vận tải Việt Nam tiết lộ, gói thầu (Tư vấn Dự án Tuyến đường sắt số 1 đoạn Ngọc Hồi - Yên Viên) liên quan đến JTC là một gói thầu bất thường vì chỉ có hai nhà thầu mua hồ sơ và sau đó chỉ còn một nhà thầu là JTC tham gia đấu thầu. Về nguyên tắc, nếu có dưới ba nhà thầu thì có thể hủy cuộc đấu thầu song vì gói thầu vừa kể sử dụng vốn ODA của Nhật nên phải chọn nhà thầu Nhật và JTC nghiễm nhiên trở thành nhà thầu.
Tờ Thời Báo Kinh tế Sài Gòn cho biết, trong 20 năm vừa qua, Nhật là quốc gia cấp ODA lớn nhất (hơn 20 tỉ Mỹ kim) và 41% khoản ODA này dành cho các dự án phát triển hạ tầng giao thông. Do vậy, trong bối cảnh ngân sách èo uột, trái phiếu chính phủ yếu ớt, những dự án giao thông lớn thường nhắm vào ODA của Nhật và giá của vốn ODA không hề rẻ.
Khi tham dự Hội đồng Thẩm định quốc gia về Dự án phi trường Long Thành cả Bộ trưởng Giao thông Vận tải  lẫn Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư của Việt Nam đều cùng cảnh báo về sự “đắt đỏ” của vốn ODA bởi những ràng buộc từ nguồn vốn này. Bộ trưởng Giao thông Vận tải thú nhận, nếu chỉ nhắm vào vốn vay ODA mà không tính đến hiệu quả sử dụng vốn thì sẽ còn tạo ra nhiều kẽ hở cho tham nhũng.

Ông Trần Đình Bá thì cho rằng thực trạng lệ thuộc là giá phải trả cho cơ chế hiện hữu. Đổi mới đã ba thập niên nhưng Bộ Giao thông Vận tải vẫn không xây dựng nổi “chiến lược giao thông” mà khoán trắng cho tư vấn Nhật. Các scandal PCI, JTC lột tả bản chất thực trạng lãng phí đầu tư công trong lĩnh vực giao thông - vận tải, khiến nợ công tăng vọt. Ông Bá khẳng định, nếu không cải cách thể chế thì không thể giải quyết các vấn nạn này. (G.Đ)


2014 Việt Nam xếp thứ 56 trên 142 quốc gia về sự thịnh vượng, theo một bảng xếp hạng thường niên.

Vị trí này của Việt Nam cao hơn cả Nga.
Viện Legatum ở Anh vừa công bố Chỉ số Thịnh vượng (Prosperity Index) năm 2014, với Na Uy xếp thứ nhất, còn Cộng hòa Trung Phi xếp chót.
Anh quốc xếp thứ 13, Pháp thứ 21, còn Nga là nước châu Âu xếp thấp nhất, 68.
Chỉ số này xem xét tám chỉ tiêu để đánh giá thành tích các nước trong kinh tế, quản trị của nhà nước, giáo dục, y tế, vốn xã hội, tự do cá nhân, an toàn/an ninh và làm ăn của doanh nghiệp.
Bộ trưởng tài chính Anh, George Osborne, bình luận: “Thật tuyệt khi thấy Anh dẫn đầu về môi trường cho doanh nghiệp, tự do cá nhân, y tế và giáo dục.”



















http://www.bbc.co.uk/…/2…/11/141104_legatum_prosperity_index


Việt Nam bị một bảng xếp hạng đặt ở vị trí ‘đội sổ’ về đóng góp tổng thể cho nhân loại.

Good Country Index là bảng xếp hạng mới ra mắt của một tác giả, nhà tư vấn chính sách Simon Anholt.
Trong ba nước này, Việt Nam (thứ 124) đứng sau cả Iraq (123) và chỉ trên có Libya (125).Kết quả của bảng xếp hạng nói Ireland đứng đầu thế giới, còn Iraq, Libya và Việt Nam ‘cùng xếp hạng dưới đáy’, theo báo
BấmThe Independent của Anh.
BấmGood Country Index dựa trên các khảo sát của các tổ chức quốc tế như Liên Hiệp Quốc và World Bank.
Các đánh giá đóng góp của 125 nước dựa trên bảy tiêu chí về thành tích như khoa học công nghệ, văn hóa, hòa bình và an ninh quốc tế, trật tự thế giới, khí hậu, thịnh vượng, bình đẳng, sức khỏe...
Trong các yếu tố được xem xét có số lượng sinh viên nước ngoài học tại nước đó, tiền dành cho gìn giữ hòa bình, số lượng giành giải Nobel.
Ireland đứng đầu, và cùng nhóm đầu bảng là các nước vùng Bắc Âu được cho là “có đóng góp chung nhiều nhất cho nhân loại và hành tinh”, hơn hẳn các khu vực khác trên thế giới.
Anh Quốc đứng thứ bảy và Hoa Kỳ đứng thứ 21 trong khi Kenya đứng thứ 26 trên toàn cầu nhưng là quốc gia đứng đầu châu Phi vì đã “nêu ví dụ đầy cảm hứng” về đóng góp có ý nghĩa xã hội.
Tác giả báo cáo nói với báo Financial Times: “Một nước thành công vẫn chưa đủ. Họ phải đóng góp gì đó cho nhân loại.”
Một số kết quả xếp hạng gây tranh cãi, ví dụ về văn hóa, Bỉ được xếp thứ nhất. Ai Cập cũng xếp đầu về đóng góp cho hòa bình và an ninh quốc tế, mặc dù đang hỗn loạn về chính trị trong nước.
Ông Anholt giải thích những yếu tố nội địa không được ông tính, mà chỉ tính đóng góp của nước đó với thế giới bên ngoài.
“Đức là nước được quản trị rất tốt, nhưng tôi muốn hỏi là Đức làm được gì cho tôi, một công dân Anh?”
Năm 2009, ông Simon Anholt được trao giải Nobels Colloquia, được trao bởi một ủy ban gồm 10 người từng nhận Nobel về Kinh tế.

Nhiều hạng mục khác nhau

Trong 10 nước đứng đầu thế giới thì chín nước thuộc khu vực Tây Âu, tính tổng thể.
Tuy thế, các chỉ số cụ thể của từng nước lại khác.
Ví dụ, Bỉ đứng đầu thế giới về đóng góp văn hóa, Tây Ban Nha về chăm sóc y tế.
Hoa Kỳ bị tụt xuống hàng thứ 21 vì ‘bị điểm xấu trong mục đóng góp cho hòa bình và an ninh quốc tế’, theo bài báo của Independent.
Nga bị xếp hạng 95, gần với Honduras và Cộng hòa Dân chủ Congo.

Việt Nam lại có xếp hạng cao hơn hẳn Iraq và Libya về đóng góp Văn hóa
Trong bảng xếp hạng này, người ta đánh giá các quốc gia theo những tiêu chí: Khoa học - Công nghệ, Văn hóa, Hòa bình và An ninh Quốc tế, Trật tự Thế giới, Biến đổi Khí hậu, Thịnh vượng - Bình đẳng, Sức khoẻ và Vui sống.
Ngoài các hạng mục này, người ta cũng đưa vào các tiêu chí như số sinh viên nước ngoài đến du học, số tiền một nước bỏ ra để gìn giữ hòa bình và đóng góp cho sự phát triển quốc tế cũng như số giải Nobel có được.
Trong ba nước cuối bảng thì Việt Nam lại có xếp hạng cao hơn hẳn hai nước kia về đóng góp Văn hóa vì đạt vị trí 76 so với Iraq (116) và Libya (124).
Còn về Thịnh vượng và Bình đẳng, Việt Nam đạt mức 79, cao hơn hẳn Trung Quốc (108).
Ngoài ra còn xếp hạng tổng thể (Overall Rankings), theo đó tại châu Á, Trung Quốc đứng thứ 107 thế giới, thua xa Ấn Độ (thứ 81).
Hiện chưa rõ dư luận Việt Nam nghĩ gì về bảng xếp hạng này của Good Country Index.
Hồi đầu năm 2011, một khảo sát quốc tế khác lại cho rằng người Việt Nam 'lạc quan nhất thế giới', với 70% người tham gia nói tự tin về triển vọng kinh tế nước này năm 2011.
Khảo sát về chỉ số lạc quan do tổ chức nghiên cứu dư luận BVA của Pháp và Viện Gallup của Mỹ thực hiện ở 53 quốc gia.
Việt Nam nằm trong số 10 quốc gia có chỉ số lạc quan về kinh tế cao nhất, còn Pháp thì 'đội sổ' với 61% người được hỏi tỏ ra bi quan về tình hình kinh tế trong năm đó.

THỐNG KÊ THẾ GIỚI VỀ VIỆT NAM 
1.Dân số: Việt Nam hiện nay có dân số ước tính khoảng hơn 93 triệu người, đứng hàng thứ 13/243 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Dân số là một trong những đơn vị chính được dùng để đánh giá độ lớn và nhỏ của một quốc gia. Việt Nam đứng hàng thứ 13 có dân số đông nhất thế giới.
2.Diện tích : Việt Nam có tổng diện tích đất liền khoảng 331,210 km2, đứng hàng thứ 61/189 quốc gia trên thế giới. Diện tích quốc gia cũng là một trong những đơn vị chính dùng để đánh giá độ lớn của quốc gia. Ở vị trí thứ 61, Việt Nam thuộc nhóm 1/3 quốc gia có diện tích lớn nhất thế giới.
3.Duyên Hải Việt Nam là một quốc gia có địa thế rất đặc biệt; vừa tiếp diện biển ở phía Đông, vừa dựa vào rừng cây và cao nguyên ở phía Tây. Việt Nam đứng hàng thứ 33/154 quốc gia có bề dài duyên hải dài nhất thế giới với chiều dài duyên hải 3,444 cây số. Nên biết rằng, có 47 quốc gia trên thế giới hoàn toàn nằm trong lục địa (không tiếp diện với biển) và 35 quốc gia có chiều dài duyên hải chưa đến 100 cây số. 
4.Rừng cây Việt Nam có tổng số diện tích rừng đứng hàng 45/192 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới với tổng diện tích rừng là 123,000 cây số vuông. Rừng Việt Nam được xếp loại rừng có hệ sinh thái đa dạng và đặc biệt.Mặc dù rừng cây ở Việt Nam bị khai thác một cách bừa bãi, nó vẫn nằm ở vị trí 1/3 các quốc gia đứng đầu về diện tích rừng.
5.Đất canh tác Việt Nam có tổng số đất canh tác là 30,000 cây số vuông, đứng hàng 32/236 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Tổng số lượng lúa được Việt Nam canh tác đứng hàng thứ 5 trên thế giới trong số 20 quốc gia canh tác lúa gạo. Xét về mặt đất canh tác (và đặc biệt canh tác lúa gạo), 
Việt Nam không nhỏ với đơn vị kích thước, dân số, đất đai, biển đảo, rừng cây v..v… nhưng lại yếu kém về phát triển kinh tế, giáo dục, xã hội, và văn hóa… do quản lý rất tồi:
1. Giáo dục: Theo chỉ số Human Development, Việt Nam đứng hàng 121/187, có nghĩa là dưới trung bình. Không có một trường đại học nào của Việt Nam được lọt vào danh sách trường đại học có danh tiếng và có chất lượng.
2. Bằng sáng chế: Theo International Property Rights Index, Việt Nam đứng hàng 108/130 tính theo giá trị trí tuệ, có nghĩa là gần đội sổ.
3. Ô nhiễm
4. Thu nhập tính theo đầu người:Tuy thu nhập quốc gia của Việt Nam đứng hàng 57/193, Việt Nam lại đứng hàng 123/182 quốc gia tính theo thu nhập bình quân đầu người. Có nghĩa là Việt Nam đứng trong nhóm 1/3 quốc gia cuối bảng có thu nhập đầu người thấp nhất.
5. Tham nhũng:Theo chỉ số tham nhũng mới nhất của tổ chức Transparency International, Việt Nam đứng hàng 116/177 có nghĩa là thuộc 1/4 quốc gia cuối bảng.
6. Phát triển xã hội: Theo chỉ số phát triển xã hội, Việt Nam không có trong bảng vì không đủ số liệu để thống kê. Trong khi đó, theo chỉ số chất lưọng sống (Quality of Life) thì Việt Nam có điểm là 22.58, đứng hàng 72/76, có nghĩa là gần chót bảng.
7. Y tế:Theo chỉ số y tế, sức khoẻ, Việt Nam đứng hàng 160 trên 190 quốc gia, có nghĩa Việt Nam đứng trong nhóm quốc gia có tổ chức y tế tệ nhất.

2016 Academic degrees, academic titles: situation and solutions-


Academic degrees, academic titles: situation and solutions

Introduction:

 Honoring people with morality, sincerity, and talent is a social thing that should be done. But in order to honor those who deserve it, and with sincere respect, society should not stop at the title of doctor, but have to work hard to find out what research works and scientific contributions he has, what school they teach, how many years… and show respect (if they deserve it) by seriously listening to their opinions, reading what they write. A true intellectual would appreciate conversing with someone interested in his or her research, hearing questions that reflect an understanding of the scholar's work and accomplishments. In Vietnam, many people have a strange feeling when reading the newspaper that academics are always accompanied by the title of Professor, Associate Professor, Philosophy doctor (Ph.D. , and especially when these titles go together: Professor, PhD, Associate Professor. Doctor. Even many of you who have PhDs, are professors abroad, feel embarrassed and confused when "being" called like that in the mass media, which have nothing to do with academia. A bit embarrassed, quite embarrassed, but then dare not ask the press not to call him a doctor because that would be misunderstood as eccentric, as "reverse snobbery". What does a doctoral degree prove and for what?: Anyone who has taken a Ph.D. in the US knows that this degree is just an entrance ticket to an interview when applying for a job at universities and research institutes abroad. That's all. According to the famous economist Michael Spence (Nobel 2001), a degree (granted by a reputable university) is essentially a certificate for those who have no other way to demonstrate their ability (including his persistence). Spence explained: A person with real talent, everyone can see right away, does not need a degree when applying for a job! In economic terms: A degree is a “signal to the market”. A doctorate is the final degree of the modern education system, but it is only one (of many) indicators of the intellect. And even if it's such an indicator, it's not just the ultimate fight. In countries with an established academic background, a doctorate is just a ticket to the threshold of the undergraduate teaching and research community. It is not the ultimate “glory” of an academic career. The reputation of a researcher, of a professor depends entirely on his or her achievements after a doctorate (Einstein, for example, does not need anyone to call himself “Ph.D.”). Even an outstanding scientist, even without a doctorate degree, is still respected by society more than those with a doctorate, if he has a stellar academic career. Everywhere you go, you call yourself, or ask others to call you a Professor Doctor (even if you are a real doctor, not a fake), not only to pose and flaunt, but also to give yourself a feeling (often). False about true achievements, that you have now reached the pinnacle of my academics, and inevitably arrogant complacency. There is nothing more "anti-intellectual" than that attitude.

Situation:

What's the harm in claiming and calling each other Professor, Associate Professor Ph.D.? Many people will say, even if the media outlets flatter professors and philosophy doctors, never forget to include their academic degrees when writing their names, what harm does anyone do? Why not consider it as a reflection of the respect for the "soldiers" of Vietnamese culture? Well, from a narrow angle, this is indeed insignificant compared to the great problems of the country. However, it can be related to other phenomena that degrade the quality of our life. Such as: By promoting the title of Professor, Associate professor, because, as mentioned, these degrees are positions in the field of education, an indicator of research ability. They do not necessarily imply anything about the total worth of the person (whose main part, of course, is morality). Linking academic qualifications, without any other characteristic, to a person's identity automatically puts it at the forefront. It is this "habit" of the media that has helped maintain the "degree-taking" in Vietnamese society. The lack of degrees, thereby, will have understandable consequences on the quality of the doctorate: When the desire for a degree cannot be satisfied because the study and research ability of the “individual” is “limited ”. Then of course there will be fake doctorates, theses are not worthy of being called theses. The press will no longer call them doctoral, the quality of the doctorate will be better, because then only those who are truly capable, have wisdom, are passionate about research and teaching... a doctoral program, eliminating "elements" "born not for academic pursuits" (which in a normal society are completely normal, nothing to feel guilty about), running for " PhD' just for the sake of fame. Filtering out these "unsuitable" elements, the quality of the doctor will of course be better!

Solutions: 

The press is also unknowingly accomplices in this phenomenon. Because of the habit, or to "flatter" the litigants, the press rarely forgets to call a professor and doctorate Professor/Professor Ph.D. Therefore, when interviewed professors and doctors, please tell the reporter directly that there is no need to be "Professor" before his/her name. However, it must be recognized that this is a difficult custom to change. If an individual wants to do so and asks his interviewer to do so, it is unlikely that the journalist will listen, because journalists also want to be proud that they interview a "professor, doctor" and not must be "civilians"!  (1) If he or she currently holds another position (Minister, Chairman, etc.), only the current positions should be used, no need to add Professor at all. (2) Professor, Associate Professor , Philosophy doctor is enough, there is no need to call both (Professor,   Philosophy doctor, Doctor). In countries where these titles are long-standing, most professors have a doctorate, calling Professor , Philosophy doctor redundant. It should be noted that PhDs may not be professors (such as scientists working in research institutions). (3) Claiming to be a professor or a doctor only in situations where the title conveys useful information to the reader/listener, and if the interlocutor does not know that information. Professors (or PhD. not both) should be called only on university campuses, research institutes, or in scientific conferences and seminars.

Conclusion:

Honoring people with morality, sincerity, and talent is a social thing that should be done. But in order to honor those who deserve it, and with sincere respect, society should not stop at the title of doctor, but have to work hard to find out what research works and scientific contributions he has, what school they teach, how many years… and show respect (if they deserve it) by seriously listening to their opinions, reading what they write. While that verification won't be easy for most people unfamiliar with the academic environment (but Google can tell in a few minutes!), it's also a way to increase people's knowledge. A true intellectual would appreciate conversing with someone interested in his or her research, hearing questions that reflect an understanding of the scholar's work and accomplishments. It's the best way to honor "Dr"


Học vị, học hàm: thực trạng và giải pháp

Giới thiệu:

 Tôn vinh những con người có đạo đức, chân thành, tài năng là việc xã hội nên làm. Nhưng để tôn vinh những người xứng đáng và thành kính, xã hội không nên dừng lại ở danh hiệu tiến sĩ mà phải dày công tìm hiểu xem ông có những công trình nghiên cứu, đóng góp khoa học nào, dạy ở trường nào, bao nhiêu năm. … Và thể hiện sự tôn trọng (nếu họ xứng đáng) bằng cách nghiêm túc lắng nghe ý kiến ​​của họ, đọc những gì họ viết. Một trí thức thực thụ sẽ đánh giá cao việc trò chuyện với một người quan tâm đến nghiên cứu của họ, nghe những câu hỏi phản ánh sự hiểu biết về công việc và thành tích của học giả. Ở Việt Nam, nhiều người có cảm giác lạ khi đọc báo rằng học hàm luôn đi kèm với chức danh Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ triết học (Ph.D.), và nhất là khi các chức danh này đi liền với nhau: Giáo sư, Tiến sĩ, Phó Giáo sư. . Bác sĩ. Thậm chí, nhiều bạn có học vị Tiến sĩ, là Giáo sư ở nước ngoài cũng cảm thấy xấu hổ, bối rối khi “bị” gọi như vậy trên các phương tiện thông tin đại chúng, chẳng liên quan gì đến học thuật. Hơi xấu hổ, khá xấu hổ, nhưng sau đó không dám yêu cầu báo chí đừng gọi anh là bác sĩ vì như thế sẽ bị hiểu nhầm là lập dị, là “ngang ngược hợm mình”. Bằng tiến sĩ chứng minh điều gì và để làm gì ?: Bất cứ ai đã lấy bằng Tiến sĩ. ở Mỹ biết rằng tấm bằng này chỉ là tấm vé vào cửa phỏng vấn khi đi xin việc tại các trường đại học và viện nghiên cứu ở nước ngoài. Đó là tất cả. Theo nhà kinh tế học nổi tiếng Michael Spence (Nobel 2001), bằng cấp (do một trường đại học danh tiếng cấp) thực chất là một chứng chỉ dành cho những ai không có cách nào khác để chứng tỏ khả năng của mình (kể cả sự kiên trì của mình). Spence giải thích: Một người có tài năng thực sự thì ai cũng nhìn ra được ngay, không cần bằng cấp khi đi xin việc! Về mặt kinh tế: Bằng cấp là một “tín hiệu cho thị trường”. Tiến sĩ là văn bằng cuối cùng của hệ thống giáo dục hiện đại, nhưng nó chỉ là một (trong nhiều) chỉ số đánh giá trí tuệ. Và ngay cả khi đó là một chỉ số như vậy, nó không chỉ là cuộc chiến cuối cùng. Ở các quốc gia có nền học thuật lâu đời, bằng tiến sĩ chỉ là tấm vé để bước vào ngưỡng cửa của cộng đồng nghiên cứu và giảng dạy bậc đại học. Đó không phải là “vinh quang” cuối cùng của sự nghiệp học tập. Danh tiếng của một nhà nghiên cứu, một giáo sư phụ thuộc hoàn toàn vào thành tích của người đó sau khi có bằng tiến sĩ (chẳng hạn như Einstein, không cần ai gọi mình là “Ph.D.”). Ngay cả một nhà khoa học xuất chúng, dù không có học vị tiến sĩ, vẫn được xã hội kính trọng hơn những người có học vị tiến sĩ, nếu ông ta có một sự nghiệp học hành lẫy lừng. Đi đâu cũng gọi mình, hay nhờ người khác gọi là Giáo sư Tiến sĩ (kể cả là Tiến sĩ thật chứ không phải giả), không chỉ để tạo dáng, phô trương mà còn để tạo cảm giác cho bản thân (thường xuyên). Sai về thành tích thật, rằng bây giờ bạn đã đạt đến đỉnh cao trong học thuật của tôi, và không tránh khỏi sự tự mãn kiêu ngạo. Không có gì “phản trí thức” hơn thái độ đó.

Thực trạng:

Việc xưng tụng và gọi nhau là Giáo sư, Phó Giáo sư Tiến sĩ có tác hại gì? Nhiều người sẽ nói, dù báo đài có tâng bốc các giáo sư, tiến sĩ triết học đi chăng nữa thì cũng đừng bao giờ quên ghi bằng cấp học vị khi viết tên, có hại gì ai đâu? Tại sao không coi đó là sự phản ánh sự tôn trọng “kẻ sĩ” của văn hóa Việt Nam? Chà, xét ở một góc độ hẹp, điều này quả thực là không đáng kể so với những vấn đề lớn của đất nước. Tuy nhiên, nó có thể liên quan đến các hiện tượng khác làm suy giảm chất lượng cuộc sống của chúng ta. Chẳng hạn như: Bằng phong hàm GS, PGS, bởi như đã nói, những tấm bằng này là những chức vụ trong lĩnh vực giáo dục, một chỉ số đánh giá khả năng nghiên cứu. Chúng không nhất thiết ám chỉ bất cứ điều gì về tổng giá trị của con người (tất nhiên, phần chính của người đó là đạo đức). Việc liên kết trình độ học vấn, không có bất kỳ đặc điểm nào khác, với danh tính của một người sẽ tự động đặt nó lên hàng đầu. Chính “thói quen” truyền thông này đã góp phần duy trì thói “lấy bằng” trong xã hội Việt Nam. Do đó, việc thiếu bằng cấp sẽ gây ra những hậu quả dễ hiểu đối với chất lượng của tiến sĩ: Khi mong muốn có bằng cấp không thể thỏa mãn vì khả năng học tập và nghiên cứu của “cá nhân” bị “hạn chế”. Khi đó tất nhiên sẽ có những bằng tiến sĩ giả, những luận văn không đáng gọi là luận án. Báo chí sẽ không còn gọi họ là tiến sĩ nữa, chất lượng tiến sĩ sẽ tốt hơn, bởi khi đó chỉ những người thực sự có năng lực, có trí tuệ, say mê nghiên cứu và giảng dạy… mới có chương trình tiến sĩ, loại bỏ những “yếu tố” sinh ra không. vì mưu cầu học hành "(điều mà trong xã hội bình thường là hoàn toàn bình thường, không có gì đáng mặc cảm), tranh cử" tiến sĩ "chỉ vì danh lợi. Lọc bỏ những yếu tố “không phù hợp” này, chất lượng bác sĩ tất nhiên sẽ tốt hơn!

Giải pháp:

Báo chí cũng vô tình đồng phạm trong hiện tượng này. Vì thói quen, hay để “nịnh” đương sự, ít khi báo chí quên gọi một giáo sư, tiến sĩ là GS / TSKH. Vì vậy, khi được phỏng vấn các giáo sư, tiến sĩ, hãy nói thẳng với phóng viên rằng không cần phải là "Giáo sư" trước tên của ông / bà ấy. Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng đây là một phong tục khó thay đổi. Nếu một cá nhân muốn làm như vậy và yêu cầu người phỏng vấn mình làm như vậy, chưa chắc nhà báo đã nghe, vì nhà báo cũng muốn tự hào rằng mình đã phỏng vấn một “giáo sư, tiến sĩ” chứ không phải là “thường dân”! (1) Nếu người đó đang giữ chức vụ khác (Bộ trưởng, Chủ nhiệm…) thì chỉ sử dụng các chức vụ hiện tại, không cần thêm Giáo sư gì cả. (2) Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Triết học là đủ, không cần gọi cả hai (Giáo sư, Tiến sĩ Triết học, Tiến sĩ). Ở những nước lâu đời những chức danh này, hầu hết các giáo sư đều có học vị Tiến sĩ, gọi Giáo sư, Tiến sĩ triết học là thừa. Cần lưu ý rằng tiến sĩ có thể không phải là giáo sư (chẳng hạn như các nhà khoa học làm việc trong các cơ sở nghiên cứu). (3) Chỉ xưng là giáo sư hoặc tiến sĩ trong trường hợp chức danh truyền đạt thông tin hữu ích cho người đọc / người nghe và nếu người đối thoại không biết thông tin đó. Giáo sư (hoặc Tiến sĩ. Không phải cả hai) chỉ nên được gọi trong khuôn viên trường đại học, viện nghiên cứu hoặc trong các hội nghị và hội thảo khoa học.

Kết luận:

Tôn vinh những con người có đạo đức, chân thành, tài năng là việc xã hội nên làm. Nhưng để tôn vinh những người xứng đáng và thành kính, xã hội không nên dừng lại ở danh hiệu tiến sĩ mà phải dày công tìm hiểu xem ông có những công trình nghiên cứu, đóng góp khoa học nào, dạy ở trường nào, bao nhiêu năm. … Và thể hiện sự tôn trọng (nếu họ xứng đáng) bằng cách nghiêm túc lắng nghe ý kiến ​​của họ, đọc những gì họ viết. Mặc dù việc xác minh đó sẽ không dễ dàng đối với hầu hết những người không quen thuộc với môi trường học thuật (nhưng Google có thể cho biết trong vài phút!), Nhưng đó cũng là một cách để nâng cao kiến ​​thức của mọi người. Một trí thức thực thụ sẽ đánh giá cao việc trò chuyện với một người quan tâm đến nghiên cứu của họ, nghe những câu hỏi phản ánh sự hiểu biết về công việc và thành tích của học giả. Đó là cách tốt nhất để tôn vinh "Tiến sĩ"


Thứ Năm, 31 tháng 12, 2020

2013 GS Lê Xuân Khoa=Dân chủ VN

 


VIỆT NAM: VIỄN TƯỢNG DÂN CHỦ HOÁ

Ông là nhà giáo chuyên nghiệp. Năm 1950, ông chính thức vào nghề dạy học ở Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp Ðại Học Văn Khoa và Sư Phạm năm 1953, ông vào Sài Gòn dạy tại trường trung học Petrus Ký và viết sách giáo khoa cho Sở Tu thư, Bộ Giáo Dục.

Năm 1960, ông được học bổng của chính phủ Pháp theo học tại Ðại Học Sorbonne và ghi danh luận án Tiến sĩ Triết Học, đề tài: "Le Boudhisme dhyana au Vietnam".

Ông đã sang Ấn Ðộ nhiều lần để nghiên cứu Triết Học Ấn Ðộ.Ông giảng dạy Triết học Upanishad tại Ðại học Văn Khoa Sài Gòn và Văn Minh Việt Nam tại Ðại Học Ðà Lạt, Minh Ðức và Vạn Hạnh.
Chức vụ cuối cùng của ông ở Việt Nam là Phó Viện Trưởng Ðạihọc Sài Gòn.

Ông sang Hoa Kỳ năm 1975 và bắt đầu hoạt động ngay về tị nạn. Với tư cách chủ tịch Trung tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC), Ông vận động cho người tị nạn Ðông Dương với Chính Phủ và Quốc hội Mỹ, các chính phủ Hong Kong và Ðông Nam Á, Cao Ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc.

Ông được Phụ tá Ngoại trưởng Robert L. Funseth tuyên dương cùng với bà Khúc Minh Thơ và Mục sư Lý Công Thuận là đã có công đóng góp cho thỏa hiệp Việt Mỹ về vấn đề định cư cựu tù nhân chính trị. Ông cũng là người khởi xướng chương trình định cư người Việt hồi hương ở Hoa Kỳ (ROVR).

Năm 1993, ông được Bộ Ngoại Giao mời tham gia phái đoàn Mỹ dự Hội Nghị của Ủy Hội về An Ninh và Hợp tác ở Châu Âu (Commission on Security and Cooperation in Europe, CSCE) tại thủ đô Ba Lan để thuyết trình về vai trò của các tổ chức ngoài chính phủ trong công cuộc tái thiết và phát triển.

Năm 1996, ông được mời làm giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học về Nghiên cứu Quốc tế (SAIS) thuộc Ðại học Johns Hopkins ở Washington, D.C. Năm 2001, ông được nhận làm học giả ngoại trú của Học viện về Chính Sách Quốc Tế (FPI) cũng thuộc Ðại học Johns Hopkins, và từ đó chỉ chuyên tâm vào việc nghiên cứu và viết sách,
VIỆT NAM: VIỄN TƯỢNG DÂN CHỦ HOÁ

G.S LÊ XUÂN KHOA - đăng lúc 03:31:02 PM, Jul 09, 2005

Dưới đây là bản dịch bài mở đầu bằng Anh ngữ cho Nhóm thảo luận về “Triển vọng cho Xã hội Công dân” tại cuộc Hội luận về Việt Nam năm 2005: Tương lai Phát triển và Hội nhập Toàn cầu, tổ chức tại Ðại học St. Thomas, Houston, Texas, ngày 12-13 tháng Mười Một, 2004.

Dân chủ dưới hình thức chính quyền chưa bao giờ được nghĩ đến ở Việt Nam trước khi xứ sở hoàn toàn bị người Pháp đô hộ vào những năm đầu của thế kỷ 20. Trong vòng kiểm soát chặt chẽ của một đế quốc thực dân hùng mạnh, các sĩ phu Việt Nam yêu nước nhận thấy không thể nào giải phóng dân tộc bằng võ lực, nhất là trong khi đất nước còn bị cô lập và lạc hậu dưới một chính thể quân chủ đã lỗi thời. Họ bắt đầu thiết lập những chiến lược lâu dài nhằm đào tạo một thế hệ những người làm cách mạng hết lòng chiến đấu cho một nước Việt Nam không những tự do mà còn canh tân hóa. Mô hình của nền quân chủ sáng suốt ở Nhật bản do Phan Bội Châu cổ võ năm 1904 chẳng bao lâu bị thay thế bởi một loạt những khái niệm chính trị mới do ảnh hưởng của Tây phương. Trào lưu canh tân và dân chủ hóa mới mẻ này được Phan Chu Trinh khởi xướng khi ông cùng với Phan văn Trường, một luật sư ở Paris, thành lập “Hội Người Việt Nam Ái Quốc” vào khoảng năm 1913. Trong số những thành viên danh tiếng của hội này có Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Ái Quốc. Năm 1920, Nguyễn Ái Quốc chọn đường đi riêng bằng cách gia nhập Ðảng Cộng sản Pháp. 

Mặc dù dân chủ như một định chế chính trị là một sản phẩm của Tây phương, yếu tố cốt lõi của nó, tức là “vì dân”, đã được giảng dạy ở Trung Hoa và Việt Nam thời cổ như một thiên chức của nhà vua. Theo Mạnh Tử, một triết gia chính trị nổi tiếng của Nho giáo, “vua” đứng hàng thứ ba sau “dân” và “nước” (dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh). Theo quan niệm này, một vị minh quân có lòng “thương dân như con đẻ” sẽ được nhân dân tôn kính và tuân lệnh; trái lại, một nhà vua độc tài tàn bạo không quan tâm đến trách nhiệm của mình và “coi dân như cỏ rác” sẽ bị nhân dân coi như kẻ thù cần phải lật đổ. Ở thôn quê Việt Nam, có những tập tục trong làng xã mà ngay cả luật lệ của vua chúa cũng không thể thay đổi được, do đó có câu “Phép vua thua lệ làng”.

Những Trở ngại của Dân chủ hoá 

Ðiểm tương đồng này “vì dân” giữa chính thể dân chủ thật sự và nền quân chủ lý tưởng đã bị chế độ Cộng sản gạt bỏ cho đến khi Ðảng bắt buộc phải chuyển hướng bốn mươi năm sau. Tuy nhiên các nhà lãnh đạo Ðảng vẫn luôn luôn tuyên dương nhãn hiệu dân chủ. Quốc hiệu “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà” được duy trì trong ba mươi năm cho đến khi được đổi thành “Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam” năm 1976 sau khi thống nhất đất nước. Sau đó, Ðảng nói nhiều hơn đến quyền lực của nhân dân, nhấn mạnh rằng dưới chế độ cộng sản, nhân dân làm chủ đất nước, ban hành và thực thi các chính sách. Ðây là định nghĩa của “dân chủ nhân dân” hay “dân chủ xã hội chủ nghĩa” vì nguyên tắc của xã hội chủ nghĩa là “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Trên thực tế, nhân dân không có quyền hành gì và tám chục triệu người dân Việt Nam đã bị một bộ máy của chưa đầy ba triệu đảng viên cộng sản quản lý và khai thác. Nhờ hào quang chiến thắng được “kẻ thù mạnh mẽ nhất, nguy hiểm nhất và tàn sát nhiều nhất” (tức là nước Mỹ) và sự kiểm soát toàn bộ đời sống của nhân dân, đảng Cộng sản đã duy trì được chế độ độc tài toàn trị cho đến khi Ðế quốc Sô-viết bị tan rã vào cuối thập kỷ 1980.

Theo gương Mikhail Gorbachev trong chính sách “mở cửa” (glasnost) và “tái cấu trúc” (perestroika), Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tuyên bố “Ðổi mới hay là Chết” và bắt đầu một chương trình cải tổ gồm có những nỗ lực tiến đến một nền kinh tế thị trường và một chính sách cởi mở về tự do ngôn luận mệnh danh là “cởi trói văn nghệ sĩ”. Năm 1990, trước Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc, Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, đồng thời là Ủy viên Bộ Chính trị, đã thẳng thắn nhìn nhận rằng “những thành quả ban đầu trong chính sách đổi mới của chúng tôi đã cho thấy rõ những sai lầm cơ bản. Mục tiêu của chúng tôi là xây dựng một xã hội vì dân nhưng sai lầm là ở chỗ, trên thực tế, đây là một xã hội của nhà nước và bởi nhà nước.” Tiếp đó, ông Thạch long trọng tuyên bố rằng “việc xây dựng một xã hội của dân, bởi dân và vì dân đòi hỏi phải đổi mới không chỉ về kinh tế mà cả về mọi mặt bao gồm kinh tế, xã hội, văn hóa và chính trị. Song song với công cuộc đổi mới và tái cấu trúc kinh tế, Việt Nam đang thực hiện một tiến trình đổi mới từng bước vững chắc về chính trị.”1 

Thật chẳng đáng ngạc nhiên, khi trở về Hà Nội sau phiên họp ở Liên Hiệp Quốc và một chuyến ghé thăm ngắn thủ đô Washington D.C., ông Thạch đã bị các đồng nghiệp bảo thủ cực đoan thân (hay sợ) Trung Quốc chỉ trích kịch liệt và buộc phải từ chức vài tháng sau đó. 
Vì quá lo ngại sau khi khối Sô-viết hoàn toàn sụp đổ năm 1991, các nhà cầm quyền Việt Nam đã lập tức bãi bỏ tình trạng tự do ngôn luận có giới hạn và đưa ra những lời cảnh giác mạnh mẽ chống lại “âm mưu diễn biến hòa bình do các thế lực thù địch.” 

Việt Nam vội vàng nối lại các quan hệ bình thường với Trung Quốc và cố gắng theo sau nước đồng minh gần nhất và mạnh nhất này trong những toan tính thực hiện một nền “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” cũng như những phương cách đối phó với áp lực của quốc tế về các vấn đề nhân quyền. Tuy nhiên, vốn là một nước nhỏ không có thế lực mặc cả như Trung Quốc, Việt Nam phải vất vả hơn nhiều trong những cuộc đàm phán với Hoa Kỳ và cộng đồng thế giới để có thể được đối xử bình đẳng như những quốc gia không cộng sản. Trong tiến trình này, Việt Nam khó có thể cưỡng lại các biện pháp cải tổ về chính trị.

Những Biện pháp Nửa vời
Vấn đề đặt ra là các nhà lãnh đạo ở Việt Nam, muốn cho các nỗ lực hội nhập đất nước với cộng đồng thế giới được thành công, có ý định tiến đến một nền dân chủ thực sự hay không. Ta hãy xem xét phản ứng của nhà nước cộng sản Việt Nam đối với áp lực ngày càng gia tăng của Hoa Kỳ, Cộng đồng Âu châu, Tổ chức Thương mại Quốc tế, các quốc gia và cơ quan viện trợ, và các tổ chức nhân quyền trên thế giới. 

Năm 2000, từ ngữ “dân chủ” lại nổi bật trong ngôn ngữ chính thức ở Việt Nam. Trong một chuyến viếng thăm Washington D.C. vào tháng Chín năm đó, Tổng Bí thư Nông Ðức Mạnh, lúc ấy còn là Chủ tịch Quốc hội, loan báo rằng “Chúng tôi vừa quyết định thêm “dân chủ” vào những mục tiêu nhà nước cần thực hiện là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.” 
Quyết định nhấn mạnh lại vào mục tiêu dân chủ có vẻ cho thấy ý muốn tiến hành đổi mới chính trị của đảng cộng sản Việt Nam.

Tuy nhiên, bốn năm đã trôi qua và dân chủ vẫn chỉ là một lời hứa xuông. Giới lãnh đạo chính trị ở Việt Nam vẫn chú trọng vào việc “ổn định chính trị và xã hội” như điều kiện tất yếu trong bước quá độ đến “dân chủ xã hội chủ nghĩa”. Vấn đề là ở chỗ không biết thời gian bao lâu mới có được sự ổn định về chính trị và xã hội để đạt tới “dân chủ xã hội chủ nghĩa”, một mục tiêu đã bị Khối Sô-viết và các nước Ðông Âu loại bỏ từ lâu. Mặc dù đổi mới kinh tế đã làm cho đời sống của người dân được cải thiện, chẳng hạn việc bãi bỏ chính sách “hộ khẩu”, việc đi lại và du lịch và việc làm ăn của tư nhân được tự do hơn, những vi phạm trắng trợn về nhân quyền vẫn xảy ra khiến cho các quan sát viên quốc tế phải lên tiếng tố giác mạnh mẽ. Gần đây, theo khuyến nghị của Ủy hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Thế giới, Bộ Ngoại giao Mỹ đã qui định Việt Nam là “một nước cần đặc biệt quan tâm”. 

Nhằm đáp lại áp lực của quốc tế, Việt Nam đã thả một số người chống đối và giảm án tù cho một số người khác như một hành động thiện chí. Pháp lệnh Tôn giáo ban hành ngày 18 tháng Sáu, 2004, xác nhận công dân có quyền theo bất cứ tôn giáo nào mà mình lựa chọn, nhưng trên thực tế quyền tự do này mới chỉ được giới hạn vào tự do thờ phụng chứ chưa phải là tự do tôn giáo. 

Mọi cố gắng của chính quyền nới lỏng sự kìm hãm các quyền tự do của công dân đều chỉ là những biện pháp nửa chừng để cho sự an toàn của chế độ vẫn được bảo vệ. Dù sao chăng nữa, tình hình chung đã được cải thiện và tiến trình dân chủ, dù khó khăn và chậm chạp, hiển nhiên là một tiến trình không thể đảo ngược.

Trong khi dò dẫm trên bước đường cải tổ chính trị, chính quyền Việt Nam đã chấp nhận những thay đổi mới trong xã hội do những cuộc tiếp xúc với thế giới bên ngoài qua sự hợp tác và giúp đỡ của quốc tế và những phương tiện truyền thông điện tử tân kỳ. Những tác nhân làm thay đổi xã hội là những nguời làm kinh doanh, chuyên viên của các tổ chức quốc tế, văn nghệ sĩ trong các chương trình trao đổi văn hóa, sinh viên du học trở về nước sau khi tốt nghiệp, người Việt ở nước ngoài về thăm quê hương, và nhất là hàng trăm tổ chức quốc tế phi chính phủ đang thực hiện những chương trình nhân đạo và phát triển ở khắp nơi trên toàn quốc. Qua những cuộc giao tiếp này, các điều kiện thuận lợi cho một xã hội công dân được nảy nở và mở đường cho sự thành lập một chính quyền dân chủ. (Ông Nông Duy Trường sẽ thuyết trình về vấn đề này và nhấn mạnh đến vai trò của các tổ chức phi chính phủ và công cuộc toàn cầu hóa.) Ngòai ra, cũng cần ghi nhận rằng đa số dân chúng Việt Nam ở trong nước, ước định khoảng 60 phần trăm, là những người sinh sau năm 1975. Chắc chắn là thế hệ trẻ và năng động này rất tha thiết với công cuộc hiện đại hóa và dân chủ hóa Việt Nam. (Bà /Ông Thụy Như Ngọc sẽ thảo luận kỹ vấn đề này trong một bài nghiên cứu công phu về những điểm khác biệt giữa các địa phương và các thế hệ người Việt đối với các giá trị về chính trị). 

Một Ðường lối Thực tế
Dân chủ là một mục tiêu mà Việt Nam đang phấn đấu để đạt tới. Tuy nhiên, tiến trình dân chủ không thể nào hoàn tất được chừng nào mà chính quyền hiện nay còn cảm thấy sự tồn tại của mình bị đe dọa. Cũng như ở Trung Quốc, sự giằng co giữa hai khuynh hướng bảo thủ và tiến bộ có thể biến tiến trình dân chủ hóa thành một vòng lẩn quẩn cho đến khi chính quyền và nhân dân đạt được sự đồng thuận. Vấn đề là làm thế nào để có được sự đồng thuận giữa đảng cầm quyền và dân chúng? Mao Vu Thức, chủ tịch Hội đồng Quản trị của Viện Nghiên cứu Kinh tế “Thiên Tắc”, một cơ quan tư duy độc lập về kinh tế và chính trị ở Bắc Kinh, dường như có câu giải đáp thích hợp cho Trung Quốc, và giải đáp này, trong một mức độ lớn, cũng có thể áp dụng vào tình trạng của Việt Nam. 

Trong một bài báo đăng trên nguyệt san China Review tháng Chín, 2003,2 Mao Vu Thức (không có quan hệ với Mao Trạch Ðông) thảo luận về tiến trình đổi mới kinh tế và chính trị ở Trung Quốc từ giữa thập kỷ 1980 và nhận xét rằng “mặc dù môi trường chính trị ngày nay tốt hơn nhiều so với 25 năm về trước, vẫn chưa có sự cải tổ thiết yếu trong hệ thống chính trị và không có điều gì có thể tiên đoán được. Không ai biết là cần phải đi và sẽ đi về đâu. Bước đi nào là khả thi và an toàn cho mọi phía?” Tiếp đó, họ Mao nhấn mạnh rằng điều kiện tiên quyết cho nhân dân và chính phủ đạt được đồng thuận là sự nhìn nhận lẫn nhau và thái độ khoan dung đối với nhau. Nhân dân cần phải nhìn nhận tính cách chính đáng của chính phủ vì không thể có lãnh đạo hữu hiệu nếu không có thẩm quyền và ổn định xã hội. Ðể đổi lại, chính phủ phải chấp nhận sự tham gia của những công dân không phải là đảng viên, không chỉ trong những cuộc thảo luận xây dựng mà còn cả trong vấn đề điều hành việc nước, từ các hội đồng ở cấp xã lên đến cơ quan chính quyền trung ương. Mao phàn nàn rằng “Hiện nay, tỉ lệ những người ngoài đảng trong các chức vụ bộ trưởng và thứ trưởng còn ít hơn cả dưới thời Mao Trạch Ðông. Ðất nước được quản lý giống như đảng cộng sản. Ðó là điều bất bình thường. Nếu chúng ta không qua được trạm kiểm soát thì vấn đề dân chủ và pháp trị chỉ là những lời nói rỗng tuếch.” 

Về vấn đề khoan dung, Mao yêu cầu bộ tuyên truyền đình chỉ lề lối độc quyền việc nước để cho những ý kiến độc lập có thể được phát biểu. Ông nói: “Nếu những ý kiến dù hay hay dở đều bị cấm xuất bản, nếu mọi cuộc thảo luận đều bị chiếm độc quyền thì làm sao chúng ta có thể nhận diện đây (Trung Quốc) là một xã hội dân chủ?” Ông còn đề nghị rằng các tù nhân lương tâm phải được đối xử tử tế hơn vì “trên nguyên tắc, những tội phạm chính trị không thể bị trừng phạt.” Ông còn mạnh bạo hơn khi lý luận: “Nếu đảng Cộng sản tuyên bố ân xá các phạm nhân chính trị thì tính cách chính đáng của Ðảng sẽ lập tức được mở rộng và địa vị quốc tế sẽ được nâng cao. Ðặc biệt sẽ có một không khí khoan hoà cho những cuộc thảo luận về chính trị.” Mặt khác, theo Mao, những ý kiến khác biệt cần phải được phát biểu bằng lý trí chứ   không bằng cảm tính, bằng lịch sự chứ không bằng xúc phạm. Mao cảnh giác rằng: “Sự chỉ trích cần phải xuất phát từ những ý định tốt để được bên kia vui lòng chấp nhận. . . . Những điều chúng ta đọc thấy trên mạng thông tin hầu hết là than phiền và ngay cả xỉ vả. . . . Bày tỏ lòng bất mãn có thể chấp nhận được, nhưng nếu hầu hết mọi người đều thảo luận với thái độ (chỉ trích) như thế, cuộc thảo luận sẽ trở nên gay go và sẽ phải gián đoạn nửa chừng.” 

Từ ngày Ðặng Tiểu Bình lên cầm quyền, Trung Quốc đã tiến lên chậm chạp nhưng vững chãi trên con đường dân chủ hoá, dù cho mục tiêu chưa được xác định rõ và không biết chắc bao giờ mới đạt được. Theo ý kiến họ Mao, tiến trình này có thể lâu từ ba tới bốn chục năm, và ông yêu cầu mọi người chớ nên vội vã vì đa số dân Trung Quốc vốn nghèo và thất học. “(Họ) không coi dân chủ thời hiện đại là chính trị tốt, họ chỉ mong có được một chính phủ nhân đức do một vị minh quân cầm đầu.” Ông quả quyết rằng dân chủ hoá “không phải là một tiến trình thông suốt. . . . Ðây là một quá trình một bước lùi, hai bước tiến.”3 

Ðề nghị của Mao Vu Thức về sự nhìn nhận lẫn nhau và khoan dung đối với nhau có thể thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay còn lê bước ở đàng sau Trung Quốc về đổi mới cả kinh tế lẫn chính trị. Ðã đến lúc Việt Nam cần cho phép những nhà trí thức có tâm huyết thành lập một cơ quan nghiên cứu tư nhân tương tự như Viện Kinh tế “Thiên Tắc”4 ở Bắc Kinh. Viện này được thành lập năm 1993, lúc đầu chuyên nghiên cứu về kinh tếợ nhưng từ ngày cải tổ cơ cấu năm 1999 thì mở rộng sứ mệnh, từ “những cuộc nghiên cứu hàn lâm về kinh tế và các khoa học xã hội khác” đã trở thành một diễn đàn “tôn trọng ý kiến độc lập, tự do tìm tòi và thảo luận công khai. Qui chế mới của Viện với tư cách một tổ chức nghiên cứu vô vị lợi cũng làm cho Viện có thể mở rôỳng cho công chúng thực sự tham gia vào các hoạt động của Viện.”5 
Một thí dụ khác về tính công khai này là bản phúc trình về phiên hội luận thứ 234 (hai tuần một lần) của Viện. Bản phúc trình này dẫn lời Cai Decheng (Thái Ðắc Sanh ?), một tham luận viên chống đối mạnh mẽ tiến trình dân chủ hoá chậm chạp bằng việc nhắc đến trường hợp Ðài Loan. Ông nói: “Khi Tưởng Kinh Quốc bãi bỏ hai điều ngăn cấm thì dư luận chống đối ồn ào trong nội bộ Quốc Dân Ðảng. Họ cho rằng dân chúng Ðài Loan còn thấp kém không đủ trình độ dân chủ hoá. Nhưng các sự kiện sau đó đã chứng tỏ là họ sai lầm. Vì thế, chúng ta phải tin tưởng rằng người dân Trung Quốc cũng có đủ điều kiện dân chủ hóa.”6

Trong trường hợp Việt Nam, vấn đề nhìn nhận lẫn nhau và khoan dung với nhau không phải chỉ đặt ra giữa chính quyền và nhân dân trong nước. Nó còn là vấn đề giữa chính quyền trong nước và một cộng đồng hải ngoại ngày càng lớn mạnh về tiền bạc, trí tuệ và ảnh hưởng chính trị. Trong trường hợp này, chính quyền trong nước cần phải đi bước trước và chứng tỏ thiện chí một cách cụ thể hơn, nhất là những cử chỉ hòa giải với các nạn nhân của những chính sách học tập cải tạo và vùng kinh tế mới, để có được sự đáp ứng tích cực của cộng đồng người Việt ở nước ngoài. Ðây là một vấn đề rất nhạy cảm và phức tạp cần phải được thảo luận riêng biệt trong một dịp khác.

G.S LÊ XUÂN KHOA

Giáo sư Lê Xuân Khoa là cựu Chủ tịch Trung Tâm Tác Vụ Ðông Nam Á (SEARAC) và là giáo sư thỉnh giảng tại trường Cao học Nghiên cứu Quốc tế thuộc Ðại học Johns Hopkins, Washington, D.C. Ông là tác giả của nhiều bài viết về vấn đề tị nạn và về quan hệ giữa cộng đồng người Việt hải ngoại và Việt Nam. Cuốn sách của ông mới xuất bản gần đây “Việt Nam 1945-1995: Chiến tranh, Tị nạn và Bài học Lịch sử” đã gây được sự chú ý đặc biệt trong dư luận: : Ðịa chỉ email của G.S. Khoa là: khoa.le2@verizon.net

1 Diễn văn đọc tại phiên họp thứ 45 của Ðại Hội đồng Liên Hiệp Quốc, New York, 4 tháng Mười, 1990.

2 Bài báo nhan đề “Con Ðường Dân chủ hóa ở Trung Quốc” (The Road of Democratization in China) được in trên ấn bản Anh ngữ của nguyệt san China Review, tháng Chín 2003, do Unirule Institute of Economics xuất bản ở Bắc Kinh. Tất cả những lời của Mao Vu Thức (Mao Yushi) trích dẫn trong bài này, trừ chú thích số 3 dưới đây, đều được dịch lại từ bản dịch tiếng Anh của Wang Hongchang. Xem http://www.china-review.com/english/eng-11.htm 

3 Riêng câu này của Mao Vu Thức là do Jim Yardley trích dẫn trong bài báo “Democracy: Chinese Style: Two Steps Forward, One Step Back” (New York Times, December 21, 2003). 

4 Viện này được đặt tên là ”Thiên Tắc” (qui luật thiên nhiên) để xác định rằng mọi sinh hoạt kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học và xã hội đều phải tuân theo qui luật của vũ trụ chứ không thể theo những qui luật hoàn toàn do ý muốn của con người. Vì ý nghĩa đó, Viện Kinh tế Thiên Tắc được dịch sang Anh văn là “Unirule Institute of Economics” (Unirule là cách gọi tắt Universal Rules). 
Xem http://www.unirule.org.cn/E_introduction/e_intro.html, tr. 1, đoạn thứ nhất. 

5 như trên, tr. 1, đoạn “Mission”. 

6 Bản phúc trình này nhan đề là “Mục tiêu của Hiện đại hoá Trung Quốc là Dân chủ” (The Goal of Chinese Modernization is Democracy), trong China Review, March 11, 2004. Xemhttp://www.china-review.com/english/eng-20.htm