Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2021

2014 Đổi mới giáo dục đại học VN

 Đổi mới giáo dục đại học theo hướng hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay

22:21' 19/11/2014


TCCSĐT - Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, giáo dục đại học Việt Nam cần được đổi mới trên cơ sở vẫn giữ được những nét đặc thù của giáo dục đại học trong nước, đồng thời tiệm cận được các chuẩn chung của thế giới.
Vì sao cần phải đổi mới giáo dục đại học? Ở nước ta hiện nay, mặc dù chưa có định nghĩa chính thức về giáo dục đại học(1), nhưng qua các văn bản không chính thức, có thể hiểu giáo dục đại học là hình thức tổ chức giáo dục cho các bậc học sau giai đoạn bậc phổ thông với các trình độ đào tạo: gồm trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ và trình độ tiến sĩ.
Xét về mặt lịch sử, nền giáo dục đại học đã xuất hiện ở nước ta cách đây trên cả nghìn năm(2). Cho đến nay, lịch sử giáo dục đại học Việt Nam đã trải qua các nền giáo dục khác nhau: phong kiến, thuộc địa và chủ nghĩa thực dân mới (ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975). Sự nghiệp giáo dục đại học từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã trải qua gần 70 năm qua và đạt được những thành tựu to lớn, trong đó quan trọng nhất là đã góp phần tạo ra các thế hệ nguồn lực con người Việt Nam, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong giai đoạn đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay, nền giáo dục của nước ta ngày càng bộc lộ những bất cập và hạn chế.
Về mục tiêu, trong một thời gian dài, do nhiều nguyên nhân khác nhau, chúng ta chưa chú trọng đúng mức đến việc đặt ra mục tiêu cho nền giáo dục của đất nước, trong đó có giáo dục đại học. Thời gian gần đây, mục tiêu giáo dục đại học ở nước ta có sự thay đổi, như việc xác định quan niệm, mục đích của giáo dục đại học là đào tạo nhân tài (Luật Giáo dục Việt Nam năm 2012). Tuy nhiên, hiểu thế nào là nhân tài thì cho đến nay vẫn chưa có quan niệm thống nhất. Nếu coi nhân tài là người có sáng kiến, có khả năng, năng động, có đóng góp quan trọng vào sự phát triển dù trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận hay hoạt động thực tiễn, nghĩa là nhân tài phải là những người nổi trội và hiếm trong xã hội thì mục tiêu này khó đạt được đối với chất lượng thực tế của giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay. Trong thực tế, các trường đại học ở Việt Nam hiện nay, nhiều lắm cũng mới chỉ đủ khả năng trang bị cho người học (sinh viên, học viên hay nghiên cứu sinh…) kiến thức cơ bản, trang bị khả năng phân tích độc lập, dám suy nghĩ và biết suy nghĩ (suy nghĩ có phương pháp - tư duy khoa học). Như vậy, rõ ràng là ngay cả khi chúng ta đổi mới mục tiêu giáo dục đại học thì mục tiêu này cũng không phù hợp với khả năng, cũng như chất lượng thực tế của nền giáo dục đại học trong nước. Trong khi đó, rất nhiều quốc gia trên thế giới và ngay cả các quốc gia có nền giáo dục đại học tiên tiến khi đặt ra mục tiêu giáo dục, họ đều nêu lên những mục đích rất thực tế. Một trường đại học danh tiếng ở Mỹ đã xác định mục tiêu của mình như sau: “Mục đích của môi trường giáo dục và sinh hoạt sinh viên là đào tạo những cá nhân thành đạt và công dân có trách nhiệm. Người tốt nghiệp cảm thấy tự tin trong việc tìm hiểu rộng rãi nhiều vấn đề và kinh nghiệm ở môi trường đại học hay ngoài đời, dù là học bất cứ ngành chuyên môn nào”. Chữ “thành đạt” có thể hiểu là có sự hiểu biết về tri thức cơ bản, được sửa soạn kỹ càng để có thể tự tin vào đời và vào thị trường lao động (kiếm sống cũng như phát triển tri thức). Nhưng mục đích đào tạo thành những “công dân có trách nhiệm” thì được thể hiện rất rõ ràng(3). Với những mục tiêu như thế này, hầu hết các trường đại học ở Việt Nam hiện nay ít đặt ra hoặc chưa thực sự coi trọng, nên cũng là một trong những nguyên nhân góp phần làm giảm chất lượng sản phẩm (người học) sau đào tạo.
Về nội dung, mặc dù những năm qua đã có nhiều cố gắng đổi mới, cải cách nội dung giáo dục ở các cấp học theo hướng tiến bộ hơn, song nhìn chung so với một số nước trong khu vực và trên thế giới, nền giáo dục của nước ta vẫn còn lạc hậu, nhất là nội dung giáo dục ở bậc đại học. Nhìn tổng thể, phần lớn nội dung và chương trình giáo dục các cấp hiện nay ở nước ta đều được biên soạn hoặc chịu ảnh hưởng bởi nội dung, chương trình giáo dục của các nước xã hội chủ nghĩa trước đây, đặc biệt nền giáo dục Xô-viết. Trong một thời gian dài, những nội dung và chương trình giáo dục này khá phù hợp với nền giáo dục của nước ta và đã mang lại những thành tựu hết sức quan trọng. Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế hiện nay, nội dung chương trình giáo dục đại học nước ta đang bộc lộ rất nhiều bất cập và hạn chế:

Một là, nội dung kiến thức đào tạo còn nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành, chưa tạo được sự thống nhất gắn mục tiêu giáo dục với mục tiêu tìm kiếm việc làm đối với người học.

Hai là, chưa tạo được sự liên thông giữa các chuẩn mực giáo dục đại học trong nước và quốc tế. Mặc dù được đặt dưới sự quản lý và giám sát chặt chẽ của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhưng trên thực tế, khả năng liên thông kiến thức giữa các cơ sở giáo dục đại học ở nước ta hiện nay còn rất hạn chế, ít thừa nhận và tiếp nhận các kết quả đào tạo của nhau, nên người học rất khó khăn khi chuyển trường, ngành học. Việc liên thông kiến thức giữa các cơ sở giáo dục đại học trong nước và ngoài nước lại càng khó khăn hơn do có sự khác biệt về mục tiêu, nội dung và phương pháp đào tạo giữa các cơ sở giáo dục đại học trong nước và quốc tế (trừ các chương trình liên kết đào tạo theo thỏa thuận). Điều này không những gây khó khăn cho người học khi muốn chuyển đến cơ sở giáo dục ngoài nước, mà ngay cả việc công nhận văn bằng, chứng chỉ của các cơ sở giáo dục trong nước tại các nước mà người học chuyển đến định cư hoặc công tác cũng không phải dễ dàng.

Ba là, chương trình học còn nặng với thời lượng lớn. Một thống kê và so sánh cho thấy, thời gian học 4 năm ở một lớp đại học tại Việt Nam là 2.138 giờ so với Mỹ là 1.380 giờ(4). Như vậy chương trình học ở Việt Nam dài hơn 60% so với Mỹ. Thời gian học nhiều như vậy nên người học khó tránh khỏi việc rơi vào trạng thái luôn bị áp lực hoàn thành các chương trình môn học, ít có thời gian để tự học, tự nghiên cứu, hoặc tham gia các hoạt động xã hội khác. Nhìn chung, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chương trình giáo dục đại học tại Việt Nam hiện nay tỏ ra bất cập và kém hiệu quả. Đây cũng được coi là nguyên nhân cơ bản khiến nền giáo dục đại học ở Việt Nam đang có xu hướng tụt hậu.

Về phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học, các trường đại học ở nước ta hiện nay nhìn chung chưa tiếp cận với các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học đại học phổ biến của thế giới. Nhằm mục tiêu “nhấn mạnh đến kỹ năng xử lý vấn đề đặt ra trong cuộc sống hơn là tập trung vào việc làm đầy kiến thức đã có sẵn”, việc áp dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học của các trường đại học trên thế giới thường rất linh hoạt, dựa trên tinh thần đề cao vai trò của người học, tạo điều kiện tối đa cho người học có thể tự học, tự nghiên cứu. Tuy nhiên, tại Việt Nam hiện nay, do quan niệm “nền giáo dục cần trang bị cho người học một lượng kiến thức càng nhiều càng tốt để họ có thể có một nền tảng vững chãi khi ra trường”(5) nên vai trò, vị trí của người học chưa thực sự được quan tâm. Các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học còn khá lạc hậu. Kết quả khảo sát thực địa của Viện Hàn lâm quốc gia Hoa Kỳ năm 2006 có phần nhận xét về phương pháp dạy và học đại học của Việt Nam như sau: “Phương pháp giảng dạy không hiệu quả, quá phụ thuộc vào các bài thuyết trình và ít sử dụng các kỹ năng học tích cực, kết quả là có ít sự tương tác giữa sinh viên và giảng viên trong và ngoài lớp học; quá nhấn mạnh vào ghi nhớ kiến thức theo kiểu thuộc lòng mà không nhấn mạnh vào việc học khái niệm hoặc học ở cấp độ cao (như phân tích và tổng hợp), dẫn đến hậu quả là học hời hợt thay vì học chuyên sâu; sinh viên học một cách thụ động(6). Mặc dù, những năm gần đây, theo chủ trương của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều trường đại học, cao đẳng trong cả nước đã bắt đầu áp dụng phương pháp giảng dạy cho sinh viên theo phương thức tín chỉ, nhưng theo đánh giá của nhiều chuyên gia, “Đào tạo tín chỉ ở Việt Nam hiện chưa thực sự đúng với tinh thần của tín chỉ. Cách dạy, học vẫn còn chưa thoát khỏi tinh thần niên chế. Tính chủ động của sinh viên còn yếu kém”(7). Sự đổi mới về phương pháp giảng dạy trong các trường đại học ở nước ta hiện nay nhiều khi chỉ mang tính hình thức. Các thiết bị giảng dạy, như máy chiếu, video... chỉ là phương tiện hỗ trợ để nâng cao chất lượng giảng dạy, điều quan trọng hơn cả là sự nhận thức rằng giáo dục phải mang tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm thể hiện qua việc cải tiến về phương pháp và chương trình học vẫn chưa được chú trọng.

Nguyên nhân của những bất cập

Các bất cập, yếu kém trên đây góp phần làm cho giáo dục đại học ở Việt Nam tụt hậu và sự tụt hậu này đang tác động tiêu cực đến quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước:

Một là, chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn. Theo kết quả khảo sát tại 60 doanh nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh về “Đánh giá mức độ hài lòng của doanh nghiệp về chất lượng của sinh viên được đào tạo trong 5 năm đầu tiên sau khi tốt nghiệp (đánh giá dựa trên các tiêu chí kiến thức lý thuyết, kỹ năng thực hành, trình độ ngoại ngữ, tác phong làm việc và năng lực nghề nghiệp), chỉ có 5% tổng số sinh viên tham gia khảo sát được đánh giá ở mức độ tốt, 15% ở mức độ khá, 30% ở mức độ trung bình và 40% ở mức độ không đạt(8). Kết quả này không chỉ phản ánh sự hạn chế trong giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay mà còn gián tiếp chỉ báo một nguy cơ lao động Việt Nam sẽ tụt hậu so với các nước khác trong khu vực, trong khi các doanh nghiệp đã và đang sử dụng công nghệ tự động trong quản lý nhân lực.

Hai là, hạn chế về khả năng nghiên cứu và công bố các kết quả nghiên cứu. Hầu hết các nền giáo dục tiên tiến của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới hiện nay đều có khả năng tạo ra một đội ngũ các nhà khoa học đông đảo có trình độ nghiên cứu và công bố các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế với số lượng lớn. Cùng với xu thế hội nhập quốc tế, số lượng và chất lượng các công trình công bố trên các ấn phẩm khoa học quốc tế trở thành thước đo quan trọng, chỉ số khách quan không chỉ phản ánh sự phát triển khoa học - công nghệ cũng như hiệu suất khoa học mà còn phản ánh trình độ và chất lượng thực tế nền giáo dục của mỗi quốc gia. Tại Việt Nam, những năm gần đây, mặt dù đã có sự quan tâm của nhiều cơ sở giáo dục trong việc tạo cơ chế khuyến khích các nhà khoa học tập trung nghiên cứu và công bố các kết quả nghiên cứu trong nước và quốc tế, nhưng kết quả vẫn còn hạn chế, thậm chí có xu hướng ngày càng tụt hậu xa hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Việt Nam hiện nay có khoảng 9.000 giáo sư và phó giáo sư, 24.000 tiến sĩ và hơn 100.000 thạc sĩ. Theo thống kê của Viện Thông tin khoa học (ISI), trong giai đoạn 1996 - 2011, Việt Nam mới có 13.172 công trình khoa học công bố trên các tập san quốc tế có bình duyệt, bằng khoảng 1/5 của Thái Lan (69.637), 1/6 của Ma-lai-xi-a (75.530), và 1/10 của Xin-ga-po (126.881). Trong khi đó, dân số Việt Nam gấp 17 lần dân số Xin-ga-po, gấp 3 lần Ma-lai-xi-a và gần gấp rưỡi Thái lan. Không chỉ ít về số lượng, chỉ số ảnh hưởng của các công trình nghiên cứu khoa học của Việt Nam cũng thấp nhất so với các nước trong khu vực. Thứ hạng khiêm tốn này cũng nhất quán với số bằng sáng chế được đăng ký ở Mỹ và chỉ số sáng tạo do Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) xếp hạng.

Ba là, làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế. Thực tế cho thấy, sự bất cập, hạn chế trong giáo dục đại học ở nước ta hiện nay không chỉ tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn nhân lực, mà sâu xa hơn có thể làm suy giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Theo Báo cáo về Tính cạnh tranh năng lực toàn cầu 2013 - 2014 của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) được thực hiện với 148 nước, tính hiệu quả của hệ thống giáo dục Việt Nam được xếp ở vị trí 67/144. Ở hạng mục giáo dục đại học và đào tạo, Việt Nam đứng thứ 95 trong bảng xếp hạng, thứ 7 trong các nước ASEAN, sau Xin-ga-po (thứ 2), Ma-lai-xi-a (thứ 46), Bru-nây (thứ 55), Thái Lan (thứ 66), In-đô-nê-xi-a (thứ 64), Phi-líp-pin (thứ 67). Điều đáng nói là, trong số 12 tiêu chí then chốt giúp nâng cao hiệu quả cạnh tranh của nền kinh tế, sức khỏe và giáo dục cơ sở được WEF xếp vào tiêu chí thứ 4, chất lượng giáo dục và đào tạo cấp cao xếp tiêu chí thứ 5.

Có thể những con số so sánh nêu trên chưa phản ánh đầy đủ và thực chất nền giáo dục Việt Nam hiện nay, nhưng nó cũng là hồi chuông nhắc nhở chúng ta cần có ngay các giải pháp để đổi mới có hiệu quả giáo dục nước nhà, trong đó có giáo dục đại học, nếu không muốn ngày càng tụt hậu xa hơn so với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục đại học

Cùng với quá trình đổi mới đất nước nói chung, đổi mới nền giáo dục nước nhà, trong đó có giáo dục đại học, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm. Văn kiện Đại hội XI của Đảng khẳng định “Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”(9). Ngày 04-11-2013, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ra Nghị quyết số 29-NQ/TW về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trong đó nêu chín giải pháp đổi mới giáo dục toàn diện. Từ chín giải pháp mang tính định hướng trên đây, xin đề xuất một số khuyến nghị nhằm tiếp tục đổi mới hơn nữa giáo dục đại học Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

Thứ nhất, xây dựng triết lý giáo dục cho nền giáo dục nước nhà trong giai đoạn hiện nay, đồng thời mỗi trường đại học, mỗi cơ sở giáo dục cũng cần có triết lý giáo dục riêng phù hợp với tôn chỉ, mục đích và hướng tới hội nhập vào dòng chảy phát triển chung của giáo dục quốc tế.

Thứ hai, việc đổi mới tư duy giáo dục hiện nay cần “gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; hệ thống giáo dục được chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và mang đậm bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến ở khu vực”(10) như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI của Đảng khẳng định. Các cấp, các ngành, trước hết là Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có sự thay đổi một cách mạnh mẽ về tư duy trong tổ chức giáo dục đại học, như thay đổi cách tuyển sinh, lựa chọn “đầu vào” theo hướng thoáng hơn, cho phép các cơ sở giáo dục đại học tự đặt ra các tiêu chuẩn tuyển sinh và chịu trách nhiệm với người học bằng chính “uy tín” đào tạo của mình, cho phép hình thành nhiều mô hình đào tạo đại học khác nhau, kiểm soát chặt chẽ “đầu ra” của mỗi cơ sở đào tạo để bảo đảm chất lượng chung…

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ nội dung chương trình và phương pháp dạy học theo hướng hội nhập quốc tế. Nội dung chương trình và giáo trình cần được tổ chức xây dựng và triển khai theo hướng mở (cho phép cập nhật thường xuyên về kiến thức trong và ngoài nước, sử dụng giáo trình, học liệu trong nước hoặc ngoài nước một cách linh hoạt để giảng dạy cho người học), nội dung giảng dạy phải gắn chặt và phù hợp với yêu cầu thực tiễn của ngành nghề mà người học đang theo đuổi. Về phương pháp, cho phép sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học theo nguyên tắc “lấy người học là trung tâm”, giảm tải tối đa giờ giảng trên lớp để người học có thời gian tự học và tự nghiên cứu. Tất nhiên, các cơ sở đào tạo cần thường xuyên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá khách quan, chặt chẽ để bảo đảm tính hiệu quả của việc dạy và học.

Thứ tư, đổi mới vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước trong tổ chức giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế. Theo đó, về mặt pháp lý, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện các quy định về pháp luật đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế. Các cơ quan quản lý nhà nước, trực tiếp là Bộ Giáo dục và Đào tạo cần thay đổi cách tư duy về quản lý đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế. Thay vì trực tiếp quản lý toàn diện đối với các cơ sở giáo dục đại học, các cơ quan quản lý nhà nước chỉ nên đóng vai trò là cơ quan “tài phán”, định hướng các hoạt động theo luật pháp, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học được độc lập, tự chủ hơn trong các hoạt động. Cần tránh tư duy quản lý theo cách áp đặt, hoặc “bao cấp” đối với các hoạt động giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay.

Thứ năm, tăng cường các hoạt động nghiên cứu và công bố quốc tế, tiến tới quốc tế hóa các tiêu chuẩn đánh giá khoa học và các hoạt động về chuyên môn tại các cơ sở giáo dục đại học. Trước mắt, Nhà nước và các cơ sở giáo dục đại học cần có các cơ chế chính sách động viên, khuyến khích các nhà khoa học nghiên cứu và tích cực công bố kết quả nghiên cứu trên các ấn phẩm khoa học quốc tế. Về lâu dài, cần đặt ra lộ trình (đối với mỗi cơ sở giáo dục đại học khác nhau cần có những lộ trình khác nhau) tiến tới quốc tế hóa các tiêu chuẩn đánh giá các hoạt động khoa học và các hoạt động về chuyên môn trong tất cả các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời cần coi đây là giải pháp quan trọng để đưa giáo dục đại học Việt Nam hội nhập sâu hơn vào môi trường quốc tế./.

---------------------------------------------

(1) Luật Giáo dục đại học của Việt Nam năm 2012 trong phần giải thích từ ngữ (Điều 4) không nêu định nghĩa về giáo dục đại học

(2) Năm 1070, dưới triều vua Lý Nhân Tông Quốc Tử Giám được xây dựng dùng làm nơi mở khoa thi tuyển chọn nhân tài cho đất nước và được coi là trường đại học đầu tiên của Việt Nam

(3) Vũ Quang Việt: So sánh chương trình giáo dục đại học Mỹ và Việt Nam, Kỷ yếu Hội thảo khoa học về tổ chức, quản lý giáo dục đại học, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2005

(4) Vũ Quang Việt: Tài liệu đã dẫn, tr. 3

(5) Lê Minh Khôi: Giáo dục Việt Nam - nguy cơ tụt hậu khi ra trường, http://huc.edu.vn

(6) Ngô Tứ Thành: Cần đổi mới cách giảng dạy ở đại học, dantri.com.vn, ngày 12-3-2010

(7) Mỹ Quyên: Đào tạo tín chỉ ở Việt Nam còn nhiều bất cập, Báo Thanh niên, ngày 14-2-2012

(8) Doanh nghiệp “chấm điểm” sinh viên, Báo Tuổi trẻ online, ngày 22-5-2014

(9) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.130 - 131

(10) Văn kiện Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tám Khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2013, tr.101
Phạm Công Nhất PGS,TS. Đại học Quốc gia Hà Nội

2013 Hạnh phúc Thầy -Trò

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: "Thầy hạnh phúc thì trò hạnh phúc"

Thiền sư Thích Nhất Hạnh quan niệm, thầy cô cần phải nắm  được nghệ thuật chế tác hạnh phúc và xử lý khổ đau, rồi sau đó mới trao truyền lại cho các sinh viên của mình. Thầy cô hạnh phúc thì học trò cũng sẽ hạnh phúc và thế giới này cũng nhờ đó mà trở nên tốt đẹp hơn.

Đó là một nội dung trong buổi đối thoại của thiền sư Thích Nhất Hạnh và GS Lap-Chee Tsui, Viện Trưởng cùng Giáo sư Lee Chak Fan – giám đốc Trường giáo dục chuyên môn thường xuyên (HKU SPACE) của ĐH Hồng Kông, diễn ra ngày 13/3/2014. Dưới đây là lược trích nội dung buổi đối thoại.
  

"Hòa giải với mẹ cha"
Chúng ta hiện nay đang ở trong tình trạng bị quá tải thông tin. Thông tin thì tràn ngập nhưng sự hiểu biết thì lại thiếu. Có nhiều thông tin không có nghĩa là chúng ta có thể hiểu được chính mình và hiểu được thực tại. Để hiểu được, chúng ta cần phải biết cách lắng nghe và biết cách sử dụng ái ngữ. Vì vậy nên tổ chức những khóa học về kỹ năng truyền thông để chỉ dẫn cho mọi người cách thức sử dụng ái ngữ và lắng nghe....
"Bạn nói không phải với mục đích trách móc hay buộc tội, mà chỉ để cho những người ở nhóm bên kia hiểu được những khổ đau của bạn mà thôi"
Khi đã hiểu được khổ đau nơi mình và nơi người thì tự nhiên giọng nói của ta cũng chứa đựng năng lượng từ bi. Cách nói của chúng ta cũng có thể giúp nối lại truyền thông, bởi vì giọng nói của ta không còn năng lượng trách móc, buộc tội nữa. Chỉ cần nửa giờ hoặc một giờ thôi là chúng ta có thể nối lại truyền thông và hàn gắn lại mối liên hệ của mình.
Tôi nghĩ người trẻ có thể học được điều này từ trường học, và khi trở về nhà, các em có thể hàn gắn lại mối liên hệ của mình với cha, với mẹ, với anh chị em trong gia đình mình. Kinh nghiệm ở Làng Mai cho thấy những người trẻ sau khi tham gia các khóa tu đều trở về hòa giải với cha mẹ và gia đình mình.
"Thầy cô cần lắng nghe khổ đau của sinh viên"
Điều này rất cần thiết. Bởi vì nếu sinh viên có quá nhiều khổ đau thì thầy cô giáo cũng rất khó có thể truyền đạt kiến thức cho các em. Vì vậy mà việc giúp các em bớt khổ cũng giúp ích rất nhiều cho việc dạy và trao truyền kiến thức.
Nếu thầy cô giáo biết cách lắng nghe và hiểu được khổ đau của chính mình thì cũng có thể lắng nghe và hiểu được những khổ đau của các học trò, có thể giúp cho các em bớt khổ liền chỉ sau một giờ thực tập lắng nghe. Khi thầy cô giáo có thể lắng nghe và hiểu được khổ đau của học trò mình thì học trò cũng sẽ lắng nghe khi thầy cô giáo có khổ đau trong lòng. Bởi vì thầy cô giáo cũng có rất nhiều nỗi khổ, niềm đau. Nếu các em đã thấy và đã hiểu được khổ đau của thầy cô giáo thì sự truyền thông sẽ trở nên dễ dàng, và như vậy việc dạy và học cũng sẽ trở nên dễ dàng hơn.
Chúng tôi đã khám phá ra điều này nhờ vào kinh nghiệm có được khi đào tạo các giáo viên về chánh niệm. Vì vậy chúng tôi thấy rằng sự thực tập ái ngữ và lắng nghe giữa thầy cô giáo và học sinh, sinh viên có thể giúp làm thay đổi môi trường học đường, và giúp cho việc dạy và học trở nên tốt hơn.
Tôi nghĩ quý vị có thể đưa sự thực tập này vào nội dung đào tạo dành cho các giáo viên của trường. Muốn tốt nghiệp khóa học này, các giáo viên không chỉ nắm lý thuyết mà còn phải thực tập lắng nghe khổ đau của chính mình và khổ đau của những người xung quanh. Đây là một sự thực tập rất hay. Và nó luôn luôn có hiệu quả.
Thất nghiệp vẫn có thể hạnh phúc
...Những người không có việc làm chắc chắn là khổ rồi, nhưng ngay cả những người có việc làm cũng vẫn khổ như thường. Vì vậy, đây không phải là vấn đề của những người không có việc làm mà thôi.
  

Trong tăng thân chúng tôi, nhiều người đã từng có công ăn việc làm rất tốt nhưng họ đã từ bỏ những công việc đó để trở thành “thất nghiệp”. Tôi nghĩ chúng ta phải nói với người trẻ về hạnh phúc chân thực là gì. Bởi vì nhiều người nghĩ rằng hạnh phúc được làm bởi tiền tài, danh vọng, địa vị, sắc dục... Và nếu không đạt được những thứ đó thì họ khổ. Nhưng chúng ta thử nhìn xem, trong xã hội có nhiều người đã có đầy đủ những thứ đó nhưng vẫn tiếp tục khổ đau, thậm chí có nhiều người còn đi đến chỗ tự tử.
Vì vậy, theo tôi, hạnh phúc chân thực chỉ có được khi ta được hiểu, được thương, và ta có khả năng hiểu và thương những người khác. Chúng ta hoàn toàn có thể sống hạnh phúc mà không cần có nhiều tiền bạc. Ở Làng Mai, chúng tôi đang chứng minh cho điều đó. Ở đây các thành viên trong tăng thân không ai có nhà riêng, xe riêng, tài khoản riêng và cũng không có lương hàng tháng. Nhưng chúng tôi đâu có khổ, chúng tôi rất hạnh phúc, các bạn có thể thấy chúng tôi vui cười cả ngày. 
Đó là bởi vì chúng tôi sống trong sự hòa hợp và biết cách chế tác tình huynh đệ. Ngoài ra, chúng tôi thấy mình sống có ích và giúp được cho nhiều người bớt khổ. Chúng tôi thấy rằng hạnh phúc chân thực được làm bởi lòng từ bi và tình thương chân thực. Vì vậy mà dù ta sống rất giản dị và tiêu thụ rất ít thì ta vẫn có thể hạnh phúc như thường.
Thay đổi quan điểm về hạnh phúc
Điều quan trọng là chúng ta cần thay đổi quan niệm về hạnh phúc. Mỗi người trong chúng ta đều có một ý niệm về hạnh phúc và ý niệm đó có thể là trở ngại chính ngăn chúng ta tiếp xúc với hạnh phúc chân thực. Nếu chúng ta chưa tìm được việc làm thì chúng ta vẫn có thể sống một cách đơn giản, tiêu thụ ít lại nhưng vẫn có thể hạnh phúc hơn nhiều người đang có rất nhiều tiền bạc, địa vị và quyền lực trong xã hội.
Thiền sư Thích Nhất Hạnh, đối thoại, giới trẻ, giáo dục

Đó là lý do vì sao công tác giáo dục đóng vai trò rất quan trọng. Chúng ta cần đưa những nội dung như nghệ thuật xử lý khổ đau và chế tác hạnh phúc vào giảng dạy tại trường học. Điều này rất quan trọng.
Tôi nghĩ các thầy cô giáo là những người cần phải nắm cho được nghệ thuật chế tác hạnh phúc và xử lý khổ đau, rồi sau đó mới trao truyền lại cho các sinh viên của mình. Chúng ta cần phải bắt đầu với các giáo viên trước. Thầy cô giáo hạnh phúc thì học trò cũng sẽ hạnh phúc và thế giới này cũng nhờ đó mà trở nên tốt đẹp hơn.

(Theo Sen Vàng) 

2013 Học để làm gì? Dạy và học

 

Học để làm gì?

UNESCO đã đưa ra câu trả lời giúp chúng ta nhân dịp bước sang thiên niên kỷ mới, rằng: Học để biết, Học để làm, Học khẳng định mình và Học để chung sống với người khác (Learning to know, learning to do, learning to be and learning to live together).
Trọng tâm của giáo dục là việc học, chứ không phải là việc dạy hay nội dung chương trình. Vì thế, mọi hoạt động của giáo dục theo tôi đều phải xoay quanh việc học.
Với việc học, có ba câu hỏi tối quan trọng cần phải trả lời: “Học cái gì?”, “Học thế nào” và “Học để làm gì?”. Trong số ba câu hỏi này theo tôi, “Học để làm gì?” là quan trọng nhất, vì nếu trả lời được câu hỏi này thì hai câu còn lại sẽ tự động có đáp án.
Hệ thống giáo dục hiện thời đang đặt trọng tâm vào “Học cái gì?”, vì thế sách giáo khoa sẽ chiếm vị trí là trung tâm. Đó là lý do vì sao những cuộc cải cách giáo dục trong suốt mấy chục năm qua chỉ loay hoay vào sách giáo khoa. Ngay cả đề án đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đang được triển khai cũng tập trung vào sách giáo khoa với lượng kinh phí lớn.
Sách giáo khoa là chân lý. Ông thầy với cuốn sách giáo khoa trong tay chính là hiện thân của chân lý. Học sinh sẽ không được nói những điều khác sách, không được phản biện, chất vấn thầy cô. Việc học sẽ tiến hành theo kiểu đọc - chép, học thuộc, luyện tập nhuần nhuyễn các dạng bài, theo mẫu hoặc sách tham khảo.
Việc lấy “Học cái gì?” làm trọng tâm cũng dẫn đến một hệ quả tất yếu là học để thi vì đó là cách dễ nhất để kiểm tra xem học sinh đã học được cái gì. Mà khi đã học để thi thì bệnh thành tích cũng là hệ quả hiển nhiên, không cách nào khắc phục được.
“Học cái gì?” và “Học để thi” cũng là cách tốt nhất để thể hiện quyền uy của người thầy, vì chỉ cần kiểm tra học sinh xem có thuộc như sách hay không là nắm trọn quyền sinh, quyền sát trong tay. Đây là cách tiếp cận yêu thích của các nhà quản lý vì dễ dàng kiểm soát. Chỉ cần nắm chặt sách giáo khoa là kiểm soát được cả hệ thống.
Muốn thoát khỏi cách tiếp cận này thì hệ thống giáo dục cần phải thay đổi từ “Học cái gì?” sang “Học thế nào?” và lý tưởng nhất là chuyển hẳn sang “Học để làm gì?”.
Càng lên cao thì “Học để làm gì?” càng trở nên quan trọng. Với bậc đại học thì “Học để làm gì?” là câu hỏi chủ chốt mà mỗi sinh viên, và rộng hơn là nhà trường, cần phải trả lời. Với một cá nhân, muốn việc học có hiệu quả thì phải trả lời bằng được câu hỏi “Học để làm gì?”. Với một hệ thống giáo dục, muốn cải cách thành công thì câu hỏi này cũng phải được bàn thảo một cách thấu đáo.
Vậy nên, trong hơn một năm qua, tôi thường làm các khảo sát bỏ túi xung quanh câu hỏi “Học để làm gì?” với những bạn học sinh, sinh viên hoặc phụ huynh mà tôi gặp. Câu trả lời thường rơi vào các nhóm như sau: Học để thi; học vì bố mẹ bảo học; học vì không biết làm gì khác; học mà không biết học để làm gì; học vì tất cả mọi người đều như vậy; học như một quán tính, hết cấp 1 thì lên cấp 2, lên cấp 3, rồi vào đại học.
Khoảng 80% học sinh trung học cơ sở và phổ thông trung học, khoảng 50% sinh viên trả lời: học để kiếm tiền hoặc học để sau này có công ăn việc làm. Khoảng 40-50% sinh viên đại học và khoảng 20-25% học sinh phổ thông trung học nói rằng: học để có thể tự lo cho cuộc sống của mình, kiếm được công việc phù hợp, sau này đỡ khổ và giúp đỡ gia đình.
Khoảng 80-90% bậc phụ huynh trong kỳ thi đại học vừa rồi trả lời: học để mở mang hiểu biết hoặc học để có địa vị trong xã hội.
Câu trả lời chung trong các nhóm khác nhau, chiếm tỷ lên khoảng 5-10%, tùy theo nhóm là học để tự hoàn thiện mình. Với một số người có tuổi, hoặc giáo viên, thì có thêm câu trả lời: Học để làm người.
Như vậy có thể thấy, phần lớn các bậc phụ huynh đặt mục tiêu cho việc học của con để sau này có một công ăn việc làm tốt, kiếm được tiền lo cho bản thân và gia đình. Một số khác ít hơn cho rằng học để mở mang hiểu biết, để có địa vị trong xã hội. Với sinh viên thì mục tiêu học để kiếm tiền, để có công ăn việc làm chiếm khoảng một nửa, còn lại là học mà không có bất cứ mục tiêu nào.
Điều ngạc nhiên là trong số những người được hỏi, có đến >95% cho biết họ chưa từng tự đặt câu hỏi này cho bản thân mình.
Xét về logic thì đây là một sự bất hợp lý. Trung bình một người đang đọc bài viết này chắc hẳn đã đầu tư khoảng 10-20 năm để đi học. Một đầu tư rất lớn về thời gian và tiền bạc như vậy mà mục đích lại không rõ ràng thì thật là kỳ lạ.
Tất cả đều quay cuồng dạy và học, đua nhau nhồi nhét kiến thức, mà rất ít khi dừng lại tự hỏi: Học để làm gì?
Xét rộng hơn cho cả hệ thống thì kết luận cũng tương tự. Khi câu hỏi “Học để làm gì?” không được trả lời thì tính hướng đích của hệ thống sẽ không rõ ràng. Hoạt động của hệ thống sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn. Cải tiến, cải lùi, rồi lại cải tiến, rồi chạy lại vòng vòng, như mấy chục năm qua, là kết quả có thể dự đoán trước.
Trong mớ bòng bong đó, rất may, UNESCO đã đưa ra câu trả lời giúp chúng ta nhân dịp bước sang thiên niên kỷ mới, rằng: Học để biết, Học để làm, Học khẳng định mình và Học để chung sống với người khác (learning to know, learning to do, learning to be and learning to live together). Đây là một nhận định sáng suốt của UNESCO và cần được phổ biến. Nhưng đây không phải là câu trả lời duy nhất.
Trong số các câu trả lời mà tôi nhận được thì cá nhân tôi cho rằng, học để làm người là một nhận định xác đáng và sẽ vẫn còn chỗ đứng trong giáo dục. Vấn đề là người như thế nào?
Điều đó cho thấy câu trả lời này có nội hàm mập mờ, thậm chí hàm chứa cạm bẫy áp đặt quan niệm, nên cần làm rõ. Chẳng hạn, chỉ cần dấn thêm một bước bằng câu hỏi người là gì, hay làm người theo tiêu chí nào, thì câu trả lời này sẽ rơi vào thế bế tắc hoặc hỗn loạn vì có quá nhiều đáp án. Do đó, học để làm người thoạt nghe tưởng là chân lý, nhưng lại chứa rất nhiều nội dung không rõ ràng, hoặc bị áp đặt sai lệch, nên cần phải bàn thảo để làm rõ.
Vậy theo bạn, trong ba câu hỏi của việc học, thì đâu là câu hỏi quan trọng nhất? Bạn đã từng đặt câu hỏi “Học để làm gì?” chưa? Nếu có thì câu trả lời của bạn là gì? Bạn hiểu thế nào về học để làm người?
Giáp Văn Dương

Moi xem giao duc hien nay theo suy nghi cua mot hoc sinh 12:

http://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=XjUSOYcIQjM#!


Được đăng tải trên Youtube vào ngày 13/4, clip này đã nhận được hơn 60.000 lượt like, hàng nghìn lượt bình luận, được chia sẻ ở nhiều trang web khác, đồng thời thu hút rất nhiều tranh luận trái chiều từ người xem.
Mở đầu “bài diễn thuyết” của mình, nam sinh này nói: “Tôi là một học sinh lớp 12. Ở Việt Nam thì đây là giai đoạn khắc nghiệt nhất trong đời mỗi học sinh. Và chính sự khắc nghiệt này khiến cho những câu hỏi tích tụ qua bao tháng ngày dài sẽ phải bật ra ngoài thành những quan điểm…”
Với giọng lưỡi chất chứa đầy bức xúc, ngôn ngữ cơ thể sinh động, nam sinh này cho rằng “những gì mà chúng ta đang gọi là giáo dục là hậu quả không hề tươi sáng với bất kỳ thành phần nào của xã hội”.
Thừa nhận rằng tất cả những kiến thức đang được giảng dạy trong nhà trường hiện nay là những kiến thức nên biết, tuy nhiên nam sinh này cho rằng những kiến thức đó cần thiết ở mức độ nào đối với mỗi người thì lại là một vấn đề khác. “Con người ta sinh ra là khác nhau, tại sao tất cả lại phải phát triển theo cùng một hướng giống nhau?” – cậu học trò này đặt câu hỏi.
Giống như nhiều phân tích khác về chương trình sách giáo khoa hiện nay, người thuyết trình khẳng định rất nhiều kiến thức phải học hiện nay “chẳng hề cơ bản chút nào” và thực sự “không cần thiết”.
Chỉ cần học hết lớp 9 là đủ?
Phát ngôn “gây sốc” nhất của cậu là “chỉ cần học đến lớp 9 là đủ”, bởi theo cậu, ở tuổi 14, 15, nhiều người đã biết xác định được khả năng và lối đi riêng cho mình. Cậu khẳng định không nghề nào cần đến toàn bộ kiến thức THPT. Vậy mà học sinh lại phải đáp ứng bài tập, bài học của hơn một chục môn học?
Cậu khẳng định, trong một cộng đồng, không cần đến một thế hệ con người biết đầy đủ mọi điều, mà cộng hưởng với nhau để cùng phát triển một cách tốt nhất.
Tiếp đó, nam sinh này chỉ ra bệnh thành tích và hình thức của giáo dục hiện nay, bởi hầu hết học sinh học là để thi, để kiểm tra, để không bị tách rời khỏi đám đông, để được an toàn…. chứ không phải xuất phát từ mong muốn học để lấy kiến thức.
“Nếu sáng mai không kiểm tra thì hôm nay bạn có học không? Nếu mai được nghỉ mà ngày kia cũng chẳng kiểm tra môn gì thì bạn có mở sách ra để học không? Nếu không có bất cứ một khái niệm nào trong thi cử, bạn có mở sách ra để làm giàu cho bản thân mình không?”. Cậu đặt ra những câu hỏi khiến không ít người giật mình.
Nam sinh lớp 12 cũng cho rằng nguyên nhân khiến học sinh sợ các kỳ thi là do “điểm số” bởi “điểm số là khái niệm đầy bất cập”. Điểm số có thể bị ảnh hưởng bởi cảm tính, bị thay đổi bởi gian lận – và thứ được cho là thước đo ấy đã mất đi sự minh bạch. Theo nam sinh tự nhận là “kẻ lười biếng” này thì IQ chỉ là một phần nhỏ để đánh giá một cá nhân. Vậy thì cớ gì mà điểm số giữ được tính sáng suốt của nó? Cũng từ đó, cậu chỉ ra điểm số gây ra sự bất bình đẳng, sự tự phụ, tự ti, tị nạnh… - một điều không đáng có, đặc biệt là ở cấp tiểu học.
Không chỉ đưa đề xuất “học đến lớp 9 là đủ”, hay “không nên tạo ra điểm số”, cậu còn đưa quan điểm các cơ quan, doanh nghiệp không nên tuyển người qua bằng cấp. Một người lãnh đạo giỏi ắt sẽ biết đánh giá năng lực của người khác, và chỉ có những “thằng ngu” mởi tuyển dụng nhau bằng bằng cấp, học hàm, học vị.
Kết thúc bài thuyết trình, nam sinh này khẳng định muốn đánh giá một cá nhân, hãy nhìn vào những giá trị sản phẩm mà họ tạo ra. “Sản phẩm có ảnh hưởng lớn là có giá trị cao, không có ảnh hưởng là đồ vô dụng. Những thứ có giá trị ảnh hưởng không bao giờ là những thứ có sẵn bày ra như đáp án trong bài kiểm tra".
 Nguyễn Thảo - Anh Tuấn (Nguồn clip: Youtube)


Hiệu trưởng Trường THPT Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) Nguyễn Tùng Lâm: "Em đã khao khát nói lên chính kiến..."
Bản thân tôi luôn ủng hộ học trò tự do suy nghĩ, trao đổi thẳng thẳn và cởi mở những điều tự đáy lòng.Với người làm giáo dục hay ngành nghề nào cũng cần trân trọng hành động như của em.
Quan điểm, chính kiến của nam sinh lớp 12 được nhiều chuyên gia, nhà quản lí giáo dục ủng hộ (

Việc học trò nói lên quan điểm về đạo đức, yếu kém của nền giáo dục Việt Nam hay trăn trở của “một kẻ lười biếng” là em xuất phát từ ước mơ và khao khát nói lên chính kiến của riêng mình.
Mỗi người đều có cá tính riêng.  Tôi không có gì để trách móc hay phê phán em cả.
Hơn thế, xem clip dài hơn 1 tiếng nhưng phần đông mọi người đều chăm chú theo dõi. Cách em nêu quan điểm, lập luận rất chặt chẽ và lô-gic. Phong cách của người trẻ như em rất tự tin. Như vậy là quá giỏi, không nhiều người làm được như thế.
Những điều em nói cũng không có gì xa xôi hay viển vông. Cho rằng em quá “nổ”, chỉ trích em là suy nghĩ kiểu áp đặt.
Vừa xem clip tôi vừa suy nghĩ những điều em nói. Dù đâu đó còn điểm này điểm khác phải bàn lại nhưng chuyện giáo dục đặt nặng thành tích, thi cử nhiều, áp lực lớn như em trình bày tôi hoàn toàn ủng hộ.
Thầy Văn Như Cương, Hiệu trưởng Trường THPT Lương Thế Vinh (Hà Nội): "Tôi bị thuyết phục"
Làm giáo dục rất nên khuyến khích và để học trò nói lên chính kiến của mình như em học sinh lớp 12 trong clip. Cái nguy hiểm hiện nay là nhiều học trò chỉ biết học mà không biết nêu ý kiến, quan điểm hay đơn giản không xác định được mục đích của việc học.
Điều em nói cũng là trăn trở bấy lâu của những người có tâm huyết với nền giáo dục nước nhà. Trên nhiều diễn đàn, tôi cũng nêu quan điểm chương trình phổ thông hiện nay quá nặng nề, thiên về kiến thức. Cái gì chúng ta cũng muốn học trò biết mà thiếu đi dạy trò kĩ năng sinh tồn, kĩ năng sống.
Mục đích của chương trình phổ thông là dạy trò những gì cơ bản nhất để sau này mỗi người có thể làm được công việc của một kĩ sư, bác sĩ hay công nhân, thợ sửa máy,…Nếu được thì cần loại bớt một nửa kiến thức có trong sách phổ thông đi.
Những so sánh, lập luận của em học sinh cũng rất thuyết phục. Là người quản lí, lãnh đạo giáo dục càng cần lắng nghe.
  • Văn Chung (ghi)

 

Thư gửi 'kẻ lười biếng'

Tôi xúc động vì em có suy nghĩ giống tôi, nhưng em đủ dũng cảm và thông minh để đứng lên nói ra suy nghĩ của mình thật khúc chiết và thuyết phục, điều mà tôi vẫn chưa làm được.
Thân gửi em,
Bài nói chuyện của em trên YouTube suýt làm tôi rơi nước mắt. Tôi xúc động vì nhiều lẽ. Trước hết, em làm tôi nhớ lại thời học sinh của mình. Tôi cũng từng có nhiều suy nghĩ rất giống em, nhưng khi ấy suy nghĩ của tôi còn vụn vặt và tôi không có khả năng diễn đạt thành lời như em bây giờ. Ai đến tuổi thì cũng phải đi học. Và tôi cũng vậy. Nhưng chỉ trừ những năm cấp một, những năm còn lại đối với tôi là những chuỗi dài mệt mỏi của thi cử và điểm số.
Tôi cần điểm số để đạt danh hiệu này danh hiệu nọ và để cuối cùng vào được đại học, vì tôi tin rằng chỉ khi vào đại học tôi mới có một tương lai tươi sáng để tự lo cho bản thân và phụ giúp gia đình. Rồi rốt cục tôi cũng vào được đại học, có nghề nghiệp ổn định, và cũng đã có khả năng tự lo cho bản thân và phụ giúp gia đình như tôi từng mong muốn. Vậy thì tại sao tôi quá xúc động khi nghe em nói ra những suy nghĩ của mình?
Không phải những gì em nói bị nhiều người xem là vớ vẩn sao? Không phải em nên ngoan ngoãn vâng lời và tiếp tục học hành bình thường sao? Không. Em đã dũng cảm nói lên những suy nghĩ thật lòng mình mà ít người dám nói, là em không chấp nhận hệ thống giáo dục cứng nhắc, quá chú trọng thành tích mà thiếu quan tâm đến suy nghĩ, cảm xúc, và đam mê của học sinh, và của cả giáo viên. Những gì em nói cần được nhiều người lắng nghe — và nghe cho thật rõ.
Em làm tôi nhớ lại lúc tôi học thuộc lòng bài văn mẫu để chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp cấp hai, hay những lúc học mẹo môn sử để chuẩn bị thi tú tài. Hình như lúc ấy tôi xem những chuyện này là bình thường, nhưng giờ nghĩ lại không hiểu sao tôi cảm thấy rùng mình. Hệ thống giáo dục chạy theo thành tích đã đẩy tôi, em, và cả thầy cô giáo của chúng ta vào thói quen thiếu trung thực và vô cảm.
Tôi xúc động vì em có suy nghĩ giống tôi, nhưng em đủ dũng cảm và thông minh để đứng lên nói ra suy nghĩ của mình thật khúc chiết và thuyết phục, điều mà tôi vẫn chưa làm được.
Tôi cũng bắt gặp hình ảnh của Dewey và Foucault trong những gì em nói. Em giúp tôi hiểu triết lý giáo dục mà Dewey và Foucault đề xướng một cách sinh động và cụ thể hơn. Khi nghe em nói, tôi dễ dàng hình dung ra một học sinh trung học đang thiếu vắng nụ cười của sự say mê trên môi vì mải chạy theo thi cử.
Người học sinh đó có thể vẫn cười nói vì nhiều lý do khác nhau, nhưng tuyệt nhiên không phải vì say mê môn học. Người học sinh đó có thể là em, mà cũng có thể là tôi của mười mấy năm trước, và cũng có thể là biết bao sinh viên, học sinh khác hiện đang ngồi trên ghế nhà trường. Cũng giống như tôi, các em rồi cũng sẽ ra trường, cũng có việc làm, rồi cũng nhớ ơn những thầy cô đã từng dạy dỗ mình suốt những năm phổ thông và đại học. Nhưng chắc chắn các em cũng sẽ không quên những phút giây căng thẳng, buồn chán, thậm chí phẫn uất vì bị nhồi nhét trên ghế nhà trường mà lẽ ra các em không phải chịu đựng.
Nhưng chắc rồi nhiều người trong các em cũng sẽ dần dần xem đó là chuyện đã qua, như là một trải nghiệm mà ai cũng phải có, để rồi các em lại bắt buộc con cái của mình tiếp tục đi trên con đường đó. Tôi xúc động vì cậu học sinh lớp 12 là em dám sống thật lòng mình và lên tiếng chống lại lối giáo dục mà em và tôi đều nghĩ là thiếu nhân bản.
Tôi đồng ý với em là một người có thể trở thành kỹ sư, bác sĩ, hay tiến sĩ, nhưng trong tâm hồn có khi cũng chỉ là nô lệ của bằng cấp, của thi cử, của cách suy nghĩ giáo điều mang tính áp đặt mà nhà trường hiện đang tạo ra. Và chính những người này lại tiếp tục tạo ra những tâm hồn nô lệ mới, cũng bằng cách nhồi nhét và áp đặt ý tưởng của mình lên những người khác.
Em cũng làm tôi xúc động khi nói về đam mê của em và bạn bè em, vì nói thật tôi cũng đang vật lộn với đam mê của chính mình. Tôi và em không phải là ngoại lệ. Biết bao nhiêu người chọn nghề vì nghề đó hái ra tiền chứ không phải vì đam mê. Hái ra tiền không phải là điều sai, nhưng không được làm những gì mình đam mê thì cũng thật đáng buồn. Và nhiều người không biết đam mê thật sự của mình là gì — vì họ đã quen chạy theo những trào lưu và định chế xã hội đến nỗi quên đi cái tư lương trong sáng của mình, cái tư lương vốn có khả năng cho mình biết mình là ai và mình thích điều gì.
Không phải chỉ một học sinh lớp 12 như em không biết mình thích gì, mà một người 30 tuổi như tôi có khi vẫn vật lộn với câu hỏi đó. Tôi đồng ý với em là nhà trường cần có khả năng phát hiện và nuôi dưỡng lòng đam mê của học sinh, không phải làm ngược lại. Điều này tôi đã nghe người ta nói quá nhiều ở trường sư phạm, nhưng mấy ai đã thực sự làm được trong môi trường giáo dục Việt Nam hiện nay?
Tôi cũng xúc động vì em làm tôi nghĩ đến con đường tương lai của mình. Tôi đang học về ngành giáo dục với những con người đầy tâm huyết, đạo đức, và nhân văn. Nhưng tôi sẽ đi theo con đường nào đây? Liệu tôi có dám dấn thân để đi theo con đường đạo đức và nhân văn đó, hay tôi sẽ đặt nặng hơn phần cơm áo gạo tiền?
Trong mấy chục năm qua, nhiều thế hệ thầy cô giáo Việt Nam đã bị đặt trong một hoàn cảnh hết sức khó khăn của cơm áo gạo tiền rồi. Họ cũng muốn hết lòng dạy dỗ học sinh, nhưng họ cũng không thể quên chuyện cơm áo gạo tiền, quên trách nhiệm nuôi sống gia đình và con cái của mình. Dù nhiều thầy cô giáo giờ đây đã có thể sắm xe hơi nhà lầu nhờ vào dạy thêm và những công việc bên ngoài, nhưng tận sâu trong tâm hồn, tôi vẫn nghĩ họ là những người thiệt thòi nhất. Thiệt thòi vì họ có cảm giác không làm tròn phận sự của người thầy mặc dù họ có những lý do chính đáng nhất.
Ở một xã hội mà người giáo viên được trả mức lương thấp hơn mức sống tối thiểu, thấp hơn cả lương của một công nhân nhà máy, thì chúng ta cũng không thể mong chờ gì nhiều hơn ở người thầy. Một xã hội mà trong đó người lao động không kiếm đủ cái để ăn đã là một xã hội tệ. Một xã hội mà trong đó người giáo viên vừa là nô lệ của thành tích vừa phải chật vật lo cho cuộc sống của mình là một xã hội còn tệ hơn nhiều. Một xã hội như thế không thể tiến bộ được. Những tiến bộ thấy được, nếu có chăng, cũng chỉ là tiến bộ nhất thời, hay chỉ là phồn vinh giả tạo mà thôi.
Bài nói chuyện của “kẻ lười biếng” thật hay vì nó gợi lên trong tôi rất nhiều suy nghĩ về bản thân, về đồng nghiệp, về học trò, và về tương lai của đất nước Việt Nam. Và nó rất thật. Không, em không lười biếng chút nào hết. Đúng như em nói, không có học sinh nào lười biếng cả. Tôi mong em sẽ thành công theo cách em muốn và trong tương lai em sẽ làm được nhiều việc lớn lao cho đất nước. Nói nhỏ cho em biết, thi cử và bằng cấp đang là một căn bệnh đang lây lan khắp toàn cầu, chứ không chỉ ở Việt Nam đâu em.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả.
Tác giả đang nghiên cứu sinh ở Mỹ về giáo dục Mỹ.  
Nguyễn Huy Cường

Nhìn thẳng vào sự thật từ clip luận về giáo dục

- Những tưởng clip "Sự trăn trở của một kẻ lười biếng" chỉ như một "thú chơi"   của một nam sinh tự xưng học lớp 12. Thế nhưng, quan điểm của nam sinh đưa ra được độc giả đón nhận... nồng nhiệt. Thậm chí còn phong là "người hùng", "thần đồng"... 
Một ngày sau khi clip đăng tải, hàng trăm comment gửi về có đến phần nửa ủng hộ. Một phần cho rằng, nam sinh "ngựa non háu đá" và cảnh báo "coi chừng bị ném đá". Số ít cho rằng, quan điểm đưa ra chỉ đúng khoảng 30%...
Xem xong clip độc giả Quynh An nhận xét: "Cậu học sinh này là người có tài. Những gì cậu nói đều rất chí lí."
Chung cảm xúc, độc giả Võ Tuyên ví von: "Sự trăn trở của kẻ lười biếng" - theo tôi phải nói đó là sự trăn trở của một học sinh tâm huyết với nền giáo dục nước nhà. Em có những suy nghĩ rất sâu sắc và thực tế. Có lẽ các nhà lãnh đạo, quản lý giáo dục cũng nên bớt chút thời gian vàng ngọc của mình để nghe và xem xét những vấn đề mà em nêu ra".
"Một bài hùng biện quá xuất sắc đòi hỏi sự am hiểu sâu rộng cả lý thuyết và thực tiễn ở nhiều khía cạnh xã hội và kỹ năng trình bày quá tốt" - là nhận xét của độc giả có nickname Sky.
Thậm chí, bạn đọc Nguyễn Gia Lộc còn gọi nam sinh là "thần đồng"...
Không ít ý kiến đề xuất: "Cho nam sinh này làm trợ lý Bộ trưởng GD-ĐT sau đó là Bộ trưởng...". Một số bạn đọc cho rằng, diễn thuyết của nam sinh có đạo diễn và chỉ như "thùng rỗng kêu to?"
Giáo dục lạc đường
Độc giả Thiên Vũ nhìn nhận: "Hãy bỏ qua những sai sót trong cái clip của anh bạn này, mà nên nhìn thẳng vào nội dung của nó. Và tôi tin rằng ai chịu khó nghe hết điều thấy rằng đó là thực tế của ngành giáo dục Việt Nam -  trải qua bao năm nó vẫn đi theo lối mòn và đi tới ngõ cụt".
Theo độc giả Vũ: "Muốn hiểu thực tế hãy hỏi giáo viên. Họ là người biết rõ nhất bất cập và sai lầm của giáo dục, nhưng họ không phản đối và họ cũng không dám nói lên. Đó là hạn chế của ngành giáo dục Việt Nam...."
"Do vậy, Bộ GD-ĐT cần có những cuộc cách mạng trưng cầu ý kiến để thấy sai phải lên tiếng. Và nên có hành động từ chức nếu thấy bản thân không thể làm cho giáo dục phát triển" - độc giả Vũ kiến nghị.
Đồng quan điểm, độc giả Nguyen Phuong tiếp kiến: "Phải nói nam sinh lớp 12 là người sáng suốt và can đảm nói ra những điều mà những người sáng suốt khác chưa đủ tự tin để nói vì áp lực của hoàn cảnh xã hội. Hiện, nền giáo dục Việt còn rất bất cập. Ví như trong hệ thống giáo dục của ta rất ít đề cập đến môn giao tiếp xã hội, đến giáo dục bản lĩnh đối mặt với những khó khăn trong cuộc sống và nhiều những kỹ năng mềm khác.
Đồng thời, quên giáo dục học sinh niềm đam mê và định hướng lối đi cho mỗi cá nhân. Đổi lại tiêu tốn quá nhiều thời gian, trí óc và tiền bạc của xã hội để ôm lấy mớ kiến thức mà sau đó họ mãi sẽ không sử dụng đến. Việc đào tạo ra, để cho họ một tấm bằng mà không phải là một sự thành công trong công việc mà họ lựa chọn..."
Điều Bộ GD phải suy nghĩ?
Độc giả hatranhai kiến giải: "Không phải cậu học sinh này nói tất cả đều đúng nhưng tôi thấy các nhà làm giáo dục nên xem lại cách giáo dục ở nước ta. Tôi là một nghiên cứu sinh ở nước ngoài về tôi thầy giáo dục ở Việt Nam quá nặng với các cháu. Khi đến trường cháu nào cũng một ba lo nặng thời gian ăn còn không có lấy đâu ra thời gian chơi.
Ở các nước tiên tiến học sinh của họ học rất nhàn nhưng thời gian thực hành của họ thì rất nhiều. Ở các nước ấy họ có phương pháp sư phạm rất hay họ gần như hướng học sinh học phân ban ngay từ đầu chính vì vậy học sinh của học rất tập trung học rất ít nhưng hiệu quả rất cao. Nó tạo ra một con người có chuyên môn rất sâu. Còn ở Việt Nam sau khi sinh viên ra trường nhà tuyển dụng hỏi thì sinh viên cái gì cũng biết nhưng khi đi sâu vào chuyên môn thì họ chả biết cái gì cả chính vì vậy họ chả làm được cái gì".
Do vậy đề xuất "học sinh chỉ cần học đến lớp 9 là đủ" của nam sinh lớp 12 nhận được nhiều hưởng ứng. Bạn đọc Mạnh Phong phân tích:  "Tôi đồng cảm nhất ở suy nghĩ chỉ cần học đến lớp 9 là đủ. Nếu thiết kế lại chương trình một cách hệ thống đồng bộ thì kiến thức cơ bản đến lớp 9 là đủ . Cho nên bắt đầu từ năm lớp 8, 9 nên hạn chế sách vở hay chính xác hơn là nên cho học thông qua thảo luận, tham quan, du lịch (kiểu hội trại), thí nghiệm và các câu lạc bộ học sinh tự tổ chức có thầy cô phụ trách (rất tâm đắc kiểu CLB của các trường Nhật Bản).
Hết lớp 9 bắt đầu phân các trường: tiếp tục học chuyên ngành kiểu như đại học hiện nay và hệ đại học gộp cùng với cấp 3. 2 năm cuối nên là đi thực tập và làm việc thực tế tại các công ty, đánh giá qua thuyết trình, luận văn, công trình sáng tạo được làm ra trong thời gian này,điểm đánh giá của công ty... và 1 loại trường khác là trường nghề. Đào tạo nghề cụ thể ra làm ngay được hoặc đào tạo theo đặt hàng của một công ty cụ thể.
  • Phong Đăng(tổng hợp)
Cần phân phối lại chương trình
Đề xuất táo bạo tưởng chừng như bất khả thi của cậu học trò lớp 12 này đã nhận được rất nhiều ủng hộ của cả các giáo viên, học sinh và các bậc phụ huynh. Các ý kiến cho rằng 3 năm phổ thông nên tập trung hướng nghiệp, dạy kỹ năng mềm, chỉ học các môn gần với nghề nghiệp sau này.
Độc giả Nguyễn Minh Hải đưa ý kiến 3 năm phổ thông chỉ nên dạy tập trung vào các môn mà các em đã lựa chọn để thi đại học và nên bỏ hẳn thi tốt nghiệp THPT. “Nếu làm như vậy thì chất lượng chuyên môn của học sinh sẽ cao và tập trung hơn. Bỏ thi tốt nghiệp sẽ tiết kiệm nhiều chi phí cho xã hội hơn” – độc giả này nhận xét.
Có cái nhìn mang tính xã hội hơn, độc giả Nguyễn Duy Hòa đưa lý do cho việc chỉ học đến lớp 9 là đủ: “Vì quãng thời gian sống rất ngắn, mà lĩnh hội tri thức thì cần kinh nghiệm sống. Mặt khác, bây giờ tuổi trẻ nhận thức rất nhanh. Cần phải phân phối lại chương trình để người trẻ có thể cống hiến và làm được nhiều việc hơn cho xã hội”. Độc giả này cho rằng thời gian học (kể cả đại học) từ 16-17 năm là quá dài.
Cùng chung quan điểm là độc giả Huỳnh Hải Bình. Anh Bình cho rằng cần kéo dài tuổi thơ cho các em bằng cách cho trẻ đi học muộn hơn (8 tuổi) và chỉ nên học chương trình 10 năm. “Hiện nay sau khi vào lớp 1 cha mẹ các em không còn thời gian cho con em mình sống với tuổi thơ mà chỉ cho con vào trường để rảnh rang kiếm sống. Các em phải học mất 16 -17 năm, tuổi thơ bị cắt giảm sớm quá!”
Một số độc giả lớn tuổi, đã từng trải qua giai đoạn giáo dục hệ 10 năm trước kia thì cho rằng việc chuyển sang hệ 12 năm là “phí phạm”. “Thế hệ chúng tôi chỉ học hết lớp 10, nhưng những gì chúng tôi có từ ngày ấy sau 40 năm vẫn như còn ở trong đầu. Các bài toán, lý, hóa, văn, sử, địa, sinh vật vẫn đủ để kèm con, kèm cháu. Còn bây giờ.....?
"Ngày xưa cách đây 50 năm, thời Bộ trưởng Tạ Quang Bửu đương nhiệm đã phân cấp HS, ai học hết lớp 7 mà không đủ điều kiện học nữa thì đã có các trường "Phổ thông Công nghiệp" đào tạo thợ. Ai giỏi, có đủ điều kiện mới học lên để thi ĐH. Còn bây giờ.....?” – bạn đọc Thái Thụy Hà so sánh.
Dậy sóng
Luồng ý kiến ngược chiều cho rằng đề xuất “chỉ học đến lớp 9” của nam sinh này có phần “ngây ngô”, “thiếu khả thi”.
Độc giả Bạch Phương nhận xét, quan điểm của cậu học trò lớp 12 “mới chỉ đúng một nửa vấn đề”, bởi sự khác biệt về môi trường sống giữa các vùng miền ở Việt Nam dẫn đến sự khác nhau về tầm hiểu biết, sự tiếp xúc của trẻ với xã hội.
“Cậu sinh ra ở thành phố (có thể thế), xung quanh cậu có đầy đủ mọi nguồn thông tin khác nhau để cậu có thể trưởng thành mà không cần đến trường. Thế nhưng trên đất nước ta thử hỏi có bao nhiêu nơi có đầy đủ điều kiện như của cậu? Tôi ở cách bờ hồ Hoàn Kiếm chưa đầy 30km vậy mà tôi cảm nhận thấy sự khác biệt vô cùng lớn đấy anh bạn ạ...
Nếu không có chương trình giáo dục kiểu "hàn lâm" máy móc như hiện nay thì tôi e là những trẻ em ở các vùng sâu, vùng xa,... những nơi chỉ có cuốn sách giáo khoa là thứ sản phẩm trí tuệ, là chỗ dựa và là đòn bẩy duy nhất cho cuộc đời họ để họ tiến vào thế kỷ 21, sẽ khó có thể đứng lên để nói chuyện phải quấy với cậu đấy... Theo cậu, liệu chúng ta có nên tạo cho họ một cơ hội để thay đổi cuộc đời?” – bạn đọc Bạch Phương phân tích.
Chị Nguyễn Mây thừa nhận những sai lầm trong việc lựa chọn ngành nghề của học sinh hiện nay, tuy vậy chị phản đối việc nam sinh này khẳng định “học sinh 15, 16 tuổi đã biết xác định được khả năng và lối đi riêng” vì thiếu căn cứ.
Với tư cách là một phụ huynh, chị Phạm Thị Hương Lan cho rằng học hết lớp 9 có chăng chỉ đủ về kiến thức sách vở, chứ chưa đủ trưởng thành và hoàn thiện về mặt tính cách cũng như tâm lý để tự xác định lối đi cho riêng mình. “Cháu tôi cãi anh chị tôi vì cháu cho như thế là không có lỗi. Tôi thấy giật mình vì ngày xưa mình cũng cảm thấy thế nhưng chỉ là không dám cãi. Nhưng giờ đã có con, tôi đặt mình ở cả hai vị trí và tôi có thể hiểu cháu tôi và anh chị tôi”.
Riêng độc giả Nguyễn Sang thì cho rằng những quan điểm trong clip cho thấy cậu học trò chưa hiểu hết về giáo dục, tuy nhiên nếu phủ nhận hoàn toàn nội dung có lẽ là bảo thủ.
Vấn đề quan trọng là sau những đoạn clip như thế này nếu không làm gì để thay đổi thì sẽ có rất nhiều điều tương tự sẽ xảy ra với giáo dục.
Kinh nghiệm giáo dục các nước
Nhiều độc giả đưa ví dụ về tính thực tế của nền giáo dục các quốc gia khác. Du học sinh Mỹ Chris Trang cho biết mặc dù giáo dục Mỹ không dừng lại ở lớp 9, nhưng từ lớp 10 trở lên, học sinh được toàn quyền chọn những môn học phù hợp với định hướng tương lại của mình. Dù vẫn có 4 môn cơ bản toán, văn, sử, khoa hoc, nhưng học sinh vẫn có thể lựa chọn những môn phù hợp với những gì họ sẽ học trong tương lai (như trong clip có nói kỹ sư xây dựng thì đâu cần phân tích tác phẩm văn học) – độc giả này chia sẻ.
Bạn đọc Nguyễn Thoại từng học tại Cộng hòa Séc giai đoạn 1979 đến 1983 chia sẻ: “Lúc đó Tiệp Khắc học phổ thông trung học cũng chỉ 9 năm, tiếp sau trung học có hướng nghề 3 năm, sau đó mới thi vào đại học”.
Về vấn đề kiến thức nặng nề, bạn đọc Mai Phương Tú đưa dẫn chứng chương trình môn Toán 3 năm lớp 10, 11, 12 của Việt Nam chỉ được dạy ở cấp đại học của Mỹ.
Nhiều độc giả cũng cho rằng chương trình giáo dục của ta nên thực tiễn hơn. Ví dụ như một bạn đọc nêu ví dụ: “Ở CHLB Đức, trẻ 5 tuổi ở lớp mẫu giáo đã được cảnh sát vào tận trường dạy cho cách đi bộ sang đường, gặp đèn xanh đèn đỏ thì đi hay dừng thế nào. Lớp 4 là tất cả học sinh đều phải biết bơi. Ở cấp tiểu học họ dạy rất kỹ về đạo đức làm người… Chính vì vậy trẻ em mới chỉ 7 - 8 tuổi đã rất bạo dạn, ứng xử chững chạc và nói năng rất mạch lạc trước người lạ”.
  • Nguyễn Thảo(tổng hợp)

"Năm 2012, khi thảo luận về đổi mới cơ bản và toàn diện GDVN, tôi đã đề nghị một trong những công việc đầu tiên cần làm là tái cấu trúc nền giáo dục theo mô hình giáo dục phổ thông chỉ còn 2 cấp làtiểu học và trung học, bỏ đi cấp THPT" - Hiệu trưởng Trường ĐH FPT Lê Trường Tùng nêu quan điểm khi trao đổi với VietNamNet.
Ông Lê Trường Tùng cho biết: Clip “Sự trăn trở của một kẻ lười biếng” - đây là lần đầu tiên xã hội được nghe ý kiến khá đầy đủ của học sinh phổ thông liên quan đến nền giáo dục nước nhà.Học phổ thông chỉ duy trì 9-10 năm?
Với những gì em học sinh chia sẻ - tôi cho rằng đó là dấu hiệu tốt. Đặc biệt trong bối cảnh đang soạn thảo Đề án “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” để trình Trung ương xem xét phê duyệt.
Những gì học sinh lớp 12 này nói thêm một lần nữa khẳng định việc đổi mới GDVN là việc cấp bách, và đổi mới phải mang tính chất cơ bản, toàn diện, chứ không thể chỉ dừng lại ở các giải pháp mang tính tình thế.
- Một trong những phát ngôn đáng chú ý của nam sinh này là “chỉ cần học đến lớp 9 là đủ. Xin ông cho biết quan điểm cá nhân về vấn đề này?
Năm 2012, khi thảo luận về đổi mới cơ bản và toàn diện GDVN, tôi đã đề nghị một trong những công việc đầu tiên cần làm là tái cấu trúc nền giáo dục theo mô hình giáo dục phổ thông chỉ còn 2 cấp là tiểu học và trung học, bỏ đi cấp Trung học phổ thông (THPT).
Khi đó thời gian học phổ thông chỉ còn khoảng 9-10 năm, sau đó có thể học CĐ hoặc học dự bị ĐH trước khi vào ĐH.
Khi học trung học, học sinh có thể chọn 6-7 môn, chứ không phải học tất cả các môn như hiện nay. Các nước theo mô hình giáo dục Anh quốc - chẳng hạn như Singapore - đang triển khai giáo dục phổ thông theo dạng này.
- Nếu thực hiện theo đề xuất này của ông, GDVN sẽ gặp thuận lợi, khó khăn gì?
Nếu quyết tâm chuyển đổi và dựa trên hệ thống giáo dục Anh quốc thì hoàn toàn có thể sử dụng chương trình, sách giáo khoa của Anh cho các môn Khoa học, Toán, Kinh tế, Nghệ thuật - chỉ phải soạn lại các môn xã hội. Đây không phải là việc khó nếu thực sự muốn làm.
Trong cơ chế toàn cầu hiện nay, đến lúc nào đó tính chất quốc gia chỉ nên giữ lại một phần. Chuyện khung, thời gian chương trình về mặt nguyên tắc phải làm sao đáp ứng được yêu cầu hội nhập. Học sinh nước ngoài, có thời gian học phổ thông rất ngắn sau đó vào ĐH. Ta dù có học thêm đi chăng nữa sau cũng chỉ vậy mà thôi.
-Nhiều người vẫn lo chuyện “nhập khẩu” tài liệu như ông nói sẽ không phù hợp với năng lực học trò VN?
Những môn về xã hội có thể soạn riêng. Nhưng như đã nói những môn môn Toán, Lý, Hóa, CNTT, Thiên văn,…đâu nhất thiết nước nào soạn chương trình riêng cho nước đó. Đi theo họ 2/3 chương trình đã có sẵn. Dịch sang tiếng Việt không khó. Mua bản quyền còn rẻ hơn biên soạn sách mới.
Phải kiến trúc lại GDVN
- Phải chăng chương trình giáo dục phổ thông VN hiện nay đang quá nặng về kiến thức, thiếu dạy kĩ năng sống cho học sinh, thưa ông?
Mục đích giáo dục phổ thông là tạo văn hóa, tri thức chung cơ bản cho mỗi công dân. Nếu theo các nước phát triển, chức năng định hướng nghề nghiệp được thể hiện ngay khi lên trung học học sinh được lựa chọn các môn mình thích.
Bên cạnh ngoại ngữ, CNTT, Toán bắt buộc. Những môn còn lại, 3 4 môn còn lại thích gì thì học đó. Thử hỏi trò phổ thông mấy em ở VN biết đến chứng khoán, công ty là gì. Trong khi những khái niệm ấy nhan nhản trên mặt báo. Nước ngoài, lớp 7- 8 đã có môn dạy về kinh tế, kinh doanh. Và 20 tuổi là có bằng ĐH rồi.
Ví dụ như vậy để thấy giáo dục của ta vừa thừa vừa thiếu. Cần không cần vẫn dạy, cái thiết thực nhiều khi bỏ quên hoặc làm qua loa. Đặc biệt là những kĩ năng mềm hay giáo dục sức khỏe,.. mấy trường học ở ta coi trọng? Trong khi cái đó gắn bó suốt đời với mỗi con người
- Bộ GD-ĐT đang tiến hành công cuộc đổi mới chương trình, SGK phổ thông sau 2015. Ông có nghĩ đề xuất của mình được tiếp thu?
Trong khi Đề án Đổi mới căn bản và toàn diện nền GD VN chưa được duyệt - thì tất cả việc làm khác ở dưới chỉ là tình thế.
Gốc rễ vấn đề là ta chưa quyết được 12 năm hay rút ngắn. Nếu cứ làm (viết sách),…thì đổi mới sẽ chỉ tập trung vào phần ngọn.
GDVN đang thiếu quy hoạch mạch lạc dẫn đến tồn tại nhiều bất cập, thiếu gì thì “đẻ” ra cái đó. Một đô thị vẫn có nhà cửa nhưng thiếu thiết kế nhà cửa ấy sẽ loạn lên. Giáo dục cũng vậy, cần kiến trúc lại cho mạch lạc. Ổn rồi thì dựa vào đó xây dựng mới yên tâm được. Kiến trúc tốt mà xây dựng tồi vẫn có thể có một sản phẩm tồi nhưng kiến trúc tồi kiểu gì cũng không giải quyết được vấn đề.
- Xin cảm ơn ông!
  • Văn Chung(thực hiện)

2011 Giáo dục là cuộc sống

 Giáo dục là cuộc sống

Giáp Văn Dương

TP - Giáo dục là cuộc sống, hay chỉ là sự chuẩn bị cho cuộc sống? Tùy vào câu trả lời, sẽ có các mô hình giáo dục khác nhau hoàn toàn về bản chất. Nhưng giáo dục Việt Nam chưa làm được việc này.
Khi nhận xét về việc học ở Việt Nam, những người có điều kiện trải nghiệm nền giáo dục bên ngoài hầu hết đều có chung những nhận xét: Học sinh Việt Nam phải học quá nhiều, học quá nặng, bị nhồi nhét, học những thứ không sử dụng được…
Sở dĩ xảy ra tình trạng này là vì một số sai lầm trong quan niệm về giáo dục. Trong đó nặng nề nhất là cho rằng: Giáo dục chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho học sinh bước vào đời, chứ không phải là chính cuộc đời của học sinh lúc đó.
Chính vì cho rằng giáo dục chỉ là sự chuẩn bị nên đã xảy ra tình trạng nhồi nhét sao cho hành trang vào đời càng nặng càng tốt. Hoạt động giáo dục vì thế chỉ dừng ở sự chuẩn bị, nhồi nhét kiến thức và thường xa rời cuộc sống thực.
Tính tự chủ và sáng tạo của học sinh bị tước đoạt. Thay vào đó, học sinh được yêu cầu phải nhồi nhét trăm thứ bà rằn theo tiêu chuẩn của một nhóm người chịu trách nhiệm về chương trình giáo dục, thay vì được sống cuộc đời học tập của chính mình.
Việc đánh giá cũng tất nhiên sẽ được tiến hành theo kiểu kiểm tra xem mỗi học sinh đã nhồi nhét được bao nhiêu trong túi hành trang của mình.
Điều này tất yếu dẫn đến việc thi cử hình thức nặng nề. Việc dạy và học cũng bị biến tướng thành dạy và học chỉ để thi cử. Học để thi, chứ không phải học để sống và làm việc như một người tự do có trách nhiệm.
Người giỏi khi đó sẽ được hiểu là học giỏi chứ không phải làm giỏi. Xã hội sẽ tổn phí rất nhiều nguồn lực vào việc dạy và học những điều không cần thiết, thay vì làm ra những sản phẩm sáng tạo, hữu ích cho đời sống thực.
William Butler Yeats cho rằng: “Giáo dục là thắp sáng một ngọn lửa, chứ không phải là đổ đầy một bát nước”. Điều đó có nghĩa, khơi dậy sự sáng tạo và tài năng tiềm tàng của học sinh là nhiệm vụ chính của giáo dục, chứ không phải là sự nhồi nhét kiến thức thuần túy.
Chưa kể, những kiến thức này, khi vào sách giáo khoa thì thường đã phải đi một chặng đường dài và trong nhiều trường hợp đã trở nên lạc hậu.
Mỗi học sinh, hay mỗi con người nói chung, cần được đối xử như một chủ thể sáng tạo. Giáo dục cần khơi dậy tiềm năng sáng tạo đó của người học.
Nếu không, việc học khi đó sẽ trở thành hư học. Còn việc dạy sẽ đánh mất bản chất khơi gợi dẫn dắt thiêng liêng để thoái hóa thành việc nhồi nhét tri thức thuần túy, di hại rất nhiều cho việc phát triển của học sinh sau này.
Trong thời đại ngày nay, với kho thông tin vô tận của internet và các mạng xã hội, việc nhồi nhét đã trở thành vô nghĩa. Con người ngày nay không thiếu thông tin như vài chục năm về trước, mà đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng thừa thông tin. Nhiều người đã ví sự khủng hoảng này như một trận lụt mà nếu không biết cách xử lý, mỗi người có thể sẽ bị chết ngộp bởi sự ngập ứ và tàn phá của việc lụt thông tin này.
Vì thế, thay vì nhồi nhét những thông tin và tri thức cụ thể, giáo dục cần dạy cách làm chủ và xử lý nguồn thông tin ngày mỗi ngày nhiều thêm. Học cách học, học cách xử lý tri thức trở nên quan trọng hơn việc học các kiến thức cụ thể rất nhiều. Khi đó, người giỏi sẽ được quan niệm là người làm giỏi, chứ không phải là học giỏi.
Muốn như vậy, giáo dục phải được coi là bản thân cuộc sống của người học, với mọi tình huống, thách thức và được đánh giá bởi những tiêu chuẩn của cuộc sống thực sự chứ không phải chỉ là sự chuẩn bị.
Những năm tháng đi học phải được coi là chính cuộc đời của học sinh, thực với mọi thách thức và kỹ năng cần phải trang bị, chứ không phải chỉ là sự chuẩn bị cho học sinh bước vào đời. Chỉ với cách đó, giáo dục mới có thể lấy lại được sức sống vì vị thế khơi gợi dẫn dắt thiêng liêng của mình.