Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2021

2011 Minh quân nước Nhật và sự trì trệ ở Việt Nam

 Minh quân nước Nhật và sự trì trệ ở Việt Nam

Tác giả: Ngọc Hà (tổng hợp)
(VEF.VN) - Minh Trị Thiên Hoàng, người đã quyết định cải cách triệt để, trên mọi mặt từ giáo dục, chính trị, quân sự cho đến kinh tế - đã giúp nước Nhật hùng cường mọi mặt. Việt Nam thì sao?
LTS: Đáp lại lời kêu gọi cùng tham gia tranh luận của tác giả chương trình "Dân ta biết sử ta" - ông Nguyễn Thiện - trong bài Ngẫm về khát vọng canh tân nước Việt, rất nhiều độc giả đã gửi ý kiến đến VEF.VN.
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam chọn đăng bài viết của độc giả Thanh Nam (thanh...@gmail.com) khi đề cập đến vị minh quân của nước Nhật với những dòng máu chất lượng cao đã giúp nước Nhật trở nên hùng mạnh, trong khi Việt Nam vẫn trì trệ với nền giáo dục lâu nay kéo theo sự trì trệ cả về kinh tế và nhiều lĩnh vực khác. Bên cạnh đó là một số ý kiến tiêu biểu của các độc giả khác.
Mời độc giả tiếp tục theo dõi và chia sẻ quan điểm của mình bằng cách gửi email về: vef@vietnamnet.vn. Xin trân trọng cảm ơn.
Những giọt máu chất lượng cao
A.S. Makarenko - nhà cải cách giáo dục kiệt xuất - danh nhân văn hóa thế giới người Nga - trong một lần bàn về tầm quan trọng của giáo dục đã từng ví von rằng: "Nền giáo dục giống như trái tim, còn những công dân sống và làm việc trong xã hội giống như những giọt máu, được tim co bóp để đi nuôi sống cơ thể - tức là xã hội".
Nếu mở rộng tầm mắt vuợt qua cái màn ngăn cách về không gian và thời gian chúng ta nhìn sang Nhật Bản - xứ sở của ngọn núi Phú Sĩ hùng vĩ những bộ quần áo Kimono nổi tiếng, hoa anh đào tươi đẹp, những miếng shushi bé xinh xinh vô cùng hấp dẫn. Nhưng có lẽ khi nhắc đến hình ảnh nước Nhật người ta liên tưởng ngay đến một cường quốc về khoa học kỹ thuật, xã hội phát triển ở mức cao, nhưng vẫn bảo tồn, phát triển được nền văn hóa với nhiều phong tục tập quán truyền thống của mình để trở thành một nét văn hóa vĩ đại của châu Á khiến cho giới học giả, nghiên cứu phương Tây phải ngưỡng mộ.
Minh Trị Thiên Hoàng đã tạo ra cơ chế để nhân tài nước Nhật cống hiến, phụng sự tổ quốc (ảnh tư liệu)
Đi xa hơn một chút nữa vào thời điểm giữa thế kỷ 19 lúc đó nước Nhật phong kiến dưới sự cầm quyền của chế độ Mạc phủ Tokagawa, là một quốc gia nghèo nàn và lạc hậu trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội v.v... (có khi còn kém hơn cả Việt Nam thời Nguyễn).
Nhưng may thay, vào thời điểm đó nước Nhật lại có một vị minh quân, với cái nhìn vượt thời đại, đã kịp thời nhận thấy rằng, nếu cứ để sự tụt hậu về kinh tế, xã hội diễn ra mãi thì chẳng bao lâu một đế chế Nhật hùng cường trong quá khứ trong phút chốc sẽ trở thành một miếng mồi béo bở cho các nước thực dân xông vào xâu xé. Nguời đó chính là Minh Trị Thiên Hoàng, người đã quyết định đưa ra những cải cách triệt để, trên mọi mặt từ giáo dục, chính trị, quân sự cho đến kinh tế. Nhưng vấn đề được ông đặt lên hàng đầu là cải cách giáo dục, bằng việc từ bỏ lối thi cử khoa bảng, tầm chương chích cú kiểu cũ, thay vào đó là kiến thức khoa học - kỹ thuật của phương Tây, đưa sinh viên ra nước ngoài học tập.
Và đúng như triết lý của A.S. Makarenko, những giọt máu chất lượng cao cứ thế ra đời, tạo nên một thế hệ công dân, lãnh đạo mới, và kéo theo đó là hệ quả tất yếu của việc thay đổi cả hệ thống xã hội vốn ì ạch chậm chạp trong hàng mấy thế kỷ dài đẳng đẵng, chuyển sang một xã hội năng động, từ đó đưa cả một đất nước vốn dĩ có một nền nông nghiệp lạc hậu trở thành một cường quốc về kinh tế - quân sự, mà minh chứng tiêu biểu nhất là chiến thắng của hạm đội hải quân Nhật Bản trong chiến tranh Nga - Nhật năm 1905 và sau đó năm 1910 cả vùng Nam Mãn Châu và Triều Tiên cũng chính thức bị đặt dưới quyền kiểm soát của Nhật, để rồi hơn 30 năm sau Nhật Bản đã làm cả thế giới phải kinh hoàng trước sức mạnh quân sự của mình trong Thế chiến thứ II.
Cũng phải nhìn nhận rằng để có được một nền giáo dục khoa học kỹ thuật phát triển nhanh như vậy, thì không thể chỉ cải cách riêng ngành giáo dục là đủ, mà cần phải đồng thời cải cách xã hội, chính trị một cách triệt để, nhằm tạo ra một cơ chế ổn định đồng bộ hỗ trợ lẫn nhau. Minh Trị Thiên Hoàng nhận thấy rằng: nền chính trị - xã hội Nhật Bản lúc đó rất lạc hậu, trở ngại lớn nhất là tầng lớp quý tộc phong kiến ăn bám xã hội. Nếu không cải cách triệt để hệ thống "ăn bám" này, thì giáo dục cũng như các ngành khác không thể phát triển được.
Vậy nên ông quyết định ra lệnh bãi bỏ chế độ thái ấp phong kiến và chế độ bổng lộc đi kèm, thay thế bằng hệ thống quản lý hành chính theo cấp tỉnh. Thực hiện chế độ bình đẳng trong xã hội, mọi sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội phong kiến trước kia bị huỷ bỏ. Không những thế ông còn tạo ra một cơ chế để nhân tài có thể hiến kế giúp hưng thịnh quốc gia, bất chấp những cải cách đó có thể ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của mình.
Như thế, ngoài cái uyên bác, minh triết của một nhà cải cách chiến lược, Minh Trị Thiên Hoàng còn là một người yêu nước, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh quyền lợi của phe nhóm cá nhân, chấp nhận cải cách để làm cho quốc gia hưng thịnh. Như thế, Minh Trị Thiên Hoàng đã đặt quyền lợi của tổ quốc, của quốc gia cao hơn cả những tư lợi ích kỷ thông thường của một con người bình thường.
Việt Nam: Từ trì trệ giáo dục...
Quay trở lại với tình hình Việt Nam thời kỳ đó, dĩ nhiên cũng giống như Nhật, Việt Nam vào thế kỷ 19 là một nước nghèo nàn lạc hậu với nền kinh tế nông nghiệp thô sơ, tình trạng kinh tế - xã hội cũng hết sức bi đát, trong khi đó cái họa xâm lăng của người Pháp thì lại rõ mồn một hơn bao giờ hết.
Trước tình cảnh đó, một bậc trí thức cũng có cái nhìn đi trước thời đại là Nguyễn Trường Tộ đã gửi 14 bản điều trần lên triều đình nhà Huế, đề nghị cải cách tất cả các mặt giáo dục, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội..v.v... để biến Việt Nam trở thành cường quốc trong tương lai, và trước nhất là có sức mạnh, để tự lực tự cường, tránh khỏi cái họa xâm lăng của thực dân Pháp.
Tiếc thay! "Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên". Triều đình Huế lúc đó tham quyền cố vị, ích kỷ chỉ biết nghĩ cho lợi ích cá nhân, tập đoàn phe nhóm của mình mà chẳng hề đoái hoài gì tới vận mệnh của sơn hà xã tắc trong cơn nguy khốn, nên đã bỏ qua những lời vàng ngọc, quý giá, tâm huyết của Nguyễn Trường Tộ. Xa hơn nữa, xét về một khía cạnh nào đó, triều đình Huế đã có tội với dân tộc với tổ tiên, khi đã bỏ lỡ một cơ hội ngàn vàng để đưa dân tộc Việt Nam trở thành cường quốc. Để rồi sau đó nước Việt Nam rơi vào vòng đô hộ của thực dân Pháp gần 100 năm...

Việt Nam đang cần cải cách sâu rộng nền giáo dục? (ảnh Dân trí)
Kể lại lịch sử như thế là để chúng ta cùng nhau "ôn cố tri tân", rút kinh nghiệm từ những bài học lịch sử để định hướng cho tương lai âu cũng là lẽ thường tình ở trên đời. Ắt hẳn ai là người Việt Nam, dù có thể bất đồng quan điểm về vấn đề này, vấn đề kia, chắc chắn đều có chung một tâm nguyện, mong sao cho Việt Nam phát triển.
Thế nhưng với quan điểm cá nhân của tôi - một sinh viên hiện đang sống và học tập ở Việt Nam, thì thực trạng giáo dục hiện tại của Việt Nam ta đã đến mức báo động. Có lẽ việc nêu chi tiết những hạn chế tiêu cực ở bài viết này là thừa, bởi điều đó đã có hàng ngàn, hàng vạn bài báo nói lên rồi. Rất rõ ràng. Rất chi tiết. Đành rằng, sai thì sửa, thế nhưng có một hiện trạng đã tiếp diễn hơn 20 năm nay trong nền giáo dục Việt Nam đó là sai mà... không thấy sửa, hoặc sửa không triệt để, nửa vời.
Cả xã hội đã quá mệt mỏi với những lời hứa, tuyên bố của hết đời vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo này đến vị Bộ trưởng khác, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là "bắt cóc bỏ đĩa". Chương trình giáo dục thì vừa nặng, lại không phù hợp với thực tế. Sinh viên học thì "bò cả ra" mà cũng không hết bài, trong khi đó do cách học chay, thuần lý thuyết, không thực hành nên sau khi học xong là "chữ thầy trả lại thầy". Chương trình giáo dục chỉ tập trung đào tạo ra những con robot chỉ biết đọc và chép, hoàn toàn không có tư duy sáng tạo, không có tính độc lập trong tư tưởng và suy nghĩ.
Bởi vậy, trong suốt 4 (hoặc 5) năm học đại học, sinh viên chỉ được trang bị những kiến thức xa rời thực tế, trong khi đó nhưng kỹ năng quan trọng của một nền khoa học - công nghệ hiện đại như tư duy logic, phong cách "team-work" (làm việc nhóm), tự nghiên cứu, nhìn vấn đề trên nhiều khía cạnh v.v... hoàn toàn không được đào tạo đến nơi đến chốn. Thế nên đến lúc ra trường, nhà tuyển dụng kêu ca, và lại phải cất công đào tạo lại, học lại.
Đó không chỉ là một sự phí phạm về thời gian, mà còn là sự phí phạm về tiền bạc, của cải của xã hội. Ấy là còn chưa kể những "dòng máu" được tạo ra không có chất lượng tốt nên đã làm cho cả cả nền kinh tế hoạt động trì trệ, bởi năng suất, hiệu quả lao động thấp. Điều này lại kéo theo cả sự tụt hậu đi xuống của nền khoa học, làm cho Việt Nam vốn đã lạc hậu trì trệ, lại càng trì trệ lạc hậu hơn.
Nhưng sự trì trệ này đâu chỉ gói gọn trong lĩnh vực khoa học giáo dục, nó còn tác động đến tất cả các vấn đề khác mang tầm vĩ mô như kinh tế, quản lý hành chính cho đến tầm vi mô như là giao thông, xóa đói giảm nghèo..v.v... Mà hiển nhiên, cả xã hội được ví như một cơ thể hoàn thiện, trong đó đòi hỏi tất cả các bộ phận làm việc phải đều và ổn định như nhau. Chỉ cần tay, hay chân, chúng ta bị thương, cũng ngay lập tức sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của tất cả các bộ phận khác trong cơ thể. Và đó chính là nguyên nhân hàng đầu làm cho biết bao nhiêu nỗ lực của chính phủ, các bộ ngành... trong hàng chục năm qua đều không đạt mục tiêu cao cả như mong muốn.

Đúng Nhật đã tạo được giọt máu có chất lượng cao từ kinh tế đến văn hóa được chứng minh sau thảm họa sóng thần TP Sendai –văn hóa số 1 thế giới-
Còn hiện nay VN đang tạo ra giọt máu chất lượng kém…sản sinh [từ wrong {leaders + regime}=Communist+ Market Economy-> killed+corruption-bribery] từ thế hệ cha BCT sang thế hệ con UVTW. Cần tạo ra giọt máu chất lượng cao cho đời sau!!!
Tư tưởng tự do - bước tiến ngắn đến tư duy độc lập
Phải có dân chủ, ít nhất là dân chủ trong học đường nơi mà học sinh có thể phản biện thầy cô bằng chính tư duy của chúng. "Trứng" làm sao phản biện "Vịt" - sẽ không làm được nếu chúng không có kiến thức riêng. Muốn có kiến thức riêng thì phải... năng đọc sách và tư duy cùng với tác giả của cuốn sách đó (chưa đến mức gọi là phê bình văn học, nhưng cũng tương tự như thế, đánh vào những điểm không hợp lý, khiên cưỡng và ngụy biện). Học sinh phản biện thầy cô thì thầy cô phải tự nâng cao kiến thức để biện luận chặt chẽ hơn. Như thế có khác gì sự cạnh tranh về tư tưởng. Chính là như vậy đó.
Tư tưởng mà không tự do thì dù có tự do về thân xác cũng chả có ý nghĩa gì. Tư tưởng tự do sẽ là một bước rất ngắn để tiến tới tư duy độc lập. Có tư duy độc lập thì không phụ thuộc vào tâm lý đám đông và không ai có thể "tuyên truyền" ta được nếu ta thấy điều đó vô lý, không ai có thể cấm ta ủng hộ cái ta cho là hợp lý. Diễn đạt được cái mà mình nghĩ trong đầu để mọi người hiểu mình là kỹ năng hàng đầu mà mọi học sinh phải đạt được sau khi tốt nghiệp phổ thông. Còn đúng hay sai, logic hay phi logic, thực tế hay viển vông... thì phải qua đào tạo đại học hoặc tương đương.
Đào tạo đại học phải mở rộng cửa cho mọi người dân, thi cử không phải để tuyển chọn mà là để kiểm tra kiến thức và đánh giá năng lực tiếp thu. Sự tuyển chọn nằm ngay trong quá trình học xuyên suốt cho đến khi tốt nghiệp. Người học tự bỏ cuộc vì không tiếp thu nổi kiến thức vẫn hơn là đánh rớt người ta một cách cảm tính. Không cần đặt nặng vấn đề đúng sai mà chỉ cần đặt nặng vấn đề làm được hay không làm được và mức độ hiệu quả của cái làm được ấy. Nếu làm được điều ĐƠN GIẢN ấy, chỉ trong thời gian 1 thế hệ, chúng ta sẽ có 1 lớp người có tư duy hiện đại có thể đương đầu mọi thử thách và giải quyết mọi khó khăn mà chính chúng ta hiện nay không nghĩ ra được. Không bắt đầu ngay từ bây giờ với những đứa trẻ còn mút ngón tay thì bao giờ mới có những người như thế?
(Phan Bảo Lâm (phan_lam...@yahoo.com)
Việt Nam rất cần một người đột phá
Nói nước Nhật khai trí và nâng cao dân khí để có được như ngày hôm nay chỉ là một yếu tố không hoàn toàn là quyết định. Tôi cho rằng bản thân nước Nhật đã có ý chí quật cường từ trong truyền thống lịch sử của họ, họ không những đấu tranh để sinh tồn trên một dải đất đầy thảm họa đã tôi luyện cho họ ý chí thép, nghĩa là họ đã có trong tự thân một nghị lực kiên cường để tồn tại trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt.
Những tư tưởng mang tính cách tân, phát động trong thời kỳ nào cũng có, đặc biệt họ thoát khỏi một cách ngoạn mục hệ tư tưởng (được coi như một tôn giáo) Á đông là đạo Khổng. Những chân lý tưởng như giản đơn nhưng thực chất là thiếu sự biện chứng lôgíc. Nó mang nặng tính cảm quan, và tư duy ngắn hạn tùy thuộc cảm xúc. Cái này hoàn toàn phù hợp với một đất nước có dân số đông và đa dân tộc như Trung Quốc, nhưng hoàn toàn không phù hợp mới một đất nước có những điều kiện tồn tại khắc nghiệt như Nhật.
Việt Nam nếu không thoát khỏi được những tư tưởng, những định kiến đã tồn tại hàng nghìn năm, và thoát ra được khỏi những tư duy cảm tính, minh triết khôn vặt, sống dựa dẫm ít năng động để cải tạo tự nhiên, tư duy thiếu sự hệ thống logic mang tính cải tạo tự nhiên thì thật khó mà có được những bước đi vượt trội. Và sẽ còn lâu mới có thể tiến lên kịp được những nước có khả năng cải biến nhanh khi họ có gốc ít phụ thuộc vào các tư duy đạo Khổng.
Mặc dù một Trung Quốc tiến nhanh và vượt được chính mình, cũng chỉ nhờ vào những cách tân của những con người tiên phong về đường lối, như Ông Đặng, và Việt Nam chúng ta cũng chỉ có thể có được như ngày nay nhờ những bậc vĩ nhân tìm lối thoát từ những tư tưởng tự do từ phương Tây.
Vậy lối thoát của chúng ta từ đâu? Không phải tìm đâu xa. Cũng chẳng phải vì chế độ quân chủ hay dân chủ, mà chính trong mỗi con người Việt Nam đang mang nặng đầu óc thủ cựu. Chúng ta không chỉ học tập Bác mà phải hiểu được cách làm của Bác. Nhân cách và cá tính không thể học được nhưng cách làm thì phải học.
Cho tới nay Việt Nam chúng ta vẫn rất cần một người đột phá.

2015 NGÀY NHÀ GIÁO

 

2015  NGÀY NHÀ GIÁO (TEACHERS’ DAY)

Trong chuyến về thăm Việt Nam lần đầu tiên năm 1992 sau 18 năm xa quê hương, tôi đã khám phá bao chuyện đổi thay được thấy tận mắt trên quê hương mình. Có một điều làm tôi ngỡ ngàng và cảm thấy khó chịu là cảnh nhiều học sinh, sinh viên mang quà gồm vải vóc, quần áo may sẵn, bì thơ tiền, hay nhiều quà biếu quý giá đến biếu thầy cô trong Ngày Nhà Giáo 20/11.
Trong cuộc đời dạy học của tôi, gồm 10 năm ở Việt Nam và 30 năm ở Anh, tôi chưa hề được nghe về Ngày Nhà Giáo. Điều đó thật dễ hiểu, vì nước Anh hay Pháp cũng như Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 không có ngày lễ truyền thống này.
“Tôn sư trọng đạo”, “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “Không thầy đố mầy làm nên” vốn đã ăn sâu vào tâm thức người Việt từ muôn đời. Cha mẹ sinh ra thân thể và nuôi ta khôn lớn, nhưng chính “Thầy” mới rèn luyện trí óc ta thành người để bước cao lên bậc thang xã hội. Giáo dục là bước đầu căn bản để phát triển đất đước, thầy cô giáo chính là người thi hành việc giáo dục. Trong bất cứ xã hội nào, thầy giáo vẫn được đề cao. Trong xã hội Việt Nam, việc học hành rất được khuyến khích, cha mẹ lúc nào cũng hy sinh cá nhân mình để nuôi con ăn học cao hơn, “Con hơn cha là nhà có phúc”, vì vậy thầy cô giáo rất được xã hội tôn kính.
Ngày xưa ở Việt Nam không có Ngày Nhà Giáo được ấn định vào một ngày nhất định, mà là bàng bạc ở mọi ngày, ở mọi lứa tuổi. Học trò tới già vẫn kính trọng, nhớ ơn thầy. Ngày xưa, Việt Nam cũng không có ngày Father’s Day (Ngày lễ Cha), hay Mother’s Day (ngày Lễ Mẹ), là vì làm con phải có hiếu và đền ơn cha mẹ suốt cả cuộc đời, chứ không phải thể hiện chỉ một ngày cho mỗi năm.

Vì sự quan trọng của giáo dục và vai trò của thầy giáo, cơ quan UNESCO của Liên Hiệp Quốc ấn định ngày 5 tháng 10 là Ngày Nhà Giáo Thế Giới (World Teachers’ Day). Tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể chọn một ngày khác, để vinh danh thầy giáo chung chung, hay vinh danh một hay vài vị thầy đã đóng góp quan trọng vào văn hóa hay một ngành nào đó của đất nước.
Chẳng hạn, từ 1915 Argentina lấy ngày 11/9 làm Ngày Nhà Giáo. Ngày này vốn là ngày giỗ ông Domingo Faustino Sarmiento (15/2/1811-11/9/1888). Ông là một nhà hoạt động chính trị, đại trí thức, nhà văn, chính khách và là Tổng Thống thứ 7 của Argentina.
Ấn Độ chọn ngày 5/9 là ngày sinh của Dr Sarvepalli Radhakrishnan (5/9/1888–17/4/1975) làm Ngày Nhà Giáo. Ông là một nhà hiền triết và chính khách lỗi lạc, làm Phó Tổng Thống (1952-1962) và Tổng Thống Ấn Độ (1962-1967).
Đài Loan chọn ngày 27/8 là ngày sinh của đức Khổng Tử, nhưng từ 1952 đổi lại 27/9 chính xác hơn theo lịch Gregorian.
Khối Hồi Giáo Phi Châu và Trung Đông gồm 12 nước chọn chung một ngày là 28/2 (Morocco, Algeria, Tunisia,Libya, Egypt, Jordan, Saudi Arabia, Yemen, Bahrain, Qatar, U.A.E, Oman).
Ở Tây Âu, chỉ có 3 nước là Germany (5/10), Netherlands (5/10) và Spain (29/2) là có Ngày Nhà Giáo, chỉ trên giấy tờ chứ không có tổ chức lễ lạc gì cả.
Ở Hoa Kỳ, “Ngày Nhà Giáo Quốc Gia” (National Teacher Day) xảy ra vào ngày Thứ Ba (Tuesday) trong “Tuần Lễ Ghi Ơn Thầy Giáo” (Teacher Appreciation Week) là tuần lễ đầu tiên của tháng 5 (May). Hiệp Hội Quốc Gia Giáo Dục (National Education Association) mô tả ngày này “là ngày vinh danh thầy cô giáo đã góp phần cho cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn”. Vào khoảng 1944, thầy Ryan Krug của tiểu bang Wisconsin vận động các nhà chính trị và giáo dục Hoa Kỳ cần có một ngày vinh danh nhà giáo. Thầy Woodbridge viết thư cho bà Eleanor Roosevelt năm 1953 để thuyết phục Quốc Hội tuyên bố ngày National Teacher Day. Tới năm 1980, Quốc Hội chuẩn y chọn ngày 7 tháng 3 làm ngày National Teacher Day cho năm đó. Hiệp Hội Giáo Dục Quốc Gia sau đó chọn ngày Thứ Ba (Tuesday) đầu tiên của tháng 3 (March) cho tới năm 1985; và sau đó chọn ngày Thứ Ba trong “Tuần Lể Ghi Ơn Thầy Giáo đầu tháng 5 (May). Riêng tại tiểu bang Massachusetts thì chọn ngày 11/9 làm Teachers’ Day kể từ 1976. Ngày nay Massachusetts chọn ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng 6 (June) làm Ngày Nhà Giáo.
Á Châu vốn đề cao việc học, Ngày Nhà Giáo coi như có ở mỗi quốc gia.
Trung Quốc chọn ngày 10/9. Vào ngày này, học sinh biếu thầy cô tấm thiếp và hoa. Hong Kong trước 1997, chọn ngày 28/9 là Ngày Nhà Giáo của thời Tưởng Giới Thạch, nhưng sau khi xáp nhập vào Trung Quốc thì chọn ngày 10/9. Ở Đài Loan (Taiwan) Ngày Nhà Giáo không những chỉ vinh danh Thầy Cô Giáo về những đức tính mô phạm, tranh đấu, đóng góp vào chuyện học của học sinh mà còn đóng góp vào cộng đồng, xã hội. Vào ngày này phụ huynh tỏ ơn với Thầy Cô bằng cách đến thăm thầy cô hay gởi thiệp cám ơn. Ngoài ra, tại miếu thờ Khổng Tử ở mỗi địa phương đều tổ chức lễ hội. Lễ hội bắt đầu từ 6 giờ sáng với tiếng trống, 54 nhạc công trong bộ lễ phục thắt lưng xanh, 36 (hay 64) vũ công trong y phục vàng thắt lưng xanh. Bò, dê và heo được tế lễ. Cũng trong dịp này, quan chức địa phương vinh danh vài Thầy Cô đã đóng góp tốt đẹp cho giáo dục ở địa phương.
Ở Singapore, ngày Thứ Sáu (Friday) đầu tiên của tháng 9 là Ngày Nhà Giáo. Vào ngày này, học sinh được nghỉ học. Lễ vinh danh Thầy Cô được tỗ chức ngày hôm trước, và sau đó được nghỉ học buổi còn lại.
Philippine (Phi Luật Tân) chọn ngày Teachers’ Day của UNESCO là 5/10. Trong ngày này, Tổng Thống vinh danh khoảng 500.000 thầy cô trên toàn quốc. Tuy nhiên, ở địa phương mỗi trường ở bậc tiểu học và trung học chọn một ngày thuận tiện trong tháng 9 hay tháng 10 để tổ chức. Vào ngày lễ này, các thầy cô được học sinh quàng một vòng hoa lan vào cổ. Học sinh tổ chức ca nhạc, vũ điệu, ngâm thơ ca ngợi thầy cô trước hội trường. Các học sinh trường Hoa Kiều thường tổ chức vào ngày 27/9 để vinh danh thầy cô và ngày 28/9 là ngày lễ, được nghĩ học. Ngày 27/9 chính là ngày sinh của đức Khổng Tử.

Tại Indonesia, ngày 25/11 là Ngày Nhà Giáo để kỹ niệm ngày thành lập Hiệp Hội Giáo Chức Indonesia (Indonesian Teachers’ Association). Vào ngày này học sinh đi học và Hiệp Hội tổ chức lễ vinh danh vài thầy giáo, hiệu trưởng và nhân viên xuất sắc.
Tại Malaysia, ngày 16/5 là Ngày Nhà Giáo để kỹ niệm ngày 16/5/1956 là ngày chính phủ liên bang ban hành Bảng Tường Trình Giáo Dục Razak làm nền tảng giáo dục cho Mã Lai. Học sinh vẫn đi học.
Thái Lan chọn ngày 16/1 làm Ngày Nhà Giáo. Trong ngày này, học sinh được nghĩ học. Không có lễ lạc gì cả. Đây chỉ là một dịp thầy trò được ngơi nghỉ giữa học kỳ quá dài.
Nam Hàn chọn ngày 15/5 kể từ 1963. Nguồn gốc bắt đầu từ việc nhóm Thanh Thiếu Niên Hồng Thập Tự (Red Cross Youth) tổ chức viếng thăm các thầy cô bị bệnh nằm trong nhà thương. Ngày Nhà Giáo gián đoạn trong thời gian từ 1973 đến 1985. Vào ngày này, học sinh biếu thầy cô hoa cẩm chướng. Ngày nay, Nam Hàn đã hủy bỏ Ngày Nhà Giáo vì cho đây là một dịp học trò và phụ huynh “hối lộ” thầy cô bằng quà cáp đắt tiền. Ngày nay, thay thế vào đó là một ngày du hành dành cho thầy cô do nhà trường tổ chức.

Tại Miền Nam Việt Nam trước 1975 không có Ngày Nhà Giáo.
Tại Miền Bắc Việt Nam, kể từ 1958, ngày 20/11 là Ngày Nhà Giáo Việt Nam. Lịch sử ngày này bắt nguồn từ năm 1949; tại một hội nghị ở Warszawa, Liên Hiệp Quốc Tế Các Công Đoàn Giáo Dục trong khối Cộng Sản đã ra bản “Hiến Chương Các Nhà Giáo” gồm 15 chương với nội dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư sản, phong kiến, xây dựng nền giáo dục trong đó bảo vệ những quyền lợi của nghề dạy học và nhà giáo, đề cao trách nhiệm và vị trí của nghề dạy học và nhà giáo. Trong một hội nghị giáo dục của khối này tổ chức từ 26 đến 30/8 năm 1957 tại Warszawa, lấy ngày 20/11/1958 là ngày “Quốc Tế Hiến Chương Các Nhà Giáo”. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lấy ngày này làm Ngày Nhà Giáo Việt Nam. Sau khi thống nhất, Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam áp dụng Ngày Nhà Giáo vào Miền Nam, không những cho học sinh tiểu học, trung học mà còn cho cả đại học.
Tuy nhiên, sau khi chủ nghĩa Cộng Sản sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, các nước cựu cộng sản này đã từ bỏ ngày 20/11 làm Ngày Nhà Giáo mà chọn một ngày khác. Chẳng hạn Bulgaria, Estonia, Romania, Russia chọn ngày 5/10 của UNESCO; Albany ngày 7/3; Tiệp Khắc và Slovakia ngày 28/3; Hungary: Chủ Nhật đầu tiên của tháng 6;Ba Lan: 14/10; Ukraine: Chủ Nhật đầu tiên của tháng 10.
Tại Việt Nam, học sinh, sinh viên chuẩn bị cả tuần trước bằng bích chương, tràng hoa, ca nhạc và thực phẩm cho tiệc tùng tại trường. Ngoài ra, học sinh, sinh viên mang “quà” và tràng hoa đến từng nhà thầy cô để biếu.
Vì vậy, Ngày Nhà Giáo thật xa lạ đối với tôi. Tôi chỉ nhớ là khi học ở trường làng thời tiểu học, mỗi đầu niên học có lệ “cúng trường”. Vào ngày này, Má tôi luộc một con gà và nấu một dĩa xôi để tôi mang đến cúng trường. Các học sinh khác, đứa mang chuối, đứa mang bánh, v.v… tùy khả năng mỗi gia đình trong làng nghèo. Tôi không hiểu mục đích của “cúng trường” là gì, có lẽ trong 3 tháng nghĩ hè ma quỷ vào cư ngụ trong trường vắng bóng học sinh, nay cúng đễ học sinh được an lành trong việc học hành(!), cũng có thể là một dịp phụ huynh đải các thầy cô và người giúp việc như ông Cai trường. Ngày giỗ, phụ huynh cũng thường mời thầy giáo đến dự. Ngày Tết, học trò đến chúc tết nhà thầy. Cũng có quà biếu, nhưng đó chỉ có tính cách cá nhân, chứ không có thành lệ bắt buộc.

Trong thập niên đầu sau 1975, thầy giáo cũng như mọi người dân ở Miền Nam đều gặp khó khăn về kinh tế, và đều “đói” về mọi phương diện. Thầy cô khi nhận được một món quà nhỏ từ học sinh như vài mét vải, chiếc áo may sẵn đều cảm động, mặc dầu khá ngỡ ngàng vì đây là cách đối xử tình nghĩa thầy trò hoàn toàn mới lạ.
Tôi có nhiều dịp đi công tác hàng chục lần ở Việt Nam kéo dài trong gần 10 năm, có dịp gặp lại học sinh, sinh viên cũ; bạn bè, đồng nghiệp cũ cấp trung học và đại học. Trong các dịp này, cũng có chuyến trùng vào Ngày Nhà Giáo. Ngoài ra, tôi cũng có nhiều Du Học Sinh từ Việt Nam đến học trong phòng thí nghiệm của tôi. Nhờ qua quan sát tại chỗ, cũng như qua các thố lộ tâm tình, tôi biết khá nhiều về hiện trạng giáo dục và sự xuống cấp đạo đức ở quê nhà. Tôi hỏi một số đồng nghiệp cũ về cảm tưởng thế nào khi lần đầu tiên nhận quà của học sinh trong Ngày Nhà Giáo. Ai cũng trã lời là cảm thấy “hơi nhục và tủi thân” khi nhận quà vật chất, nhưng vì đói quá nên nhận, rồi các năm sau quen dần và coi như chuyện bình thường.
Nhưng rồi với thời gian, những món “quà” đó tăng dần về giá trị và không còn mang ý nghĩa thuần túy “nhớ ơn thầy cô”. Người “cho” mặc dầu không nói ra, nhưng người “nhận” phải hiểu ngầm rằng phải “trả” lại tương xứng. Đó là phải “nâng đỡ” điểm cao khi thi cử, phải làm sao cho con họ đậu, v.v… tùy trường hợp. Thầy càng có chức phận cao, có quyền chấm đậu hay đánh rớt, thì không những vào Ngày Nhà Giáo, mà còn là ngày Tết, ngày sinh nhật v.v… học sinh hay sinh viên tự nguyện mang “quà”, “bì thư” biếu thầy. Báo chí cũng từng đăng việc giáo sư gạ gẫm làm tình với nữ sinh để được chấm đậu.
Ngày nay, phụ huynh học sinh từ em bé ở cấp nhà trẻ, cho đến sinh viên đại học, sau đại học đều nơm nớp lo sợ Ngày Nhà Giáo sắp đến, nhất là các gia đình nghèo đông con đi học.
Nhân dịp này, tôi xin kể một chuyện vui có tính châm chọc, hài hước được nhiều người kể lại. Vào Ngày Nhà Giáo, vợ một thầy giáo dặn người giúp việc: “Hôm nay, hể nghe tiếng bấm chuông hay gõ cửa, thì chị mở cửa. Còn nghe tiếng chân đá vào cửa thì chị báo cho tôi biết ngay để tôi mở cửa”. Chị giúp việc hỏi lại: “Tại sao vậy, thưa bà?” Bà chủ trả lời: “Người bấm chuông hay gõ cửa chỉ mang quà nhỏ trên một tay, chị ra tiếp và nhận quà được rồi. Còn người dùng chân đá vào cửa, chứng tỏ hai tay phải ôm quà lớn và nặng, chị phải để tôi ra tiếp đón”.
Khi viết bài này, tôi không có ý vơ đũa cả nắm. Trong một xã hội vàng thau lẫn lộn, cũng vẫn còn nhiều thầy cô giáo đáng kính trọng, từ tư cách đến chất lượng giảng dạy; và cũng còn vô số môn sinh tôn sư trọng đạo thật sự. Tôi vốn biết có nhiều nhóm cựu học sinh, sinh viên trong nước hay hải ngoại, khi nghe thầy cô nay về hưu gặp khó khăn tài chánh hay bịnh hoạn đều quyên góp, cử đại diện đến thăm viếng và giúp đỡ.
Reading, Ngày Nhà Giáo 2011.
TRẦN ĐĂNG HỒNG

2017 Đại học Việt Nam: Mạn đàm

 2017 Mạn đàm về Đại học Việt Nam

Báo Xuân lúc nào cũng phong phú và thú vị.  Do đó, nhân dịp đầu năm, tôi muốn giới thiệu vài bài viết hay và quan trọng đã đăng trong các số báo Xuân Tân Mão.  Trong entry này, tôi trân trọng giới thiệu bài sau đây của Gs Phạm Xuân Yêm (Pháp) viết về những cái “không giống ai” của đại học Việt Nam.  Bài đã đăng trên số Xuân của báo Diễn Đàn (Pháp) và sẽ xuất hiện trong kỉ yếu Homboldt nay mai.  NVT
Mạn đàm về Đại học Việt Nam
 Phạm Xuân Yêm Nguyên giám đốc nghiên cứu CNRS và Đại học Paris 6
 Bài này viết ra như một tiếp nối nhỏ so với những gì mà GS Hoàng Tụy đã từ lâu phát biểu, đặc biệt câu sau đây1 trích trong Kỷ Yếu Sĩ phu Thời nay: Thật ra, giáo dục và khoa học của ta không chỉ tụt hậu mà đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, hết sức 'không giống ai' và đó là nguồn gốc của mọi vấp váp, khó khăn khi hội nhập nếu không kịp chấn chỉnh."
1- Triết học không phải là một giáo điều
Đại cương, sinh viên ngành triết học được hướng dẫn về phương pháp suy luận và cách thức đặt vấn đề nhằm tìm hiểu sự thật trong cuộc sống nội tâm, cũng như khám phá ra những quy luật vận hành của xã hội, của vũ trụ nhân sinh. Triết học cũng trình bày cho sinh viên hiểu biết được lịch sử phát triển về tư tưởng và nhận thức của con người, nhờ vào những tìm kiếm nhẫn nại không ngừng của các triết gia tại Đông cũng như Tây phương, liên tục từ biết bao năm trường. Nói chung, môn triết học cung cấp cho chúng ta một chân trời luôn mãi mở rộng, một viễn tượng toàn cầu, một tầm nhìn thật là bao quát và thông thoáng. Đó là kim chỉ nam, tấm bản đồ giúp cho con người hướng thượng để đi tới mãi trong cuộc hành trình lâu dài của mỗi cá nhân, cũng như của toàn thể cộng đồng nhân lọai, mà không sợ bị lạc lối trong cái mê hồn trận của cuộc sống mỗi ngày một thêm phức tạp xáo động trong xã hội ngày nay.
Cũng như môn khoa học tự nhiên, triết học là cả một kho tàng kiến thức vô cùng phong phú và quý báu mà nhân lọai đã tích lũy được, trải qua bao nhiêu thế hệ tìm kiếm, phân tích và đãi lọc thành những sản phẩm tinh hoa của trí tuệ con người, không phân biệt sắc tộc, màu da hay khuynh hướng chính trị, học thuật và tôn giáo nào. Và như vậy, việc giảng dậy môn triết học không bao giờ chỉ tập trung, đóng khung chật hẹp vào một triết thuyết độc tôn duy nhất nào, mà trái lại cần phải giới thiệu cho các sinh viên tìm hiểu được nhiều trường phái triết học, các lý thuyết cổ xưa cũng như hiện đại của các nhà tư tưởng kiệt xuất của nhân loại từ Đông sang Tây, Bắc xuống Nam.
Xin trích dẫn mấy dòng ngắn ngọn sau đây2 về sự tương đồng cũng như khác biệt giữa khoa học và triết học:
Triết học nghiêm túc giống khoa học đích thực ở hai điểm:
1- đều dựa vào một số nguyên lý. Những nguyên lý này, ta chỉ có thể tán thành hay không, không chứng minh tuyệt đối, vĩnh viễn được. Do đó phát triển khoa học hay triết học đều đòi hỏi ý thức tự do và sáng tạo.
2- trên cơ sở đó, đòi hỏi một kiểu suy luận khắt khe, chặt chẽ, nhất quán xuyên qua những bộ ngôn từ tương xứng. Thiếu ngôn ngữ khoa học, không thể tiếp thu và phát triển tư duy khoa học. Thiếu ngôn ngữ triết học “cho ra hồn”, không thể tiếp thu và phát triển tư duy triết.
Triết học và khoa học khác nhau ở hai điểm :
1 - Giá trị của lý thuyết khoa học được xác định bằng thử nghiệm : ứng dụng nó thì hành động đạt được kết quả đã dự đoán. Lý thuyết khoa học đúng hay sai là phải do thực nghiệm kiểm chứng được hay không.
2 -Giá trị của triết thuyết được xác định qua nghiệm sinh của con người ở đời. Có thể bỏ mạng mà vẫn đáng sống.
Cả hai đều cần thiết để làm người. Nếu chua thêm được tí ti văn nghệ trong cuộc sống thực thì tuyệt.
Vậy mà từ lâu rồi theo Trần Đức Thảo “ở Việt Nam không có triết học mà chỉ có chính trị”, đặt nội dung giáo dục ý thức hệ Marx-Lenin làm trọng tâm. Trẻ vào mẫu giáo đã nghe những bài hát chính trị. Người soạn sách giáo khoa nhiều khi cũng cố lồng chính trị vào, coi đó là một thành tích3. Việc giảng dạy môn triết học Marx-Lenin tại các trường ở Việt nam từ mấy chục năm nay là một hạn chế khiên cưỡng, sinh viên phải học tập duy nhất có một học thuyết mà không được tiếp cận trên cùng một bình diện cả một vườn hoa tư tưởng muôn màu muôn sắc của nhân lọai. Rõ ràng là triết học do Karl Marx khởi xướng từ trên 150 năm nay và sau đó bổ sung bởi Lenin đã và tiếp tục là một đóng góp đáng kể cho nhân lọai, tuy nhiên nó không phải là một đường lối tư tưởng duy nhất, tuyệt đối và vĩnh viễn. Như vậy, thì lại càng không thể đem học thuyết này mà áp đặt trên quần chúng học sinh, sinh viên, buộc thế hệ thanh niên phải chấp nhận nó như một giáo điều chính thức của quốc gia. Sự áp đặt như vậy nào có khác chi việc thiết lập một thứ quốc giáo độc quyền, độc tôn trên toàn thể dân tộc?
Qua sự trình bày trên, thiết nghĩ ta cần phải dứt khoát thay đổi lề lối và nội dung của việc giảng dạy môn triết học hiện nay. Cụ thể trong thời buổi hội nhập này là nên áp dụng các phương thức phổ quát trên thế giới, đó là hướng dẫn cho sinh viên nâng cao tầm nhận thức và trình độ hiểu biết rộng rãi, thấu đáo hơn mãi về lịch trình tiến triển của tư duy loài người từ xưa đến nay, thông qua những tìm kiếm vô cùng phong phú và kiên trì của biết bao lớp nhà tư tưởng ưu tú vĩ đại của nhân lọai. Chứ không phải chỉ đóng khung hạn hẹp trong bất kỳ một học thuyết duy nhất nào. Khác nào xưa kia thời quân chủ phong kiến hàng ngàn năm bên Đông Á, học thuyết cửa Khổng sân Trình đã thống trị tư duy thần dân. Cũng như Cơ đốc giáo với giả thuyết điạ tâm sai lầm bên Âu châu đã đưa Giordano Bruno lên dàn hỏa thiêu (1600) và Galileo Galilei (1633) phải quỳ gối tự chối bỏ tác phẩm đặt nền tảng cho Vật lý và Thiên văn hiện đại. Điển hình gần đây hơn là thời Stalin đã dùng quyền lực chính trị để áp đặt lý thuyết về di truyền của Lysenko, gây tai hại trầm trọng cho nền khoa học của Liên Xô vào giữa thế kỷ XX vậy. Cũng vậy giáo điều phát xít Đức đã đẩy lùi nền khoa học Âu châu trong bao năm.
Chúng ta hãy lắng nghe ý kiến sau đây4:
“Tôi đề nghị chúng ta vẫn giữ học thuyết Marx-Lenin, nhưng chúng ta không chỉ biết và vận dụng duy nhất học thuyết Marx-Lenin, mà cần phải biết và vận dụng những học thuyết tinh hoa của nhân loại như chúng ta bắt đầu làm từ khi đổi mới. Từ đó Đảng ta mới phát huy được dân chủ, tự do trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội ta. Vì chỉ có dân chủ tự do mới có thể có điều kiện thật sự cho sự phát triển vững mạnh, mới có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi khó khăn thử thách, bảo vệ được thành quả của Cách mạng và không ngừng đưa Cách mạng Việt Nam tiến lên phía trước cùng với bạn bè năm châu bốn biển ”.
Các nước tư bản họ cũng làm như vậy. Họ vẫn nghiên cứu và giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin ở các trường đại học. “ Giữ học thuyết Marx-Lenin ” không phải để tôn sùng và mù quáng vâng theo mà có chăng chỉ để gạn đục khơi trong, để ôn cũ biết mới .
Muốn có dân chủ cần phải có sự phát triển tinh thần đa dạng, nhiều chiều, nghĩa là triết học cũng phải đa dạng, nhiều chiều, chứ không thể giáo điều theo một hướng hẹp; đi theo một hướng hẹp là tạo mảnh đất đánh mất dân chủ. Điểm son của triết lý giáo dục tiến bộ trên thế giới là sự bao dung, tôn trọng và bàn cãi tự do những tư tưởng, văn hóa, chính kiến, tín ngưỡng khác nhau, chúng bổ túc cho nhau. Tư duy độc lập, phê phán, phản biện, tự vấn không ngừng là những yếu tố quyết định của một nền giáo dục tiến bộ và phổ quát. Không thể áp đặt một hệ tư tưởng bất luận nào đó - cho dù ưu việt đến mấy trong một thời - lên sự nghiệp giáo dục đào tạo con người. Nó chỉ kìm hãm tư duy sáng tạo. Triết lý giáo dục công lập ở Pháp dựa trên hai nền tảng : nhà trường thế tục và cộng hòa. Nhà nước tôn trọng và trung lập đối với mọi tín ngưỡng, chính kiến, tư tưởng, nhân sinh quan, triết học. Nhà trường là nơi hòa trộn mọi thành phần, không phân biệt nguồn gốc, chủng tộc, giai cấp xã hội của học sinh.
2- Nhân sự giảng dạy và nghiên cứu
Đại học, nơi tụ hội những tinh hoa của xã hội, mặc nhiên có vai trò làm gương mẫu cho mọi sinh hoạt. Nó phải là một môi trường lành mạnh, đạo đức để phục hồi và củng cố niềm tin của tuổi trẻ. Sự nghiệp của đại học là khai sáng tư duy, là đào tạo chất lượng cao về tri thức tổng quan và chuyên ngành. Những tiêu cực như giả dối, nạn dỏm trong nhân sự phải tuyệt đối vắng mặt, thày ra thày, trò ra trò. Đó là điều kiện tiên quyết của nền giáo dục nói chung mà đại học cần mở đường. Người sinh viên phải được hưởng quyền nổi loạn trong học thuật. Họ có quyền tụ tập để tranh luận học thuật dưới mọi hình thức và về bất cứ chủ đề nào5.
Đội ngũ nhân sự giảng dạy đại học cần phải có trình độ tiến sĩ theo tiêu chuẩn quốc tế, số lượng tiến sĩ đủ tiêu chuẩn này hiện nay quá nhỏ so với số sinh viên, hiện tượng thạc sĩ dạy cử nhân cần phải giảm đi đến mực tối thiểu. Chuyển giao tri thức chuyên môn cho sinh viên chỉ là một trong hai nhiệm vụ chính của giảng viên đại học, điều quan trọng không kém là nghiên cứu khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế để cập nhật thường xuyên tri thức chuyên môn, đào sâu tăng trưởng kiến thức và tìm tòi sáng tạo. Tiến sĩ chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để thành giảng viên đại học, chức vụ này đòi hỏi một thời gian ‘sau tiến sĩ ‘(postdoc) khá gian nan để đạt tới sự độc lập chín chắn trong quá trình giảng dạy và khám phá, mở rộng trao đổi với các môi trường khác nhau để sàng lọc, đua tranh lành mạnh nhưng gay gắt. Tiêu chuẩn quốc tế được hiểu theo nghĩa sau đây:
(a) công trình khảo cứu khoa học đăng trên các tạp chí đẳng cấp quốc tế (hầu hết bằng tiếng Anh mà ISI thu thập). Trong hàng chục ngàn tạp chí của ISI, có nhiều cái cũng chỉ vừa phải về chất lượng, vậy có lẽ nên linh động hơn, đừng thái quá về vai trò quyết định của ISI. Trong mỗi ngành chuyên môn, ai cũng rõ cấp bậc nọ kia (xếp loại theo impact factor cao là một thí dụ) của các tạp chí để tự mình chọn mặt gửi vàng đến các tạp chí với hệ thống bình duyệt và phản biện nghiêm túc. Mỗi ngành nghề chuyên hẹp chỉ có chừng vài chục tạp chí đủ chất lượng cao mà ta cần tập trung vào đó. (b) số lần trích dẫn (hay/và H index) các công trình khoa học bởi đồng nghiệp khắp thế giới, (c) sách giáo trình cao học phát hành bởi các nhà xuất bản uy tín (d) báo cáo trong hội nghị quốc tế và sự giao lưu thường xuyên với các cơ quan giảng dạy-nghiên cứu trên thế giới, (e) sự nghiệp đào tạo các nghiên cứu sinh và tiến sĩ, (f) đối với các ngành khoa học ứng dụng, văn bằng sáng chế và cộng tác với các công ty kỹ nghệ mang lợi nhuận cho cơ quan.
Ðó là ít nhiều hành trang thông thường của nhân viên giảng dạy-nghiên cứu của một đại học chuẩn mực quốc tế mà nền đại học Việt Nam cần đạt tới. Qua các tiêu chí  (a) - (f), ta thấy rõ sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và giảng dạy, sự thăng chức thăng ngạch trong mỗi hàm nên tùy thuộc chủ yếu vào các công trình nghiên cứu khoa học. Cũng như ở nhiều nước phát triển cao, tổng số giờ giảng dạy trong một năm của giáo sư đại học ở Pháp chỉ có khoảng 130 giờ để thấy rõ tầm quan trọng mà họ phải bỏ hết thời gian còn lại làm nghiên cứu. Vì thế họ mang tên gọi là nhân viên giảng dạy-nghiên cứu (enseignant-chercheur).
Chương trình dài hạn đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế (bằng cách tuyển chọn sinh viên tài năng gửi đi soạn cao học, tiến sĩ và hậu tiến sĩ ở các nước khoa học tiền tiến) một đội ngũ mới giảng viên đại học để tiếp nối dần thế hệ trước, phải là ưu tiên hàng đầu của nền đại học. Đội ngũ nhân viên giảng dạy cần được coi là trọng tâm của mọi sinh hoạt trong đại học, ban quản lý chỉ có nhiệm vụ duy nhất là hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi sao cho được tối ưu hai sự nghiệp chính của giảng viên là chuyển giao tri thức và nghiên cứu khám phá. Ngoài ra vai trò quan trọng của hai môn Triết học Mác-Lê và Lịch sử Đảng chiếm khoảng 15% học trình của các ngành khoa học tự nhiên là điều hoàn toàn khác lạ với tiêu chuẩn quốc tế. Nên coi môn trước nằm trong kiến thức chung của triết học nhân loại và môn sau trong lịch sử  thăng trầm quốc gia. Trong hồ sơ các sinh viên trong nước sang ghi tên du học về ngành khoa học tự nhiên, hai môn kể trên có hệ số tính điểm khá cao chẳng thua các hệ số về toán, lý, hoá, sinh, ngoại ngữ. Ở các nước phát triển, không đâu có hai môn bắt buộc này trong học trình của các ngành khoa học tự nhiên. Nhiều bạn bè trên thế giới đã mất công sức giải bầy với đồng nghiệp và bộ máy hành chính của đại học mình khi họ xét hồ sơ tuyển chọn sinh viên Việt Nam sang du học. Ðể so sánh công bằng với sinh viên các nước khác trong việc tuyển chọn vào đại học, hai môn ‘không khoa học tự nhiên’ này bị loại bỏ tự động, làm lãng phí thời gian tiền của.
Rồi chuyện học hàm học vị nhiêu khê của hệ thống giáo dục hiện nay; nhiều người có học vấn thật bị đứng vào chỗ văn hoá giả tạo, và ngược lại. Chức giáo sư, phó giáo sư đại học cần phải hiểu theo những tiêu chuẩn phổ quát quốc tế, đó chỉ là chức vụ để giảng dạy-nghiên cứu với trách nhiệm cụ thể trong các đại học, chứ không phải là phẩm hàm quí tộc hình thức để quản lý hay hoạt động ngoài môi trường đại học. Nguyên tắc để xác nhận hai khả năng giảng dạy-nghiên cứu nói trên cần giản dị, minh bạch, không gây khó khăn bởi những thủ tục hành chính xa lạ với chất lượng nghiêm túc.
Ngoài vấn đề đội ngũ giảng dạy ra, quy chế tự chủ và tự do trong môi trường học thuật, chính sách đãi ngộ và đồng lương tương xứng, hướng nghiên cứu và phương pháp đào tạo, mở rộng cộng tác với các cơ quan và chuyên gia nước ngoài là những điều vô cùng quan trọng cần thực hiện để đảm bảo cho sự thành công của đại học chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế. Sự liên kết mật thiết giữa Đại học và Viện Khoa học & Công nghệ (VAST) nên phát huy tận lực, cơ chế hành chính của hai cơ quan cần điều hòa ra sao để hai bên cùng có lợi trong sự nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Đó là điều mà các nước khoa học tiền tiến đã từ lâu thực hiện.
Tăng cường và xây dựng nhanh chóng cơ sở vật chất, phòng làm việc thường trực của nhân viên giảng dạy-nghiên cứu, thư viện phong phú với sách giáo trình và tạp chí khoa học quốc tế, máy tính và truy cập internet, cư xá cho sinh viên thuê giá rẻ, học bổng trợ cấp sinh viên chăm chỉ tài năng mà gia cảnh thiếu thốn.
Với hàng ngàn vạn tuổi trẻ trong và ngoài nước đang thành công tốt đẹp trong nhiều lãnh vực trên trường quốc tế, chúng ta tin tưởng rằng khi có môi trường thuận lợi, con người Việt còn có thể vươn cao hơn nữa. Thí dụ tượng trưng, trong các cựu sinh viên sang du học ở Pháp khoảng hơn mươi năm nay gần đây, một số đã trở thành giảng sư các Đại học hay nghiên cứu viên của Trung tâm Quốc gia Khảo cứu Khoa học (CNRS). Ðó là tiềm năng chất xám quý báu của dân tộc ta, chất xám ấy lại mang thêm một đặc điểm nữa mà hiếm các quốc gia khác có được, đó là sự phong phú đa dạng của các thành phần đến từ nhiều chân trời văn hóa khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, từ Ðông qua Tây Âu, từ Bắc đến Nam Mỹ, Đông Bắc đến Tây Nam Á, Úc, được thử thách chọn lọc theo tiêu chuẩn quốc tế. Lại thêm biết bao tài năng, đặc biệt với thế hệ thứ hai, nằm trong cộng đồng ba triệu người Việt ở nước ngoài sinh hoạt trên khắp năm châu.
Thực ra vấn đề xuất cảng rồi sớm muộn trở thành giao lưu chất xám đã xảy ra từ lâu rồi ở các nước lân cận Việt Nam. Do lòng gắn bó với cội nguồn, môi trường hoạt động thoải mái thoáng đãng và chính sách đãi ngộ thích ứng ở các nước đó, phần đông các nhân tài đã trở về cố hương đóng góp cho sự phát triển kỳ diệu của nước họ, trong đó các đại học và viện công nghệ mang tầm quốc tế giữ vai trò không nhỏ.
Người viết tâm tình với lòng tin là nền đại học Việt Nam không thể không đạt tới chuẩn quốc tế, vấn đề chỉ là thời gian khoảng mươi năm. Nó đến sớm hay muộn là ở trong tay chúng ta từ chính quyền đến người dân hữu trách, và lời chúc đầu năm là chúng ta sẽ thành công nhanh hơn và trội hơn ước tính.

Thứ Bảy, 2 tháng 1, 2021

2017 Chăm Sóc Cha Mẹ Già-Hiếu thảo

Lòng hiếu thảo

Ở Bến Tre có ông cụ 85 tuổi hàng ngày chăm sóc 
mẹ già 113 tuổi từng miếng ăn giấc ngủ.
Cụ Trần Thị Nguy ở xã An Thạnh, huyện Thạnh Phú,
 tỉnh Bến Tre năm nay đã tròn 113 tuổi (sinh năm 1901).
Người chăm sóc cho cụ Nguy từng miếng ăn, giấc ngủ
mấy chục năm nay là con út Nguyễn Văn Đức 85 tuổi
 và con dâu Phạm Thị Trừ cũng đã bước sang tuổi 75.



 Sau khi cho mẹ ăn trưa, vợ chồng ông Đức 
dìu cụ Nguy nghỉ ở chiếc võng trước nhà
 Lúc thấy khỏe trong người, cụ Nguy bảo con 
cõng đi một vòng quanh xóm thăm hỏi người quen.
Vui đùa với con cháu 



Chăm Sóc Cha Mẹ Già  Bác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC 

Nhân ngày "Từ Phụ", Lang tôi xin cùng quý thân hữu đi vào một vấn đề có tính cách gia đình. Vì nhìn gần xa, thấy các vị đàn anh và một số bạn đồng tuế đang từ từ vướng mắc. Và con cháu cũng rất ưu tư suy nghĩ.

Đang ngồi họp, Vân được cho hay có điện thoại khẩn cấp. Chị vội đứng lên, về phòng. Bà hàng xóm nơi mẹ Vân ở, cho hay bà cụ vừa được đưa vào nhà thương. Bà cụ té ngã. Vân vào cáo lỗi với ông chủ rồi xuống lấy xe lái vào bệnh viện.

Trên đường đi, nàng dùng điện thoại di động báo cho Huân, chồng nàng hay. Huân hiện đang đi công tác ở miền Trung, tuần sau mới về. Rồi suốt mười lăm phút lái xe, nàng suy nghĩ mung lung, với nhiều lo âu, bối rối. Việc mà nàng nghĩ trước sau gì cũng xẩy ra thì bây giờ nó đã đến, hơi sớm một chút.

Sau khi ba Vân mất cách đây dăm năm, mẹ Vân dọn về ở với vợ chồng nàng. Qua một thời kỳ thích nghi với hoàn cảnh mới, nếp sống mới của người góa phụ, bà cụ dọn ra ở riêng.

Cụ tới khu người già trong khuôn viên chùa Linh Sơn. Cụ nói lên đây ở đi lễ bái cho gần, lại có mấy cụ già luẩn quẩn với nhau cho vui. Nhất là có hai người bạn học từ thuở xưa ở Kiến An, mà họ thường hay liên lạc chuyện trò.

Khu người già được lập ra từ hơn mười năm, có 40 phòng, dành cho các cụ độc thân, còn đủ sức khỏe, đi lại được, còn tự chăm sóc ăn uống, giặt giũ. Các cụ sống hợp quần với nhau rất vui. Ngày ngày các cụ lên chùa lễ bái, tụng kinh rồi làm công quả. Lâu lâu nhà chùa tổ chức đi thăm viếng đây đó hoặc đi lễ hội chùa tỉnh khác. Đôi khi trời mưa, các cụ ở nhà rủ nhau làm vài hội chắn để tiêu khiển, giải trí..

Nhưng từ trong thâm tâm thì cụ không muốn phiền con cháu quá lâu. Từ trước tới nay cụ là người rất hoạt động, phải nói là đảm đang nữa. Cùng chồng, cụ đã nuôi nấng, gây dựng cho sáu mặt con từ khi còn ở trong nước tới khi sang đây. Cháu nội ngoai các cụ có hơn một tá.

Mọi việc xuôi sẻ cho đến ngày hôm nay.

Thực ra thì từ năm ngoái, cụ đã không được khỏe lắm. Huyết áp lên cao, các khớp xương thì mỗi khi trái gió, trở trời là đau nhức, khiến cụ mất ngủ. Có đêm, cụ chỉ ngủ được có vài ba giờ, nên ban ngày mệt và hay kêu chóng mặt.

Cách đây ba tuần cụ phải nằm bệnh viện mất mươi ngày vì sưng phổi. Sau khi xuất viện, vợ chồng Vân muốn mời cụ về ở chung một thời gian cho khỏe nhưng cụ một mực từ chối, nói không sao. Vân đã cho anh chị em biết về tình trạng của cụ và mọi người định là tháng tới sẽ về để cùng thảo luận coi nên làm gì.

Tơi nhà thương, Vân được cô y tá cho hay tự sự. Số là sáng nay, mấy ông bà hàng xóm sang rủ cụ lên chùa tụng niệm, như lệ thường. Gõ cửa không ai có tiếng trả lời, một lão ông bèn đẩy cửa bước vào. thấy mẹ Vân nằm phục dưới đất, cạnh bàn điện thoại, nét mặt nhăn nhó. Cụ sửa soạn lên chùa thì bị một cơn chóng mặt, xỉu đi và ngã xuống nền nhà. Cụ cố với tới điện thoai để kêu cứu, nhưng đau quá, không lết thêm được.

Bác sĩ đã khám, chụp hình thì thấy cụ bị gẫy xương hông. Cụ hiện đang nằm trong phòng cấp cứu. Bác sĩ chờ thân nhân tới để thảo luận vì cụ cần được giải phẫu ngay.

Vân vào phòng, thấy mẹ nằm thiu thiu mà nước mắt trào ra. Da mặt bà cụ xanh nhợt, vẫn còn phảng phất nét đau đớn. Vân nhẹ nhàng ngồi xuống ghế, để mẹ tiếp tục ngủ. Nhìn mẹ mà lòng vân bối rối. Cả trăm vấn đề hiện lên trong đầu Vân. Sau giải phẫu, mẹ sẽ ra sao? Liệu có đi lại được không? Huyết áp cao, bệnh phong thấp hoành hành, lại mất ngủ thì sức khỏe chắc là phải sa sút.

Mấy tháng trước, khi vợ chồng Vân đến thăm, thấy cụ cứ than là ăn không ngon miệng, nên đôi khi chẳng thèm nấu cơm, mà chỉ uống ly sữa cho khỏi đói bụng. Coi tủ lạnh, Vân thấy mấy món ăn thiu đã lên men. Vào buồng tắm thấy nước vặn bỏ quên không khóa. Vợ chồng Vân đã lo ngại...

Rồi Vân nghĩ tới hoàn cảnh của mình.

Trong sáu người con, Vân là người duy nhất ở gần mẹ. Mà bà cụ vẫn có cảm tình đặc biệt với Vân, nên trước sau cụ vẫn nói là mai mốt nếu cần "tao chỉ ở với vợ chồng con Vân thôi. Nó bướng bỉnh nhưng có lòng".

Vợ chồng Vân được hai trai một gái đã vào đại học nên cũng nhẹ gánh. Vân mới được lên chức và trong tương lai gần, sở sẽ cho nàng đi học thêm để lấy bằng chuyên môn. Vân đã sắp xếp như vậy cho mình. Chồng nàng thì cứ vài tháng phải đi công tác xa mươi ngày.

Bây giờ, cơ sự sẩy ra như thế này, mọi dự tính của Vân đều phải xét lại. Để chờ cụ giải phẫu xong rồi tuần sau anh chị em về sẽ tính. Nhưng Vân có linh tính rằng nàng sẽ là người đứng mũi chịu sào. Mẹ mình vẫn muốn vậy, nàng tự nhủ...

Bà cụ chợt tỉnh giấc, mở mắt. Nhìn thấy Vân, Cụ gượng cười. Và trong đôi mắt của mẹ, Vân đọc thấy những nét thất vọng, sợ hãi, chịu thua...

Trường hợp của chị Vân là một trong cả trăm ngàn trường hợp tương tự.

Tuổi thọ con người kéo dài lâu hơn. Số những người cao tuổi mỗi ngày mỗi gia tăng. Sức khỏe người già có khá hơn nhờ các cụ biết giữ gìn nếp sống cũng như được cung cấp dịch vụ y tế, thuốc men đầy đủ.

Nhưng một cơ thể lâu đời vẫn có những thay đổi tự nhiên theo chiều đi xuống cộng thêm những bệnh kinh niên, những tai nạn bất ngờ, với hồi phục chậm chạp. Biết bao nhiêu mất mát đã chồng chất lên niên kỷ, những xói mòn làm mong manh thân xác.

Dù vậy nhiều người già vẫn gắng gượng tự lo, chưa muốn phụ thuộc vào các con. Họ cũng có những kiêu hãnh riêng tư, những niềm tự trọng, đôi khi cũng chỉ e ngại "cảnh cha mẹ nuôi con như trời như bể, con nuôi cha mẹ con kể từng ngày ". Nhưng sức gắng gượng chỉ có hạn, rồi một ngày nào đó cũng yếu đi. Như căn nhà tranh trước gió bão, cần được chống đỡ.

Và cũng là lúc con cái phải suy nghĩ, xem ai sẽ là người lãnh trách nhiệm. Chắc phải là người có thiện chí, có điều kiện, khả năng và hoàn cảnh thuận tiện.

Phục vụ thân nhân cao tuổi là một vinh dự cho con cái đồng thời cũng là vấn đề quan trọng của nhiều xã hội hiện nay, khi mà người đàn bà phải xông pha kiếm cơm toàn thời gian. Nó ảnh hưởng dây chuyền tới nhiều lãnh vực khác. Sẽ có nhiều người vắng mặt ở sở hoặc đi làm trễ; sẽ có dùng nhiều điên thoại để lấy hẹn bác sĩ, gọi mua thuốc. Nhiều nhân viên tới sở than phiền mỏi mệt mất ngủ. Tai nạn tại chỗ dễ sẩy ra. Thay đổi việc làm nhiều hơn. Và số người bị trầm cảm, đau ốm sẽ gia tăng.

Trong thực tế thì có rất ít gia đình đã sửa soạn sẵn để giải quyết việc chăm sóc cha mẹ khi về già. Nhiều việc xẩy đến bất thường, đòi hỏi có quyết định ngay.

Ông bố đang có sức khỏe tốt, đột nhiên bị tai biến não, liệt nửa thân, nằm bất động cần giúp đỡ với nhu cầu căn bản, thiết yếu hàng ngày: ăn uống, tắm rửa, đại tiểu tiện, cho uống thuốc... Con dâu đang vừa đi làm vừa trông nom bà mẹ chồng, giờ đây con dâu cũng thường đau ốm. Ai là người sẽ lãnh trách nhiệm săn sóc ông bố ? Ai sẽ tiếp tay với mình trông nom mẹ chồng?

Theo kinh nghiệm thì dù có nhiều anh chị em, nhưng trách nhiệm chăm sóc không đồng đều chia sẻ khi bố mẹ cần. Có thể là người con gái lớn với cả một bầy con hoặc cô út chưa đi ở riêng, hoặc nàng dâu nhà ở gần bố mẹ. Đôi khi là cậu con trai cưng, Nhưng thường ra thì chỉ có một người đóng vai chính, thường xuyên.

Nói như vậy không có nghĩa lã không có chia sẻ về tài chánh, về công việc chăm sóc mà qua người này mọi việc được giáo phó, phối hợp và thông báo cho người khác khi cần. Một tiểu gia đình cộng thêm hai cụ thân sinh. Thế hệ người chăm nuôi được ví như thế hệ của một chiếc " bánh mì kẹp chả" , với trách nhiệm làm cha mẹ, bổn phận làm con và đời sống riêng tư của mình.

Nói đến người săn sóc thường thường là ta nghĩ đến vai trò của người phụ nữ: con gái, con dâu, chị em, cháu. Cũng chẳng ai hiểu tại sao. Có lẽ đó là thiên chức của họ sinh ra với những nét dịu dàng, nhậy cảm, những quan tâm, linh động, nhất là đức tính hy sinh, thông cảm để chăm sóc chồng con, bố mẹ. Điều đó cũng đúng vì việc tề gia nội trợ, việc chăm sóc nâng niu thì làm mà sao qua khỏi tay các bà được.

Cho nên khi một bà cụ khoe "tôi ở với con trai " thì thực ra phải hiểu là bà cụ đang ở với con dâu mới công bằng, chính xác. Đàn ông cũng làm được công việc đó nhưng tổng quát hơn, sắp đặt nhiều hơn là đi vào chi tiết. Mà những chi tiết mới là điều mà người phụ thuộc cần và quan trọng đối với họ.

Người đàn bà có chín tháng mười ngày sửa soạn để đón chào đứa con ra đời, nhưng họ không có một phần mười thời gian đó để sẵn sàng cho trách nhiệm nuôi cha nuôi mẹ .Vì sự việc xẩy ra không lường trước.

Vả lại, nuôi con là thấy mỗi ngày nó vươn ra khỏi vòng phụ thuộc, còn nuôi bố mẹ già thì nhu cầu giúp đỡ mỗi ngày mỗi tăng, mỗi đi sâu vào sự lệ thuộc. Nhiều người như bơi lội quay cuồng trong vai trò mới của mình. Kinh nghiệm chưa có, làm sao học được cách thức điều dưỡng trong vài ngày. Tài chánh giới hạn. Sức khỏe kém. Công việc trở ngại. Ngoài việc làm kiếm gạo, mỗi ngày cũng phải dành ra vài giờ cho việc săn sóc. Họ cảm thấy cô đơn, buồn chán, nhiều khi bực bội, bất mãn, tuyệt vọng. Không còn riêng tư cho mình. Tương lai như ngưng lại. Họ mủi lòng cho người thân, người mà bạn đường đã sớm bỏ ra đi, sức khỏe đang hao mòn và biết rằng đang là gánh nặng cho con cháu.

Tình nghĩa gia đình, lòng hiếu thảo, mặc cảm chịu ơn là những hỗ trợ để người chăm sóc tiếp tục. Họ nghĩ là có bổn phận phải chăm sóc cha mẹ như cha mẹ đã nuôi nấng, trìu mến họ.

Nhưng dù có cứng nhưng cũng có ngày ngả nghiêng trước gió táp. Những chia xẻ trách nhiệm, những giúp đỡ từ anh chị em, thân nhân đã tới lúc cần có vì việc chăm sóc là trách nhiệm chung của cả gia đình.

Thường thì một người tình nguyện chăm sóc thường xuyên. Còn người khác phụ giúp khi được yêu cầu hay khi có cơ hội thuận tiện. Sắp xếp sao để tránh khỏi một người bị kiệt sức. Hoặc đưa tới bất hòa giữa anh chị em. Một người mẹ có thể chăm sóc cả bầy con mười đứa, nhưng khi mẹ già thì mười đứa con không chăm sóc được một mẹ. Kể cũng éo le, tội nghiệp.

Sau một thời gian cố gắng, người chăm nom bắt đầu có những dấu hiệu khó khăn. Đôi khi họ cố tình gạt bỏ những nhu cầu riêng, quên những đau ốm cá nhân để lo cho người thân yêu. Có người từ chối sự tiếp tay của anh chị em hoặc bạn bè, nhóm hội. Họ cứ nghĩ có đủ sức làm mọi việc và nếu nhận sự tiếp tay là thú nhận thất bại, kém khả năng. Có người cho là chỉ có mình mới chăm sóc chu đáo, không tin ở người khác.

Để rồi kiệt sức, ngã bệnh. Thử tưởng tượng một người không có sức khỏe dồi dào, săn sóc một người không khỏe lắm, thì chắc kết quả cũng chẳng được mấy hoàn hảo, như ý muốn của đôi bên.

Theo mấy ông bà thống kê thì người cống hiến chăm sóc bị ba lần trầm cảm, bốn lần bực bội, cau có hơn người nhận. Họ bất mãn vì đã cố gắng hết mình mà tình trạng người thân mỗi ngày mỗi suy kém, nên họ phải cố gắng hơn trong việc chăm sóc. Họ có cảm tưởng như mình là người duy nhất có thể trông nom chu đáo được cho người thân, luôn luôn e ngại rằng sự săn sóc của anh chị em sẽ làm cha mẹ già suy yếu hơn.

Đôi khi họ thấy không có được một thì giờ dành cho mình, một chút riêng tư với chồng con. Rồi tính tình thay đổi, hay cau có, bực tức, giận dỗi vu vơ; cảm thấy khó chịu với người mình đang trông nom, đã chẳng chịu hợp tác lại còn bướng bỉnh, đòi hỏi.

Lâu lâu họ thấy trong người mệt mỏi, ngủ không được. Nhiều sáng họ sợ không dám thức dậy, sợ phải đương đầu với những thường lệ mỗi ngày lại diễn ra.

Ngoài ra, dịch vụ chăm sóc cũng gây trở ngại cho công việc làm ăn, cho đời sống giao tế hàng ngày. Và đôi khi họ không còn thấy vui vẻ kiêu hãnh về trách nhiệm của mình, hoặc cảm thấy tội lỗi về những ý nghĩ không tốt của mình đối với người thân.

Rồi một lúc nào đó ngã bệnh, buông xuôi...

...Để tiếp tục chăm lo cho mẹ, Vân đã dành cho bản thân chị một vài chăm sóc, nhân nhượng. Vân đã như nghe thấy từng thớ thịt kêu gào với Vân, cho tôi nghỉ chút xíu chứ, bạn đã sử dụng quá sức lao động của tôi để phục vụ bà cụ rồi đó!

Vân đã sẵn sàng, dễ dãi tiếp nhận sự giúp đỡ của anh chị em.

Cô Lan ơi, tuần sau lên đón mẹ về với em, đỡ hộ chị mươi ngày nhé, anh chị định đi xả hơi ngoài biển. Anh Hoan ơi, bác sĩ nói mẹ cần uống thêm sữa đậu nành, hay là anh nói với chị làm hộ em mỗi tuần vài lít nhé.

Chị đã xen kẽ xả hơi và chăm sóc để duy trì sinh lực, lấy lại nhiệt tâm.

Dạo này Vân để ý đến ăn uống đầy đủ dinh dưỡng hơn. Ngày nào chị cũng dành 15 phút để vận động cơ thể.

Nàng lo nhất là bị rối loạn giấc ngủ. Ban đêm nhiều khi Vân phải thức dậy giúp đưa mẹ vào phòng tắm, lấy miếng nước, viên thuốc cho mẹ. Vân biết là mất ngủ sẽ mau đưa tới mọi tiêu hao tinh thần thể xác.

Chị cũng đã nghĩ đến một ngày nào đó phải cần đến sự giúp đỡ của vài tổ chức trong cộng đồng tôn giáo, xã hội, những nhóm hỗ trợ tư nhân.

Nhưng quan trọng nhất vẫn là nói chuyện với anh chị em. Để phân chia công việc săn sóc, phụng dưỡng người mẹ cô đơn được chu đáo trong những năm tháng còn lại của Mẹ...

Vì " Mẹ già như chuối chín cây". Rụng lúc nào, không biết.

Cũng như Cha đã về nguồn cách đây mấy năm.

Bác sĩ Nguyễn Ý-ĐỨC


'Để viện dưỡng lão không thành nơi giam cầm tuổi già'

CM 2021-04-27

Thay vì hy sinh chất lượng sống tuổi già để xây dựng một môi trường 'an toàn tuyệt đối', viện dưỡng lão cần thay đổi để giống 'nhà' hơn.

Ông ngoại tôi vừa qua đời. Thực ra, ông đã chậm rãi rời cõi sống từ khoảng chục năm nay. Căn bệnh Parkinsons khiến ông không thể mở mắt hay nói chuyện được. Đã lâu rồi, con cháu chúng tôi không còn biết ông đang nghĩ gì, hay thậm chí ông còn tỉnh táo hay không?

Từ khi ông mất, tôi đã nghĩ nhiều về cách chúng ta đối xử với người già vào những năm tháng cuối đời của họ. Dù ai trong chúng ta cũng từng nghe chuyện một bà cụ 97 tuổi vẫn còn khỏe mạnh và minh mẫn, sự thật thì những người này chỉ là trường hợp hiếm hoi. Nhà văn Phillip Roth từng viết: "Tuổi già không phải là một cuộc chiến. Tuổi già là một cuộc thảm sát".

Từ tuổi 40, bạn sẽ mất dần cơ bắp. Năm 80 tuổi, bạn sẽ mất khoảng 1/4 đến một nửa lượng cơ bắp trong cơ thể. Đây là chuyện bình thường. Ăn uống điều độ và rèn luyện có thể trì hoãn nhưng không ngăn cản được quá trình lão hóa. Phổi sẽ mất dần dung tích. Ruột và dạ dày sẽ chậm lại. Não sẽ teo dần. Khả năng xử lý thông tin sẽ mất dần từ trước tuổi 40 (đây là lý do tại sao mà các nhà Toán học và Vật lý học thường cho ra đời những công trình xuất sắc nhất khi họ còn trẻ).

40% dân số ở độ tuổi 85 mắc bệnh đãng trí. Không có người già nào có thể sống hoàn toàn độc lập. Xác xuất để một người già được sống cùng con cháu tỷ lệ thuận với số lượng con cái mà người này có, đặc biệt là việc họ có con gái hay không, và con gái út thường là người phải chăm sóc bố mẹ nhiều nhất (tôi nghĩ "trọng nam khinh nữ" là tư duy khá hài hước trong một xã hội mà ai ai cũng muốn được sống cùng con cháu).

Những người chỉ có một con hay "chẳng may" sinh ra toàn con trai thì có "nguy cơ" cao là bị đưa vào viện dưỡng lão. Khi số con cái trung bình của mỗi gia đình giảm xuống, và phụ nữ được tự do lựa chọn hơn, số lượng người sống trong viện dưỡng lão sẽ tăng.

Vậy tại sao người Việt sợ viện dưỡng lão đến vậy? Tôi nghĩ rằng không phải người Việt sợ viện dưỡng lão hơn phương Tây, mà vì nhiều viện dưỡng lão ở ta giống một nơi trông giữ người già hơn là một căn nhà bình thường, nơi bạn có thể vui vẻ dành những năm tháng cuối đời của mình. Tôi đã thăm cả viện dưỡng lão ở Anh và Việt Nam và thấy sự khác biệt rõ ràng này.

Đên một viện dưỡng lão ở trong nước, giá thành một giường ở viện này vào khoảng 7,5 triệu đồng/ tháng. Tôi thấy ở đây, họ đặt an toàn của người già lên trên hết và được thiết kế rất giống nhà trẻ, tức cổng có bảo vệ, ở xa khu dân cư; tất cả các hoạt động (khi nào thức dậy, ăn uống, đi toilet, xem phim, chơi trò chơi, ngủ...) đều theo thời khóa biểu. Một phòng có thể có bốn cụ, mỗi giường chỉ được ngăn cách bởi một tấm màn mỏng. Không cụ nào tự nấu ăn.

Có thể nói, đây là một trong những nơi ảm đạm nhất mà tôi từng thấy. Tôi nhận ra rằng, những viện dưỡng lão như thế này được xây dựng để thành nơi con cháu có thể yên tâm gửi gắm ông bà (làm sao ông bà có thể ngã hay gặp tai nạn được khi mọi hoạt động bị kiểm soát 24/7?), chứ không phải nơi người già có thể được sống vui vẻ. Người già sẽ được vui hơn nếu được ra thám thính phố phường, nhưng viện phải giải thích thế nào khi người già ngã ngoài đường và con cháu đến làm ầm lên?

Trong khi đó, tôi đi hoạt động tình nguyện trong một viện dưỡng lão ở Anh, và thấy có nhiều sự khác biệt đáng kể. Viện này thường xuyên khuyến khích người ngoài vào nói chuyện, chơi trò chơi và kết bạn với các cụ. Chúng tôi cùng ăn uống, chơi Domino và cá ngựa với các cụ hưu trí (các cụ rất kiên quyết muốn được tự lắc xúc xắc và tự di chuyển cá ngựa của mình).

Họ cũng khuyến khích các cụ được tự túc càng nhiều càng tốt, thậm chí người già được vào bếp nấu ăn. Trách nhiệm của người làm trong viện phần lớn là nấu ăn, lau dọn và báo giờ uống thuốc. Còn lại, các cụ thích đi ngủ lúc nào thì đi, thích ra rạp chiếu phim thì ra, thích đi chơi tỉnh khác cũng được. Rất ít hoạt động theo thời khóa biểu.

Gia đình và người nhà cũng được giải thích về những rủi ro có thể xảy ra với người thân của họ, và họ chấp nhận những rủi ro này để người già được vui vẻ hơn. Nếu đổi theo tỷ giá PPP (tức đã chỉnh theo mức sống mỗi nước), giá thành một phòng ở đây vào khoảng 10 triệu đồng/ tháng, không quá cao so với những viện dưỡng lão Việt Nam hiện nay, mà các cụ vui hơn hẳn. Bảo hiểm xã hội ở Anh cũng chi trả cho những viện như thế này.

Bác sĩ Atul Gawande đã viết cuốn sách rất hay về tuổi già là "Ai rồi cũng chết". Ông viết rất trung thực về thực tế cuối đời của phần lớn người già và những người mang bệnh không còn chữa trị được, và về những thứ họ thực sự muốn. Ông mô tả những viện dưỡng lão nhỏ chỉ khoảng tối đa 12 người, giống khu tập thể hơn là viện, nơi các cụ có phòng riêng và khóa cửa riêng.

Thay vì đặt an toàn lên trên hết, những viện này đặt chất lượng sống lên trên hết (thống kê cho thấy là người già trong những viện này lại sống lâu hơn và vui hơn). Có cụ hay ngã, viện vẫn cho cụ được tự đi lại, không ép cụ ngồi xe lăn. Có cụ đường máu cao vẫn được thỉnh thoảng ăn bánh kẹo. Sinh viên và con em nhân viên y tá được mời vào để trò chuyện và kết bạn với các cụ. Có viện có nuôi cả chó mèo và vẹt.

Giám đốc viện này kể rằng có cụ già trầm cảm, không nói chuyện và không động đậy gì hàng tháng trời. Khi viện cho ông nuôi một con vẹt, ông bắt đầu thích thú chăm nom, tưới tắm cho con vẹt của mình. Thay vì cảm thấy như mình vô dụng, ông được giao trách nhiệm nuôi sống một sinh vật khác. Ông vui vẻ hơn, ăn nhiều hơn, bắt đầu tự mặc quần áo, tự đi lại. Ba tháng sau, ông rời viện về nhà.

Người già rất cần có lý do để sống, và ta hoàn toàn có thể giao cho họ một mục đích để sống thay vì cứ đối xử với họ như trẻ con. Nhiều người già cũng muốn được tự do càng nhiều càng tốt đến cuối đời (giống ông bà tôi, dù đã sống chung với con cháu nhiều năm, nhưng cuối đời họ vẫn chuyển ra ở riêng cùng với một người chăm sóc). Họ muốn có được cảm giác như mình vẫn có ích và không bị thành gánh nặng của người khác. Viện dưỡng lão cần được cải tiến để chuyển từ "viện" thành giống những "ngôi nhà" hơn.

Tôi nghĩ với dân số đang già hóa nhanh, nhà nước và xã hội ta rồi sẽ phải nghĩ nhiều hơn về cách chăm sóc người già một cách nhân đạo. Nếu viện dưỡng lão được thay đổi để giống một "ngôi nhà riêng với người ở gần chăm sóc" hơn thay vì giống "bệnh viện kiêm nhà trẻ" như hiện nay, tôi nghĩ tư duy về viện dưỡng lão sẽ thay đổi nhanh chóng.

Người già sợ chết ít hơn là họ sự những năm tháng trước khi chết: lãng tai, đãng trí, mắt mờ, chân chậm, cuộc sống thưa dần những người bạn, mất sự tự do của bản thân, bị coi là gánh nặng cho gia đình. Y học hiện đại đã kéo dài tuổi thọ và kéo rất dài quãng thời gian mỗi người sống với sức khỏe yếu. Y tế hiện đại đến mức bác sĩ thậm chí không còn có thể trả lời chắc chắn câu hỏi "bệnh nhân này có đang chết không?".

Phần lớn mọi người nghĩ mình sẽ chết ở nhà, nhưng phần lớn chúng ta sẽ chết trong bệnh viện. Phần lớn mọi người sẽ cố gắng can thiệp y tế đến giây phút cuối cùng. Những lời trăng trối như "đừng lo", "bố mẹ yêu con", hay "xin lỗi..." càng ngày càng hiếm, vì người cận kề cái chết giờ đây đã "bị" can thiệp y tế đến mức ít người còn đủ sức để nói.

Tóm lại, thay vì hy sinh chất lượng sống để xây dựng một môi trường "phi rủi ro" như hiện nay, viện dưỡng lão hoàn toàn có thể được thay đổi để giống "nhà" hơn, gần cộng đồng hơn, và cho phép người già được tự do hơn. Tôi hy vọng có doanh nhân nào đủ tài chính và tài năng để xây dựng những ngôi nhà như thế này khắp đất nước, vì đây là dịch vụ mà trong tương lai đảm bảo sẽ có nhu cầu rất cao. 

https://www.thisiscm.com/article/1426821008628.html?fbclid=IwAR2CPr0UK6gcFglzK9xteW8uefsJ8b68i6c3kjsVpbzRquwpLNQVdema6jA

 

Chuyện Ở Mỹ: Chuyến Taxi Cuối Cùng Của 1 Đời Người

https://www.youtube.com/watch?v=MWGyWYBl9RI





2020


2021