Thứ Sáu, 26 tháng 2, 2021

2011 LỄ NGHĨA THẦY TRÒ

 

LỄ NGHĨA THẦY TRÒ
PrintE-mail
Monday, 21 November 2011 16:36
Là người Việt Nam ắt hẳn sẽ có rất nhiều người biết đến câu thành ngữ:
“Mồng một Tết cha, mồng hai Tết mẹ, mồng ba Tết thầy”,
có lẽ chúng ta cũng chẳng phải luận bàn gì thêm về vai trò của người thầy trong việc giáo dục nhân cách của các thế hệ trẻ - câu thành ngữ trên đã nói lên tất cả, tầm quan trọng của người thầy được đặt ngang hàng với các bậc phụ mẫu, bậc thân sinh. Điều đó thể hiện một truyền thống tôn sư trọng đạo rất cao đẹp của dân tộc Việt. Tuy nhiên, chúng ta cũng đừng vì lòng tự tôn mà cho rằng đây là một đặc trưng riêng biệt của văn hóa con người Việt Nam. Thật ra, truyền thống tôn sư trọng đạo hay nói đúng hơn là “Lễ nghĩa thầy trò” là một dạng thức chung trong cách đối xử giữa người dạy và người học ở khắp mọi nơi trên thế giới. Tất nhiên, ở những vùng văn hóa khác nhau chúng ta lại bắt gặp những nét thể hiện khác biệt. Chính vì vậy, chúng ta không nên so sánh và luôn phải giành cho văn hóa những sự tôn trọng tuyệt đối. Văn hóa của mỗi tộc người cần được đối xử một cách công bằng, không áp đặt và không bóc tách khỏi không gian sinh tồn của tộc người đó.
Với văn hóa Việt Nam, lễ nghĩa thầy trò mang một sắc thái riêng song cũng chịu nhiều dấu ấn của văn hóa Nho giáo Trung Quốc, đó là sự ảnh hưởng bị áp đặt của nghìn năm Bắc thuộc cũng như sự tự tiếp thu những giá trị tinh túy của Nho giáo.
Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Trần Văn Đoàn (Đại học Quốc gia Đài Loan), lễ được diễn tả qua những hình thức mà chúng ta gọi là văn (tức vẻ đẹp, beauty), hoa (tính chất cao thượng, elegance) của cách sống và lối suy tư. Và sau cùng, lễ cũng là một phương thế giáo hóa biến con người thành người có văn, có học, tức người quân tử, người trượng phu. Đây chính là một trong những ý nghĩa căn bản nhất của nền văn hóa hóa Việt.
Qua những phân tích về chữ lễ, và về sự liên quan mật thiết giữa lễ và nghĩa trong tư tưởng Việt, cũng như vai trò của lễ nghĩa trong cuộc sống toàn diện của họ. Chỉ trong một mạch văn như vậy, chúng ta mới có thể nhận ra được rằng, người Việt hiểu lễ (giống như người Trung Hoa) ở những điểm sau: lễ như là quy tắc (lễ pháp), lễ như là hình thức trong những cuộc tương giao (lễ nghi), lễ như là một thể chế (lễ chế), lễ như là hình ảnh của lương tâm (lễ nghĩa), lễ như là một thước mực đo lường tư cách con người (lễ độ), và lễ như là một phương thế giáo dục cũng như quản lý xã hội (lễ trị). Nhưng hơn người Trung Hoa, người Việt coi lễ nghĩa không chỉ là cái lý, mà là chính là những hình ảnh, những phương thế, những quy luật nội tại (không phải là pháp luật, như chúng tôi sẽ giải thích sự khác biệt giữa lễ pháp và lễ phép, cũng như lễ độ và chế độ) của cuộc sống. Nói cách khác, lễ nghĩa là chính cách sống biểu hiện tâm thức, tinh thần, tình cảm, cảm vị (cảm nhận) của người Việt…
Nói như nhà nghiên cứu Trần Văn Đoàn cũng rất súc tích và hàm chứa nhiều yếu tố khoa học. Song, chính vì vậy mà người đọc có phần khó hiểu và dễ bị “rối” khi rơi vào hàng loạt các thuật ngữ chuyên ngành. Chúng ta có thể hiểu nôm na: Lễ là những quy tắc ứng xử không có tính bắt buộc nhưng mang tính ràng buộc, có nghĩa là ở một vị trí nhất định, trong một hoàn cảnh, tình huống cụ thể thì chúng ta phải ứng xử có khuôn phép hay nói cách khác là ứng xử một cách hợp lễ. Còn “nghĩa” trong trường hợp này được hiểu như là ý nghĩa của từng hành động nghi lễ, hay nói một cách dễ hình dung hơn: Lễ là yếu tố bên ngoài được biểu đạt bằng hành động trực quan còn nghĩa là những yếu tố ẩn chứa bên trong những hành động đó. Hai yếu này có quan hệ biện chứng hết sức thân thiết, không tách rời, mặc dầu trong những hoàn cảnh và thời gian khác nhau thì tính chất của mối quan hệ này cũng có nhiều sự biến đổi. Tuy vậy, với người phương Đông – trong đó có đại đa số người Việt, lễ nghĩa là một nét đặc trưng nổi bật trong văn hóa hóa ứng xử cộng đồng, là yếu tố chi phối sâu rộng đời sống xã hội phong kiến…
Lễ nghĩa trong cách ứng xử của giới võ thuật xưa cũng rất đặc sắc, sự sâu sắc này được thể hiện rõ trong cách ứng xử giữa sư phụ và đệ tử, giữa huynh đệ với nhau, giữa quần hùng đồng đạo võ học và giữa người học võ với quần chúng, có những chuẩn mực vô hình và cũng có những chuẩn mực đã được cụ thể hóa bằng môn quy, quy định và nó đang chi phối những hành động của mỗi người học võ.
“Học trò học nghề hay học chữ, ở với người dạy cho mình đều có nghĩa thầy trò. Học trò phải kính trọng thầy, phải quý mến thầy, mà nhất là thầy dạy học chữ lại càng phải kính trọng hơn nữa. Học trò khi mới vào học gọi là nhập môn, phải kiếm buồng cau lạy yết kiến thầy hai lạy. Lúc học gặp khi mồng năm ngày tết như ngày tết nguyên đán, tết thanh minh, tết đoan dương, tết trung thu, mùa nào thức ấy, hoặc cặp gà, thúng gạo, hoặc đường mứt bánh trái, hoặc dăm ba quan tiền, tùy tình đa thiểu mà làm lễ đến thầy…”
Với người theo học võ, trước đây khi được nhận làm đệ tử hoặc có cha mẹ gửi theo học, người đệ tử phải trải qua nhiều nghi thức:
Đầu tiên, người học võ phải làm lễ cúng tổ, lễ vật thường gồm: trầu, cau, nhang, đèn, gà, trái cây và một ít tiền, số tiền ít- nhiều không quan trọng, miễn có để lấy thảo là được. Tuy nhiên, lễ vật luôn phải có như là sự ra mắt các bậc tiên sư, tổ sư. Đó cũng là một nghi lễ để tưởng nhớ đến gốc rễ, cội nguồn, nhớ đến những vị tiền nhân đã bỏ không biết bao nhiêu công sức gây dựng. Bên cạnh những lễ thức bái tổ của tân môn sinh chúng ta cũng phải kể đến một nghi lễ hết sức quan trọng của môn phái là lễ cúng tổ (giỗ tổ). Mỗi môn phái đều có các tổ sư riêng cho nên đối tượng thờ cúng của mỗi môn phái là khác nhau, ngày giỗ tổ thường là ngày tổ sư đó qua đời hoặc cũng có thể là ngày võ phái được chính thức thành lập.
Lễ vật cúng tổ ngày xưa cũng rất cầu kỳ, ít nhất cũng phải có những món thiết yếu như gà trống, gạo tẻ, gạo nếp, rượu, hương, trầu cau, ít nhiều tiền vàng mã… Hoặc như khó khăn quá thì chỉ là những thứ có sẵn như hoa trái trong vườn, ít hương đèn là đủ. Đó gọi là lễ mà không thiết ở “lễ”, điều quan trọng trong dịp này là chưởng môn và các thế hệ môn sinh có dịp tề tựu về võ đường, trao đổi, chuyện trò và quan trọng nhất là mọi người cùng nhau dâng lên chư vị nén hương để thể hiện lòng thành, đạo lý uống nước nhớ nguồn truyền thống của dân tộc ta được thể hiện là ở những điểm đó.
Ngày nay việc “nhận” môn sinh và dạy kiến thức võ học mang đậm tính “phổ cập”, bất kỳ ai yêu thích đều có thể theo học. Việc dạy võ có chương trình, giáo án rõ ràng và phải đảm bảo các yêu cầu về mặt sư phạm. Ngày trước công việc này hoàn toàn khác bây giờ, việc “nhận” đệ tử không hề đơn giản. Người sư phụ phải xem môn đồ của mình có đủ tố chất “nhà võ” hay không mới quyết định nhận thành đệ tử.  Rõ ràng, việc nhận đệ tử ngày trước là một sự chọn lựa khó khăn vừa đảm bảo sức vóc vừa đảm bảo yếu tố trí tuệ. Người thầy tuy nhận rất ít đệ tử nhưng những đệ tử đó  sau này đều trưởng thành và làm rạng danh môn phái. Có nhiều phái không có để tử chân truyền, cho nên người sư phụ mất đi, tuyệt kỹ cũng thất truyền theo.
Việc truyền dạy võ nghệ cho đệ tử cũng rất đặc biệt, người thầy căn cứ vào thể trạng, tố chất và ưu thế của môn sinh để truyền dạy những món đòn thích hợp. Mặt khác người thầy còn xem xét mục đích học võ của môn sinh là gì: Học để tự vệ, học làm võ sỹ hay học để truyền bá lại võ thuật.
Có lẽ cũng chính vì thế mà lễ nghĩa thầy trò xưa kia thật tôn nghiêm, quý giá và hết sức sâu sắc. Ngươi thầy – người sư phụ giống như người cha với biết bao sự quan tâm, chăm sóc, sự rèn giũa, sự bao dung. Và, hơn ai hết người với tư cách làm thầy luôn phải cố gắng để trở thành tấm gương sáng về đạo đức và lối sống cho các môn sinh neo theo. Dạy võ tuy cũng là một nghề song hiếm có ai sống nhờ thu nhập từ dạy võ, các võ sư tùy vào tình hình của mỗi môn sinh mà nhận lệ phí, có nhiều trường hợp khó khăn thầy dạy không những không lấy tiền mà còn nuôi cho ăn ở như con cái, tình nghĩa thầy trò trở nên vô cùng sâu nặng, chẳng khác nào cha con ruột rà. Người thầy dạy võ có ảnh hưởng rất sâu sắc đối với các môn sinh của mình, chẳng những họ truyền cho đệ tử những kiến thức võ thuật mà còn truyền cho họ một nhân sinh quan sống động, với những triết lý sống, những quan điểm về thời cuộc, chính vì vậy một người thầy tốt sẽ cho đời những người trò ngoan, có ích cho xã hội. Trái lại, một người thầy không đủ tư chất thì khó lòng mong đợi những học trò tốt như người Việt Nam có câu “thầy nào trò nấy”.
Còn với những người học trò, họ luôn phải giữ những chuẩn mực đạo nghĩa, đó là sự kính trọng, vâng lời thầy, sự tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các bạn đồng môn, sự kính trên, nhường dưới. Trong các dịp lễ, tết môn sinh dù còn học hay không vẫn thường về thăm thầy và không quên dâng lên tổ sư những nén hương thành kính…
Tình thầy trò (nguồn dẫn http://www.votrandaiviet.org/)
Lễ nghĩa thầy trò ngày nay đã không còn như xưa ắt hẳn sẽ có không ít người ngậm ngùi song điều đó là khó có thể tránh khỏi. Tuy vậy, trong rất nhiều tâm hồn người Việt Nam tình nghĩa thầy trò mãi là một hình ảnh đẹp, một ký ức khó phai. Xin mượn lời của PGS.TS Phạm Văn Tình để thay cho lời kết: “Khi người ta chịu ơn còn sống thì ta phải nhớ lễ tết cho chu đáo, còn khi người đó mất rồi, ta phải nhớ cúng giỗ nghiêm chỉnh theo phong tục. Đó là lẽ thường đối với tứ thân phụ mẫu mỗi người. Nhưng còn có những người khác mà nghĩa ơn sâu đến nỗi họ cần phải được ứng xử như vậy trong cuộc sống. Đó là những người thầy từng dạy dỗ ta..."
San Jose, Cali ngày 20.11.2011
Nguyễn Minh Tuấn và Ban Biên tập Võ trận Đại Việt

2011 Giáo dục Hàn Quốc: những phát triển ngoạn mục

 

Giáo dục Hàn Quốc: những phát triển ngoạn mục



http://nguyenvantuan.net/education/3-edu/1382-giao-duc-han-quoc-nhung-phat-trien-ngoan-muc
Thứ sáu, 11 Tháng 11 2011 10:12
Nói đến Hàn Quốc có lẽ trong chúng ta có nhiều người ngưỡng mộ. Hàn Quốc có vài nét giống với nước ta: phông văn hóa Khổng, đất nước bị phân chia bởi hệ chính trị, cũng trải qua chiến tranh, và cũng từng có thời là thuộc quốc (của Nhật Bản). Trong thập niên 1960s, thu nhập bình quân của Hàn Quốc không cao hơn thu nhập của người Việt (chỉ tính miền Nam). Nhưng chỉ sau 40 năm, từ một đất nước nghèo nàn và lạc hậu, Hàn Quốc đã thoát ra khỏi tình trạng nghèo khổ, và vươn lên trở thành một cường quốc công nghệ. Thu nhập bình quân của dân Hàn hiện nay là 20,510 USD, cao hơn Việt Nam gần 20 lần. Ngày nay, Hàn Quốc sánh vai cùng các nước tiên tiến trên thế giới. Sản phẩm của Hàn Quốc có mặt khắp thế giới, với giá chẳng thấp hơn so với sản phẩm từ các cường quốc kĩ nghệ bên Âu châu, Mĩ hay Nhật. Nhiều người Việt, trong đó có tôi, nhìn sự phát triển của Hàn Quốc một cách ngưỡng mộ, và tự hỏi làm thế nào mà họ cđã đạt được một sự phát triển ngoạn mục như thế, và tự hỏi chúng ta cũng có thể phát triển như họ?
Không chỉ phát triển về kinh tế, mà hệ thống giáo dục đại học của Hàn Quốc cũng phát triển rất ấn tượng. Năm 1945, sau khi Hàn Quốc được Nhật trao quyền độc lập, Hàn Quốc chỉ có 7819 sinh viên, nhưng đến năm 1998 tỉ lệ ghi danh đại học đã 98%, cao nhất trong các nước thuộc khối OECD! Theo số liệu thống kê chính thức, năm 2010 Hàn Quốc có 3,2 triệu sinh viên đại học và 316 ngàn sinh viên sau đại học. Các đại học Hàn Quốc đã bắt đầu tạo được uy danh trên trường quốc tế. Đại học Quốc gia Seoul được xem là một trong những đại học hàng đầu của Á châu (đứng hạng 13) và trên thế giới (hạng 124, theo bảng xếp hạng của THES). Nhiều đại học khác như Chungnam, Chonbuk, Chonnam, Pusan, Sogang, Inha, v.v. cũng đã trở thành những cái tên đáng kính nể trong vùng và trên thế giới. Các đại học Hàn Quốc, công cũng như tư, đã thu hút sinh viên ngoại quốc (kể cả Việt Nam) đến theo học.
Phát triển đại học dẫn đến phát triển khoa học và công nghệ. Hiện nay số nhà nghiên cứu toàn thời gian (full-time) của Hàn Quốc là 236 ngàn người. Con số này còn cao hơn Pháp (211 ngàn), Anh (175 ngàn), nhưng thấp hơn Đức (284 ngàn). Hàn Quốc cũng đã có một số trung tâm nghiên cứu lớn và có uy tín cao. Viện nghiên cứu tiên tiến của Hàn Quốc (KAIST), mô hình theo Viện tiên iến Nhật (JAIST), là một trung tâm nghiên cứu có tên tuổi trên thế giới. Về số lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế, Hàn Quốc đã có một bước nhảy chẳng kém gì so với Trung Quốc. Năm 1990, tổng số bài báo khoa học từ Hàn Quốc trên các tập san khoa học quốc tế chỉ 1382 bài (tức xấp xỉ con số của Việt Nam hiện nay), vậy mà đến năm 2008 con số này đã là 26690 bài, tức tăng 20 lần trong vòng chưa đầy 20 năm! Những nghiên cứu mạnh của Hàn Quốc (qua số ấn phẩm khoa học) là y sinh học (chiếm 35% tổng số ấn phẩm khoa học), khoa học tự nhiên (37%) và kĩ thuật (26%). Số bằng sáng chế đăng kí ở nước ngoài (chủ yếu là Mĩ, Âu châu v2 Nhật) của Hàn Quốc tăng từ 1382 năm 2002 lên 3158 vào năm 2005. Số bằng sáng chế đăng kí trong nước thì tăng tư 45298 năm 2002 lên 123705 vào năm 2007.
Cố nhiên, phát triển giáo dục và khoa học, và tăng trưởng kinh tế tương tác lẫn nhau. Tăng trưởng kinh tế tạo ra thị trường lao độg cho sinh viên đại học và cao đẳng, và cung cấp tiền cho Nhà nước đầu tư vào giáo dục đại học. Giáo dục đại học cung cấp nguồn nhân lực cho chất lượng cao cho phát triển kinh tế. Nhưng cái vòng tròn phát triển giáo dục – kinh tế - giáo dục này sẽ không thể nào có được nếu không được sự lãnh đạo sáng suốt của Chính phủ. Câu hỏi đặt ra là bằng cách nào Chính phủ Hàn Quốc có thể tạo ra một vòng tròn phát triển ấn tượng trong 4 thập niên qua. Có thể trả lời câu hỏi này qua 3 yếu tố: phát triển giáo dục cơ sở, vai trò của trường tư, và quan tâm đến chất lượng.
Giáo dục cơ sở. Quá trình phát triển giáo dục đại học của Hàn Quốc tùy thuộc một phần vào hệ thống giáo dục tiểu học và trung học. Nhìn vào bảng số liệu dưới đây chúng ta thấy số học sinh tiểu học đến mức đỉnh vào những năm cuối thập niên 1960s, và số học sinh trung học tăng đến mức đỉnh vào thập niên 1970s và 1980s. Sự tăng trưởng này tạo nên một áp lực “nút chai” cho đại học. Chính vì thế mà hệ thống đại học phải phát triển để đáp ứng nhu cầu giáo dục đại chúng.
Theo một phân tích của các chuyên gia Hàn Quốc, phát triển giáo dục tiểu học và trung học cũng góp phần quan trọng vào việc tạo nên nền kinh tế công nghiệp như hiện nay. Hệ thống giáo dục tiểu học cung cấp nhân lực cho các ngành công nghiệp nhẹ trong thập niên 1960s và 1970s. Giáo dục trung học đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các ngành công nghiệp cao hơn và nặng như hóa học vào thập niên 1970s và 1980s, thời gian mà Hàn Quốc còn trong giữa giai đoạn công nghiệp hóa. Giáo dục đại học chỉ trở nên quan trọng vào thập niên 1990s khi kinh tế tri thức và kinh tế dựa vào công nghệ tiên tiến bắt đầu hình thành. Do đó, nền kinh tế của Hàn Quốc có sự đóng góp quan trọng của hệ thống giáo dục cơ sở chứ không phải chỉ giáo dục đại học.
Một số con số thống kê về giáo dục của Hàn Quốc 1985 - 2010

196519751985199520052010
Số học sinh tiểu học (1000 người)494155994857390540233299
Số học sinh trung học cở sở (1000 người)75120262782248220111975
Số học sinh trung học (1000 người)42611232153215817631962
Số học sinh viên đại học (1000 người)1272211192221232083224
Sinh viên sau đại học38421387068178112728276918316633
GDP đầu người (USD)1066082368114681755120510
Ngân sách giáo dục (triệu KW)153312279252492308124958102798200241627519
Ngân sách cho giáo dục đại học (triệu KW)191520439196691110591325374584635494
Chi tiêu cho R&D (triệu KW)
42664115515694406062415541437928500

Vai trò của trường tư. Tình trạng gia tăng nhanh chóng về nhu cầu giáo dục đại học, trong khi đó hệ thống giáo dục đại học công không thể đáp ứng nhu cầu của công chúng, nên từ đó hình thành hệ thống giáo dục tư nhân. Hơn 80% sinh viên Hàn Quốc theo học tại các đại học tư. Chính phủ khuyến khích các đại học tư thục bằng cách chuyển đầu tư cho giáo dục trung học và tiểu học sang giáo dục đại học tư. Một điều đáng chú ý là Chính phủ cho các đại học tư tự chủ về tài chính và tuyền sinh. Ngày nay, có thể nói rằng số đại học tư của Hàn Quốc có tên tuổi trên trường quốc tế không thua kém đại học công.
Chất lượng giáo dục. Vì sự tăng trưởng nhanh của giáo dục đại học, Chính phủ Hàn Quốc rất chú trọng đến vấn đề chất lượng. Họ dùng 3 phương tiện để kiểm soát chất lượng. Thứ nhất là phát triển hệ tiêu chuẩn để công nhận đại học và chương trình giảng dạy (accreditation). Thứ hai, Chính phủ Hàn Quốc dùng các chỉ tiêu về thành tựu trong đào tạo và nghiên cứu khoa học để cấp ngân sách cho đại học. Thứ ba, Chính phủ và giới kĩ nghệ đầu tư vào nghiên cứu khoa học và dùng nghiên cứu khoa học làm thước đo để cung cấp ngân sách cho các đại học. Hiện nay, khoảng 3.5% GDP của Hàn Quốc dành cho nghiên cứu và phát triển, và con số này thể hiện một tỉ trọng cao nhất trong các nước OECD.
Mô hình giáo dục đại học của Hàn Quốc là một hỗn hợp giữa hai mô hình Đức và Mĩ. Mô hình giáo dục đại học của Đức (mô hình Humboldt) nhấn mạnh đến tự do học thuật, đào tạo những người elite, và cơ cấu khoa bảng rất “giai cấp”. Mô hình của Mĩ mở rộng đại học cho đại chúng, sinh viên phải đóng tiền, khuyến khích tư nhân, và hệ thống tín chỉ. Do đó, giới khoa bảng Hàn Quốc ngày nay hưởng một chế độ tự do học thuật thoải mái hơn các nước trong vùng. Giáo sư được xã hội kính trọng, và ý kiến của họ được xem trọng. Cùng với việc mở rộng đại học cho đại chúng, Hàn Quốc cũng cố gắng xây dựng các đại học elite, đại học đặt nặng về nghiên cứu khoa học, và cho đến nay hai “hệ thống” đại học này song hành nhau và bổ sung cho nhau. Thật ra, trong những năm sau này, hệ thống giáo dục đại học của Hàn Quốc gần như mô hình theo hệ thống của Mĩ gần như tuyệt đối. Điều này cũng dễ hiểu vì rất nhiều giáo sư đại học của Hàn Quốc được đào tạo từ Mĩ hoặc Hàn kiều hồi hương, và những người này đã xây dựng và góp phần vào sự phát triển vượt bậc của nền giáo dục đại học Hàn Quốc.
Giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong phát triển nền kinh tế tri thức. Nhận thức được vai trò này, nên Hàn Quốc phát động hàng loạt chương trình nhằm nâng cao kinh tế tri thức của Hàn Quốc. Những chương trình như World Class University (đại học đẳng cấp quốc tế), Humanity Korea, Social Science Korea, v.v. đã được triển khai từ đầu năm 2000 và đã đem lại nhiều thành tựu đáng nể. Như nói trên, hàng loạt đại học Hàn Quốc đã lọt vào danh sách các đại học hàng đầu trên thế giới. Nghiên cứu khoa học xã hội của Hàn Quốc từ con số gần 0 ngày nay đã chiếm gần 4% tổng số ấn phẩm khoa học của Hàn Quốc.
Nói tóm lại, sự phát triển của giáo dục đại học Hàn Quốc trong thời gian 40 năm qua rất đáng làm bài học đế chúng ta tham khảo. Bài học quan trọng nhất có lẽ là cần phải hoàn thiện hệ thống giáo dục trung và tiểu học trước khi có được một hệ thống đại học có chất lượng cao. Bài học khác là cần phải quan tâm đến chất lượng đào tạo trong khi mở rộng hệ thống đại học tư nhân. Bài học thứ ba là các giá trị Khổng giáo, cộng với mô hình đại học của Mĩ và Đức đã giúp Hàn Quốc có được một nền đại học hiện đại và nhân văn. Việt Nam chúng ta hoàn toàn có khả năng xây dựng một nền giáo dục đại học như Hàn Quốc, nhưng cần phải có một chương trình cải cách lâu dài và có hệ thống.

2011 VN chỉ số phát triển con người

 Việt Nam đứng thứ 128/187 về chỉ số phát triển con người

10/11/2011

Theo Tuổi Trẻ
Đó là phát biểu của bà Setsuko Yamazaki - giám đốc Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc tại VN vào sáng 9-11, ở buổi lễ công bố bản báo cáo mới nhất về chỉ số phát triển con người (HDI) của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc.
Đây là một chỉ số đo mức độ phát triển về mặt con người của mỗi quốc gia dựa trên ba yếu tố chủ chốt là tuổi thọ, mức sống và khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục.
Theo đó, chỉ số này của VN năm 2011 là 0,728, không có nhiều thay đổi so với năm 2010. So sánh với các nước trong khu vực, HDI của VN cao hơn Lào và Campuchia, nhưng thấp hơn các nước như Trung Quốc, Malaysia, Thái Lan, Indonesia, Philippines.
Năm 2011, tuổi thọ trung bình của người VN là 75,2, thu nhập quốc dân đầu người là 2.805 USD/năm, tăng đáng kể so với mức 65,6 tuổi và 855 USD của năm 2000. Tuy nhiên, chỉ số về giáo dục không có nhiều biến đổi khi trong 11 năm qua, số năm đến trường trung bình của người VN chỉ tăng một năm từ 4,5 lên 5,5 năm. Các chỉ số này cũng dao động đáng kể giữa các địa phương.
Liên quan tới chi tiêu cho y tế và giáo dục, bản báo cáo nhận định đây vẫn là gánh nặng lớn cho nhiều hộ gia đình tại VN, với 8,1% hộ gia đình phải dành 20% thu nhập cho chi tiêu y tế và khoản chi này cũng làm 3,7% số hộ trở nên kiệt quệ.

2011 Minh quân nước Nhật và sự trì trệ ở Việt Nam

 Minh quân nước Nhật và sự trì trệ ở Việt Nam

Tác giả: Ngọc Hà (tổng hợp)
(VEF.VN) - Minh Trị Thiên Hoàng, người đã quyết định cải cách triệt để, trên mọi mặt từ giáo dục, chính trị, quân sự cho đến kinh tế - đã giúp nước Nhật hùng cường mọi mặt. Việt Nam thì sao?
LTS: Đáp lại lời kêu gọi cùng tham gia tranh luận của tác giả chương trình "Dân ta biết sử ta" - ông Nguyễn Thiện - trong bài Ngẫm về khát vọng canh tân nước Việt, rất nhiều độc giả đã gửi ý kiến đến VEF.VN.
Diễn đàn Kinh tế Việt Nam chọn đăng bài viết của độc giả Thanh Nam (thanh...@gmail.com) khi đề cập đến vị minh quân của nước Nhật với những dòng máu chất lượng cao đã giúp nước Nhật trở nên hùng mạnh, trong khi Việt Nam vẫn trì trệ với nền giáo dục lâu nay kéo theo sự trì trệ cả về kinh tế và nhiều lĩnh vực khác. Bên cạnh đó là một số ý kiến tiêu biểu của các độc giả khác.
Mời độc giả tiếp tục theo dõi và chia sẻ quan điểm của mình bằng cách gửi email về: vef@vietnamnet.vn. Xin trân trọng cảm ơn.
Những giọt máu chất lượng cao
A.S. Makarenko - nhà cải cách giáo dục kiệt xuất - danh nhân văn hóa thế giới người Nga - trong một lần bàn về tầm quan trọng của giáo dục đã từng ví von rằng: "Nền giáo dục giống như trái tim, còn những công dân sống và làm việc trong xã hội giống như những giọt máu, được tim co bóp để đi nuôi sống cơ thể - tức là xã hội".
Nếu mở rộng tầm mắt vuợt qua cái màn ngăn cách về không gian và thời gian chúng ta nhìn sang Nhật Bản - xứ sở của ngọn núi Phú Sĩ hùng vĩ những bộ quần áo Kimono nổi tiếng, hoa anh đào tươi đẹp, những miếng shushi bé xinh xinh vô cùng hấp dẫn. Nhưng có lẽ khi nhắc đến hình ảnh nước Nhật người ta liên tưởng ngay đến một cường quốc về khoa học kỹ thuật, xã hội phát triển ở mức cao, nhưng vẫn bảo tồn, phát triển được nền văn hóa với nhiều phong tục tập quán truyền thống của mình để trở thành một nét văn hóa vĩ đại của châu Á khiến cho giới học giả, nghiên cứu phương Tây phải ngưỡng mộ.
Minh Trị Thiên Hoàng đã tạo ra cơ chế để nhân tài nước Nhật cống hiến, phụng sự tổ quốc (ảnh tư liệu)
Đi xa hơn một chút nữa vào thời điểm giữa thế kỷ 19 lúc đó nước Nhật phong kiến dưới sự cầm quyền của chế độ Mạc phủ Tokagawa, là một quốc gia nghèo nàn và lạc hậu trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội v.v... (có khi còn kém hơn cả Việt Nam thời Nguyễn).
Nhưng may thay, vào thời điểm đó nước Nhật lại có một vị minh quân, với cái nhìn vượt thời đại, đã kịp thời nhận thấy rằng, nếu cứ để sự tụt hậu về kinh tế, xã hội diễn ra mãi thì chẳng bao lâu một đế chế Nhật hùng cường trong quá khứ trong phút chốc sẽ trở thành một miếng mồi béo bở cho các nước thực dân xông vào xâu xé. Nguời đó chính là Minh Trị Thiên Hoàng, người đã quyết định đưa ra những cải cách triệt để, trên mọi mặt từ giáo dục, chính trị, quân sự cho đến kinh tế. Nhưng vấn đề được ông đặt lên hàng đầu là cải cách giáo dục, bằng việc từ bỏ lối thi cử khoa bảng, tầm chương chích cú kiểu cũ, thay vào đó là kiến thức khoa học - kỹ thuật của phương Tây, đưa sinh viên ra nước ngoài học tập.
Và đúng như triết lý của A.S. Makarenko, những giọt máu chất lượng cao cứ thế ra đời, tạo nên một thế hệ công dân, lãnh đạo mới, và kéo theo đó là hệ quả tất yếu của việc thay đổi cả hệ thống xã hội vốn ì ạch chậm chạp trong hàng mấy thế kỷ dài đẳng đẵng, chuyển sang một xã hội năng động, từ đó đưa cả một đất nước vốn dĩ có một nền nông nghiệp lạc hậu trở thành một cường quốc về kinh tế - quân sự, mà minh chứng tiêu biểu nhất là chiến thắng của hạm đội hải quân Nhật Bản trong chiến tranh Nga - Nhật năm 1905 và sau đó năm 1910 cả vùng Nam Mãn Châu và Triều Tiên cũng chính thức bị đặt dưới quyền kiểm soát của Nhật, để rồi hơn 30 năm sau Nhật Bản đã làm cả thế giới phải kinh hoàng trước sức mạnh quân sự của mình trong Thế chiến thứ II.
Cũng phải nhìn nhận rằng để có được một nền giáo dục khoa học kỹ thuật phát triển nhanh như vậy, thì không thể chỉ cải cách riêng ngành giáo dục là đủ, mà cần phải đồng thời cải cách xã hội, chính trị một cách triệt để, nhằm tạo ra một cơ chế ổn định đồng bộ hỗ trợ lẫn nhau. Minh Trị Thiên Hoàng nhận thấy rằng: nền chính trị - xã hội Nhật Bản lúc đó rất lạc hậu, trở ngại lớn nhất là tầng lớp quý tộc phong kiến ăn bám xã hội. Nếu không cải cách triệt để hệ thống "ăn bám" này, thì giáo dục cũng như các ngành khác không thể phát triển được.
Vậy nên ông quyết định ra lệnh bãi bỏ chế độ thái ấp phong kiến và chế độ bổng lộc đi kèm, thay thế bằng hệ thống quản lý hành chính theo cấp tỉnh. Thực hiện chế độ bình đẳng trong xã hội, mọi sự phân biệt đẳng cấp trong xã hội phong kiến trước kia bị huỷ bỏ. Không những thế ông còn tạo ra một cơ chế để nhân tài có thể hiến kế giúp hưng thịnh quốc gia, bất chấp những cải cách đó có thể ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của mình.
Như thế, ngoài cái uyên bác, minh triết của một nhà cải cách chiến lược, Minh Trị Thiên Hoàng còn là một người yêu nước, dũng cảm, sẵn sàng hy sinh quyền lợi của phe nhóm cá nhân, chấp nhận cải cách để làm cho quốc gia hưng thịnh. Như thế, Minh Trị Thiên Hoàng đã đặt quyền lợi của tổ quốc, của quốc gia cao hơn cả những tư lợi ích kỷ thông thường của một con người bình thường.
Việt Nam: Từ trì trệ giáo dục...
Quay trở lại với tình hình Việt Nam thời kỳ đó, dĩ nhiên cũng giống như Nhật, Việt Nam vào thế kỷ 19 là một nước nghèo nàn lạc hậu với nền kinh tế nông nghiệp thô sơ, tình trạng kinh tế - xã hội cũng hết sức bi đát, trong khi đó cái họa xâm lăng của người Pháp thì lại rõ mồn một hơn bao giờ hết.
Trước tình cảnh đó, một bậc trí thức cũng có cái nhìn đi trước thời đại là Nguyễn Trường Tộ đã gửi 14 bản điều trần lên triều đình nhà Huế, đề nghị cải cách tất cả các mặt giáo dục, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội..v.v... để biến Việt Nam trở thành cường quốc trong tương lai, và trước nhất là có sức mạnh, để tự lực tự cường, tránh khỏi cái họa xâm lăng của thực dân Pháp.
Tiếc thay! "Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên". Triều đình Huế lúc đó tham quyền cố vị, ích kỷ chỉ biết nghĩ cho lợi ích cá nhân, tập đoàn phe nhóm của mình mà chẳng hề đoái hoài gì tới vận mệnh của sơn hà xã tắc trong cơn nguy khốn, nên đã bỏ qua những lời vàng ngọc, quý giá, tâm huyết của Nguyễn Trường Tộ. Xa hơn nữa, xét về một khía cạnh nào đó, triều đình Huế đã có tội với dân tộc với tổ tiên, khi đã bỏ lỡ một cơ hội ngàn vàng để đưa dân tộc Việt Nam trở thành cường quốc. Để rồi sau đó nước Việt Nam rơi vào vòng đô hộ của thực dân Pháp gần 100 năm...

Việt Nam đang cần cải cách sâu rộng nền giáo dục? (ảnh Dân trí)
Kể lại lịch sử như thế là để chúng ta cùng nhau "ôn cố tri tân", rút kinh nghiệm từ những bài học lịch sử để định hướng cho tương lai âu cũng là lẽ thường tình ở trên đời. Ắt hẳn ai là người Việt Nam, dù có thể bất đồng quan điểm về vấn đề này, vấn đề kia, chắc chắn đều có chung một tâm nguyện, mong sao cho Việt Nam phát triển.
Thế nhưng với quan điểm cá nhân của tôi - một sinh viên hiện đang sống và học tập ở Việt Nam, thì thực trạng giáo dục hiện tại của Việt Nam ta đã đến mức báo động. Có lẽ việc nêu chi tiết những hạn chế tiêu cực ở bài viết này là thừa, bởi điều đó đã có hàng ngàn, hàng vạn bài báo nói lên rồi. Rất rõ ràng. Rất chi tiết. Đành rằng, sai thì sửa, thế nhưng có một hiện trạng đã tiếp diễn hơn 20 năm nay trong nền giáo dục Việt Nam đó là sai mà... không thấy sửa, hoặc sửa không triệt để, nửa vời.
Cả xã hội đã quá mệt mỏi với những lời hứa, tuyên bố của hết đời vị Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo này đến vị Bộ trưởng khác, nhưng rốt cuộc vẫn chỉ là "bắt cóc bỏ đĩa". Chương trình giáo dục thì vừa nặng, lại không phù hợp với thực tế. Sinh viên học thì "bò cả ra" mà cũng không hết bài, trong khi đó do cách học chay, thuần lý thuyết, không thực hành nên sau khi học xong là "chữ thầy trả lại thầy". Chương trình giáo dục chỉ tập trung đào tạo ra những con robot chỉ biết đọc và chép, hoàn toàn không có tư duy sáng tạo, không có tính độc lập trong tư tưởng và suy nghĩ.
Bởi vậy, trong suốt 4 (hoặc 5) năm học đại học, sinh viên chỉ được trang bị những kiến thức xa rời thực tế, trong khi đó nhưng kỹ năng quan trọng của một nền khoa học - công nghệ hiện đại như tư duy logic, phong cách "team-work" (làm việc nhóm), tự nghiên cứu, nhìn vấn đề trên nhiều khía cạnh v.v... hoàn toàn không được đào tạo đến nơi đến chốn. Thế nên đến lúc ra trường, nhà tuyển dụng kêu ca, và lại phải cất công đào tạo lại, học lại.
Đó không chỉ là một sự phí phạm về thời gian, mà còn là sự phí phạm về tiền bạc, của cải của xã hội. Ấy là còn chưa kể những "dòng máu" được tạo ra không có chất lượng tốt nên đã làm cho cả cả nền kinh tế hoạt động trì trệ, bởi năng suất, hiệu quả lao động thấp. Điều này lại kéo theo cả sự tụt hậu đi xuống của nền khoa học, làm cho Việt Nam vốn đã lạc hậu trì trệ, lại càng trì trệ lạc hậu hơn.
Nhưng sự trì trệ này đâu chỉ gói gọn trong lĩnh vực khoa học giáo dục, nó còn tác động đến tất cả các vấn đề khác mang tầm vĩ mô như kinh tế, quản lý hành chính cho đến tầm vi mô như là giao thông, xóa đói giảm nghèo..v.v... Mà hiển nhiên, cả xã hội được ví như một cơ thể hoàn thiện, trong đó đòi hỏi tất cả các bộ phận làm việc phải đều và ổn định như nhau. Chỉ cần tay, hay chân, chúng ta bị thương, cũng ngay lập tức sẽ làm ảnh hưởng đến hoạt động của tất cả các bộ phận khác trong cơ thể. Và đó chính là nguyên nhân hàng đầu làm cho biết bao nhiêu nỗ lực của chính phủ, các bộ ngành... trong hàng chục năm qua đều không đạt mục tiêu cao cả như mong muốn.

Đúng Nhật đã tạo được giọt máu có chất lượng cao từ kinh tế đến văn hóa được chứng minh sau thảm họa sóng thần TP Sendai –văn hóa số 1 thế giới-
Còn hiện nay VN đang tạo ra giọt máu chất lượng kém…sản sinh [từ wrong {leaders + regime}=Communist+ Market Economy-> killed+corruption-bribery] từ thế hệ cha BCT sang thế hệ con UVTW. Cần tạo ra giọt máu chất lượng cao cho đời sau!!!
Tư tưởng tự do - bước tiến ngắn đến tư duy độc lập
Phải có dân chủ, ít nhất là dân chủ trong học đường nơi mà học sinh có thể phản biện thầy cô bằng chính tư duy của chúng. "Trứng" làm sao phản biện "Vịt" - sẽ không làm được nếu chúng không có kiến thức riêng. Muốn có kiến thức riêng thì phải... năng đọc sách và tư duy cùng với tác giả của cuốn sách đó (chưa đến mức gọi là phê bình văn học, nhưng cũng tương tự như thế, đánh vào những điểm không hợp lý, khiên cưỡng và ngụy biện). Học sinh phản biện thầy cô thì thầy cô phải tự nâng cao kiến thức để biện luận chặt chẽ hơn. Như thế có khác gì sự cạnh tranh về tư tưởng. Chính là như vậy đó.
Tư tưởng mà không tự do thì dù có tự do về thân xác cũng chả có ý nghĩa gì. Tư tưởng tự do sẽ là một bước rất ngắn để tiến tới tư duy độc lập. Có tư duy độc lập thì không phụ thuộc vào tâm lý đám đông và không ai có thể "tuyên truyền" ta được nếu ta thấy điều đó vô lý, không ai có thể cấm ta ủng hộ cái ta cho là hợp lý. Diễn đạt được cái mà mình nghĩ trong đầu để mọi người hiểu mình là kỹ năng hàng đầu mà mọi học sinh phải đạt được sau khi tốt nghiệp phổ thông. Còn đúng hay sai, logic hay phi logic, thực tế hay viển vông... thì phải qua đào tạo đại học hoặc tương đương.
Đào tạo đại học phải mở rộng cửa cho mọi người dân, thi cử không phải để tuyển chọn mà là để kiểm tra kiến thức và đánh giá năng lực tiếp thu. Sự tuyển chọn nằm ngay trong quá trình học xuyên suốt cho đến khi tốt nghiệp. Người học tự bỏ cuộc vì không tiếp thu nổi kiến thức vẫn hơn là đánh rớt người ta một cách cảm tính. Không cần đặt nặng vấn đề đúng sai mà chỉ cần đặt nặng vấn đề làm được hay không làm được và mức độ hiệu quả của cái làm được ấy. Nếu làm được điều ĐƠN GIẢN ấy, chỉ trong thời gian 1 thế hệ, chúng ta sẽ có 1 lớp người có tư duy hiện đại có thể đương đầu mọi thử thách và giải quyết mọi khó khăn mà chính chúng ta hiện nay không nghĩ ra được. Không bắt đầu ngay từ bây giờ với những đứa trẻ còn mút ngón tay thì bao giờ mới có những người như thế?
(Phan Bảo Lâm (phan_lam...@yahoo.com)
Việt Nam rất cần một người đột phá
Nói nước Nhật khai trí và nâng cao dân khí để có được như ngày hôm nay chỉ là một yếu tố không hoàn toàn là quyết định. Tôi cho rằng bản thân nước Nhật đã có ý chí quật cường từ trong truyền thống lịch sử của họ, họ không những đấu tranh để sinh tồn trên một dải đất đầy thảm họa đã tôi luyện cho họ ý chí thép, nghĩa là họ đã có trong tự thân một nghị lực kiên cường để tồn tại trong điều kiện tự nhiên khắc nghiệt.
Những tư tưởng mang tính cách tân, phát động trong thời kỳ nào cũng có, đặc biệt họ thoát khỏi một cách ngoạn mục hệ tư tưởng (được coi như một tôn giáo) Á đông là đạo Khổng. Những chân lý tưởng như giản đơn nhưng thực chất là thiếu sự biện chứng lôgíc. Nó mang nặng tính cảm quan, và tư duy ngắn hạn tùy thuộc cảm xúc. Cái này hoàn toàn phù hợp với một đất nước có dân số đông và đa dân tộc như Trung Quốc, nhưng hoàn toàn không phù hợp mới một đất nước có những điều kiện tồn tại khắc nghiệt như Nhật.
Việt Nam nếu không thoát khỏi được những tư tưởng, những định kiến đã tồn tại hàng nghìn năm, và thoát ra được khỏi những tư duy cảm tính, minh triết khôn vặt, sống dựa dẫm ít năng động để cải tạo tự nhiên, tư duy thiếu sự hệ thống logic mang tính cải tạo tự nhiên thì thật khó mà có được những bước đi vượt trội. Và sẽ còn lâu mới có thể tiến lên kịp được những nước có khả năng cải biến nhanh khi họ có gốc ít phụ thuộc vào các tư duy đạo Khổng.
Mặc dù một Trung Quốc tiến nhanh và vượt được chính mình, cũng chỉ nhờ vào những cách tân của những con người tiên phong về đường lối, như Ông Đặng, và Việt Nam chúng ta cũng chỉ có thể có được như ngày nay nhờ những bậc vĩ nhân tìm lối thoát từ những tư tưởng tự do từ phương Tây.
Vậy lối thoát của chúng ta từ đâu? Không phải tìm đâu xa. Cũng chẳng phải vì chế độ quân chủ hay dân chủ, mà chính trong mỗi con người Việt Nam đang mang nặng đầu óc thủ cựu. Chúng ta không chỉ học tập Bác mà phải hiểu được cách làm của Bác. Nhân cách và cá tính không thể học được nhưng cách làm thì phải học.
Cho tới nay Việt Nam chúng ta vẫn rất cần một người đột phá.

2015 NGÀY NHÀ GIÁO

 

2015  NGÀY NHÀ GIÁO (TEACHERS’ DAY)

Trong chuyến về thăm Việt Nam lần đầu tiên năm 1992 sau 18 năm xa quê hương, tôi đã khám phá bao chuyện đổi thay được thấy tận mắt trên quê hương mình. Có một điều làm tôi ngỡ ngàng và cảm thấy khó chịu là cảnh nhiều học sinh, sinh viên mang quà gồm vải vóc, quần áo may sẵn, bì thơ tiền, hay nhiều quà biếu quý giá đến biếu thầy cô trong Ngày Nhà Giáo 20/11.
Trong cuộc đời dạy học của tôi, gồm 10 năm ở Việt Nam và 30 năm ở Anh, tôi chưa hề được nghe về Ngày Nhà Giáo. Điều đó thật dễ hiểu, vì nước Anh hay Pháp cũng như Việt Nam Cộng Hòa trước 1975 không có ngày lễ truyền thống này.
“Tôn sư trọng đạo”, “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “Không thầy đố mầy làm nên” vốn đã ăn sâu vào tâm thức người Việt từ muôn đời. Cha mẹ sinh ra thân thể và nuôi ta khôn lớn, nhưng chính “Thầy” mới rèn luyện trí óc ta thành người để bước cao lên bậc thang xã hội. Giáo dục là bước đầu căn bản để phát triển đất đước, thầy cô giáo chính là người thi hành việc giáo dục. Trong bất cứ xã hội nào, thầy giáo vẫn được đề cao. Trong xã hội Việt Nam, việc học hành rất được khuyến khích, cha mẹ lúc nào cũng hy sinh cá nhân mình để nuôi con ăn học cao hơn, “Con hơn cha là nhà có phúc”, vì vậy thầy cô giáo rất được xã hội tôn kính.
Ngày xưa ở Việt Nam không có Ngày Nhà Giáo được ấn định vào một ngày nhất định, mà là bàng bạc ở mọi ngày, ở mọi lứa tuổi. Học trò tới già vẫn kính trọng, nhớ ơn thầy. Ngày xưa, Việt Nam cũng không có ngày Father’s Day (Ngày lễ Cha), hay Mother’s Day (ngày Lễ Mẹ), là vì làm con phải có hiếu và đền ơn cha mẹ suốt cả cuộc đời, chứ không phải thể hiện chỉ một ngày cho mỗi năm.

Vì sự quan trọng của giáo dục và vai trò của thầy giáo, cơ quan UNESCO của Liên Hiệp Quốc ấn định ngày 5 tháng 10 là Ngày Nhà Giáo Thế Giới (World Teachers’ Day). Tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể chọn một ngày khác, để vinh danh thầy giáo chung chung, hay vinh danh một hay vài vị thầy đã đóng góp quan trọng vào văn hóa hay một ngành nào đó của đất nước.
Chẳng hạn, từ 1915 Argentina lấy ngày 11/9 làm Ngày Nhà Giáo. Ngày này vốn là ngày giỗ ông Domingo Faustino Sarmiento (15/2/1811-11/9/1888). Ông là một nhà hoạt động chính trị, đại trí thức, nhà văn, chính khách và là Tổng Thống thứ 7 của Argentina.
Ấn Độ chọn ngày 5/9 là ngày sinh của Dr Sarvepalli Radhakrishnan (5/9/1888–17/4/1975) làm Ngày Nhà Giáo. Ông là một nhà hiền triết và chính khách lỗi lạc, làm Phó Tổng Thống (1952-1962) và Tổng Thống Ấn Độ (1962-1967).
Đài Loan chọn ngày 27/8 là ngày sinh của đức Khổng Tử, nhưng từ 1952 đổi lại 27/9 chính xác hơn theo lịch Gregorian.
Khối Hồi Giáo Phi Châu và Trung Đông gồm 12 nước chọn chung một ngày là 28/2 (Morocco, Algeria, Tunisia,Libya, Egypt, Jordan, Saudi Arabia, Yemen, Bahrain, Qatar, U.A.E, Oman).
Ở Tây Âu, chỉ có 3 nước là Germany (5/10), Netherlands (5/10) và Spain (29/2) là có Ngày Nhà Giáo, chỉ trên giấy tờ chứ không có tổ chức lễ lạc gì cả.
Ở Hoa Kỳ, “Ngày Nhà Giáo Quốc Gia” (National Teacher Day) xảy ra vào ngày Thứ Ba (Tuesday) trong “Tuần Lễ Ghi Ơn Thầy Giáo” (Teacher Appreciation Week) là tuần lễ đầu tiên của tháng 5 (May). Hiệp Hội Quốc Gia Giáo Dục (National Education Association) mô tả ngày này “là ngày vinh danh thầy cô giáo đã góp phần cho cuộc sống của chúng ta tốt đẹp hơn”. Vào khoảng 1944, thầy Ryan Krug của tiểu bang Wisconsin vận động các nhà chính trị và giáo dục Hoa Kỳ cần có một ngày vinh danh nhà giáo. Thầy Woodbridge viết thư cho bà Eleanor Roosevelt năm 1953 để thuyết phục Quốc Hội tuyên bố ngày National Teacher Day. Tới năm 1980, Quốc Hội chuẩn y chọn ngày 7 tháng 3 làm ngày National Teacher Day cho năm đó. Hiệp Hội Giáo Dục Quốc Gia sau đó chọn ngày Thứ Ba (Tuesday) đầu tiên của tháng 3 (March) cho tới năm 1985; và sau đó chọn ngày Thứ Ba trong “Tuần Lể Ghi Ơn Thầy Giáo đầu tháng 5 (May). Riêng tại tiểu bang Massachusetts thì chọn ngày 11/9 làm Teachers’ Day kể từ 1976. Ngày nay Massachusetts chọn ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng 6 (June) làm Ngày Nhà Giáo.
Á Châu vốn đề cao việc học, Ngày Nhà Giáo coi như có ở mỗi quốc gia.
Trung Quốc chọn ngày 10/9. Vào ngày này, học sinh biếu thầy cô tấm thiếp và hoa. Hong Kong trước 1997, chọn ngày 28/9 là Ngày Nhà Giáo của thời Tưởng Giới Thạch, nhưng sau khi xáp nhập vào Trung Quốc thì chọn ngày 10/9. Ở Đài Loan (Taiwan) Ngày Nhà Giáo không những chỉ vinh danh Thầy Cô Giáo về những đức tính mô phạm, tranh đấu, đóng góp vào chuyện học của học sinh mà còn đóng góp vào cộng đồng, xã hội. Vào ngày này phụ huynh tỏ ơn với Thầy Cô bằng cách đến thăm thầy cô hay gởi thiệp cám ơn. Ngoài ra, tại miếu thờ Khổng Tử ở mỗi địa phương đều tổ chức lễ hội. Lễ hội bắt đầu từ 6 giờ sáng với tiếng trống, 54 nhạc công trong bộ lễ phục thắt lưng xanh, 36 (hay 64) vũ công trong y phục vàng thắt lưng xanh. Bò, dê và heo được tế lễ. Cũng trong dịp này, quan chức địa phương vinh danh vài Thầy Cô đã đóng góp tốt đẹp cho giáo dục ở địa phương.
Ở Singapore, ngày Thứ Sáu (Friday) đầu tiên của tháng 9 là Ngày Nhà Giáo. Vào ngày này, học sinh được nghỉ học. Lễ vinh danh Thầy Cô được tỗ chức ngày hôm trước, và sau đó được nghỉ học buổi còn lại.
Philippine (Phi Luật Tân) chọn ngày Teachers’ Day của UNESCO là 5/10. Trong ngày này, Tổng Thống vinh danh khoảng 500.000 thầy cô trên toàn quốc. Tuy nhiên, ở địa phương mỗi trường ở bậc tiểu học và trung học chọn một ngày thuận tiện trong tháng 9 hay tháng 10 để tổ chức. Vào ngày lễ này, các thầy cô được học sinh quàng một vòng hoa lan vào cổ. Học sinh tổ chức ca nhạc, vũ điệu, ngâm thơ ca ngợi thầy cô trước hội trường. Các học sinh trường Hoa Kiều thường tổ chức vào ngày 27/9 để vinh danh thầy cô và ngày 28/9 là ngày lễ, được nghĩ học. Ngày 27/9 chính là ngày sinh của đức Khổng Tử.

Tại Indonesia, ngày 25/11 là Ngày Nhà Giáo để kỹ niệm ngày thành lập Hiệp Hội Giáo Chức Indonesia (Indonesian Teachers’ Association). Vào ngày này học sinh đi học và Hiệp Hội tổ chức lễ vinh danh vài thầy giáo, hiệu trưởng và nhân viên xuất sắc.
Tại Malaysia, ngày 16/5 là Ngày Nhà Giáo để kỹ niệm ngày 16/5/1956 là ngày chính phủ liên bang ban hành Bảng Tường Trình Giáo Dục Razak làm nền tảng giáo dục cho Mã Lai. Học sinh vẫn đi học.
Thái Lan chọn ngày 16/1 làm Ngày Nhà Giáo. Trong ngày này, học sinh được nghĩ học. Không có lễ lạc gì cả. Đây chỉ là một dịp thầy trò được ngơi nghỉ giữa học kỳ quá dài.
Nam Hàn chọn ngày 15/5 kể từ 1963. Nguồn gốc bắt đầu từ việc nhóm Thanh Thiếu Niên Hồng Thập Tự (Red Cross Youth) tổ chức viếng thăm các thầy cô bị bệnh nằm trong nhà thương. Ngày Nhà Giáo gián đoạn trong thời gian từ 1973 đến 1985. Vào ngày này, học sinh biếu thầy cô hoa cẩm chướng. Ngày nay, Nam Hàn đã hủy bỏ Ngày Nhà Giáo vì cho đây là một dịp học trò và phụ huynh “hối lộ” thầy cô bằng quà cáp đắt tiền. Ngày nay, thay thế vào đó là một ngày du hành dành cho thầy cô do nhà trường tổ chức.

Tại Miền Nam Việt Nam trước 1975 không có Ngày Nhà Giáo.
Tại Miền Bắc Việt Nam, kể từ 1958, ngày 20/11 là Ngày Nhà Giáo Việt Nam. Lịch sử ngày này bắt nguồn từ năm 1949; tại một hội nghị ở Warszawa, Liên Hiệp Quốc Tế Các Công Đoàn Giáo Dục trong khối Cộng Sản đã ra bản “Hiến Chương Các Nhà Giáo” gồm 15 chương với nội dung chủ yếu là đấu tranh chống nền giáo dục tư sản, phong kiến, xây dựng nền giáo dục trong đó bảo vệ những quyền lợi của nghề dạy học và nhà giáo, đề cao trách nhiệm và vị trí của nghề dạy học và nhà giáo. Trong một hội nghị giáo dục của khối này tổ chức từ 26 đến 30/8 năm 1957 tại Warszawa, lấy ngày 20/11/1958 là ngày “Quốc Tế Hiến Chương Các Nhà Giáo”. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lấy ngày này làm Ngày Nhà Giáo Việt Nam. Sau khi thống nhất, Cộng Hòa Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam áp dụng Ngày Nhà Giáo vào Miền Nam, không những cho học sinh tiểu học, trung học mà còn cho cả đại học.
Tuy nhiên, sau khi chủ nghĩa Cộng Sản sụp đổ ở Liên Xô và Đông Âu, các nước cựu cộng sản này đã từ bỏ ngày 20/11 làm Ngày Nhà Giáo mà chọn một ngày khác. Chẳng hạn Bulgaria, Estonia, Romania, Russia chọn ngày 5/10 của UNESCO; Albany ngày 7/3; Tiệp Khắc và Slovakia ngày 28/3; Hungary: Chủ Nhật đầu tiên của tháng 6;Ba Lan: 14/10; Ukraine: Chủ Nhật đầu tiên của tháng 10.
Tại Việt Nam, học sinh, sinh viên chuẩn bị cả tuần trước bằng bích chương, tràng hoa, ca nhạc và thực phẩm cho tiệc tùng tại trường. Ngoài ra, học sinh, sinh viên mang “quà” và tràng hoa đến từng nhà thầy cô để biếu.
Vì vậy, Ngày Nhà Giáo thật xa lạ đối với tôi. Tôi chỉ nhớ là khi học ở trường làng thời tiểu học, mỗi đầu niên học có lệ “cúng trường”. Vào ngày này, Má tôi luộc một con gà và nấu một dĩa xôi để tôi mang đến cúng trường. Các học sinh khác, đứa mang chuối, đứa mang bánh, v.v… tùy khả năng mỗi gia đình trong làng nghèo. Tôi không hiểu mục đích của “cúng trường” là gì, có lẽ trong 3 tháng nghĩ hè ma quỷ vào cư ngụ trong trường vắng bóng học sinh, nay cúng đễ học sinh được an lành trong việc học hành(!), cũng có thể là một dịp phụ huynh đải các thầy cô và người giúp việc như ông Cai trường. Ngày giỗ, phụ huynh cũng thường mời thầy giáo đến dự. Ngày Tết, học trò đến chúc tết nhà thầy. Cũng có quà biếu, nhưng đó chỉ có tính cách cá nhân, chứ không có thành lệ bắt buộc.

Trong thập niên đầu sau 1975, thầy giáo cũng như mọi người dân ở Miền Nam đều gặp khó khăn về kinh tế, và đều “đói” về mọi phương diện. Thầy cô khi nhận được một món quà nhỏ từ học sinh như vài mét vải, chiếc áo may sẵn đều cảm động, mặc dầu khá ngỡ ngàng vì đây là cách đối xử tình nghĩa thầy trò hoàn toàn mới lạ.
Tôi có nhiều dịp đi công tác hàng chục lần ở Việt Nam kéo dài trong gần 10 năm, có dịp gặp lại học sinh, sinh viên cũ; bạn bè, đồng nghiệp cũ cấp trung học và đại học. Trong các dịp này, cũng có chuyến trùng vào Ngày Nhà Giáo. Ngoài ra, tôi cũng có nhiều Du Học Sinh từ Việt Nam đến học trong phòng thí nghiệm của tôi. Nhờ qua quan sát tại chỗ, cũng như qua các thố lộ tâm tình, tôi biết khá nhiều về hiện trạng giáo dục và sự xuống cấp đạo đức ở quê nhà. Tôi hỏi một số đồng nghiệp cũ về cảm tưởng thế nào khi lần đầu tiên nhận quà của học sinh trong Ngày Nhà Giáo. Ai cũng trã lời là cảm thấy “hơi nhục và tủi thân” khi nhận quà vật chất, nhưng vì đói quá nên nhận, rồi các năm sau quen dần và coi như chuyện bình thường.
Nhưng rồi với thời gian, những món “quà” đó tăng dần về giá trị và không còn mang ý nghĩa thuần túy “nhớ ơn thầy cô”. Người “cho” mặc dầu không nói ra, nhưng người “nhận” phải hiểu ngầm rằng phải “trả” lại tương xứng. Đó là phải “nâng đỡ” điểm cao khi thi cử, phải làm sao cho con họ đậu, v.v… tùy trường hợp. Thầy càng có chức phận cao, có quyền chấm đậu hay đánh rớt, thì không những vào Ngày Nhà Giáo, mà còn là ngày Tết, ngày sinh nhật v.v… học sinh hay sinh viên tự nguyện mang “quà”, “bì thư” biếu thầy. Báo chí cũng từng đăng việc giáo sư gạ gẫm làm tình với nữ sinh để được chấm đậu.
Ngày nay, phụ huynh học sinh từ em bé ở cấp nhà trẻ, cho đến sinh viên đại học, sau đại học đều nơm nớp lo sợ Ngày Nhà Giáo sắp đến, nhất là các gia đình nghèo đông con đi học.
Nhân dịp này, tôi xin kể một chuyện vui có tính châm chọc, hài hước được nhiều người kể lại. Vào Ngày Nhà Giáo, vợ một thầy giáo dặn người giúp việc: “Hôm nay, hể nghe tiếng bấm chuông hay gõ cửa, thì chị mở cửa. Còn nghe tiếng chân đá vào cửa thì chị báo cho tôi biết ngay để tôi mở cửa”. Chị giúp việc hỏi lại: “Tại sao vậy, thưa bà?” Bà chủ trả lời: “Người bấm chuông hay gõ cửa chỉ mang quà nhỏ trên một tay, chị ra tiếp và nhận quà được rồi. Còn người dùng chân đá vào cửa, chứng tỏ hai tay phải ôm quà lớn và nặng, chị phải để tôi ra tiếp đón”.
Khi viết bài này, tôi không có ý vơ đũa cả nắm. Trong một xã hội vàng thau lẫn lộn, cũng vẫn còn nhiều thầy cô giáo đáng kính trọng, từ tư cách đến chất lượng giảng dạy; và cũng còn vô số môn sinh tôn sư trọng đạo thật sự. Tôi vốn biết có nhiều nhóm cựu học sinh, sinh viên trong nước hay hải ngoại, khi nghe thầy cô nay về hưu gặp khó khăn tài chánh hay bịnh hoạn đều quyên góp, cử đại diện đến thăm viếng và giúp đỡ.
Reading, Ngày Nhà Giáo 2011.
TRẦN ĐĂNG HỒNG

2017 Đại học Việt Nam: Mạn đàm

 2017 Mạn đàm về Đại học Việt Nam

Báo Xuân lúc nào cũng phong phú và thú vị.  Do đó, nhân dịp đầu năm, tôi muốn giới thiệu vài bài viết hay và quan trọng đã đăng trong các số báo Xuân Tân Mão.  Trong entry này, tôi trân trọng giới thiệu bài sau đây của Gs Phạm Xuân Yêm (Pháp) viết về những cái “không giống ai” của đại học Việt Nam.  Bài đã đăng trên số Xuân của báo Diễn Đàn (Pháp) và sẽ xuất hiện trong kỉ yếu Homboldt nay mai.  NVT
Mạn đàm về Đại học Việt Nam
 Phạm Xuân Yêm Nguyên giám đốc nghiên cứu CNRS và Đại học Paris 6
 Bài này viết ra như một tiếp nối nhỏ so với những gì mà GS Hoàng Tụy đã từ lâu phát biểu, đặc biệt câu sau đây1 trích trong Kỷ Yếu Sĩ phu Thời nay: Thật ra, giáo dục và khoa học của ta không chỉ tụt hậu mà đi lạc ra ngoài con đường chung của thế giới, hết sức 'không giống ai' và đó là nguồn gốc của mọi vấp váp, khó khăn khi hội nhập nếu không kịp chấn chỉnh."
1- Triết học không phải là một giáo điều
Đại cương, sinh viên ngành triết học được hướng dẫn về phương pháp suy luận và cách thức đặt vấn đề nhằm tìm hiểu sự thật trong cuộc sống nội tâm, cũng như khám phá ra những quy luật vận hành của xã hội, của vũ trụ nhân sinh. Triết học cũng trình bày cho sinh viên hiểu biết được lịch sử phát triển về tư tưởng và nhận thức của con người, nhờ vào những tìm kiếm nhẫn nại không ngừng của các triết gia tại Đông cũng như Tây phương, liên tục từ biết bao năm trường. Nói chung, môn triết học cung cấp cho chúng ta một chân trời luôn mãi mở rộng, một viễn tượng toàn cầu, một tầm nhìn thật là bao quát và thông thoáng. Đó là kim chỉ nam, tấm bản đồ giúp cho con người hướng thượng để đi tới mãi trong cuộc hành trình lâu dài của mỗi cá nhân, cũng như của toàn thể cộng đồng nhân lọai, mà không sợ bị lạc lối trong cái mê hồn trận của cuộc sống mỗi ngày một thêm phức tạp xáo động trong xã hội ngày nay.
Cũng như môn khoa học tự nhiên, triết học là cả một kho tàng kiến thức vô cùng phong phú và quý báu mà nhân lọai đã tích lũy được, trải qua bao nhiêu thế hệ tìm kiếm, phân tích và đãi lọc thành những sản phẩm tinh hoa của trí tuệ con người, không phân biệt sắc tộc, màu da hay khuynh hướng chính trị, học thuật và tôn giáo nào. Và như vậy, việc giảng dậy môn triết học không bao giờ chỉ tập trung, đóng khung chật hẹp vào một triết thuyết độc tôn duy nhất nào, mà trái lại cần phải giới thiệu cho các sinh viên tìm hiểu được nhiều trường phái triết học, các lý thuyết cổ xưa cũng như hiện đại của các nhà tư tưởng kiệt xuất của nhân loại từ Đông sang Tây, Bắc xuống Nam.
Xin trích dẫn mấy dòng ngắn ngọn sau đây2 về sự tương đồng cũng như khác biệt giữa khoa học và triết học:
Triết học nghiêm túc giống khoa học đích thực ở hai điểm:
1- đều dựa vào một số nguyên lý. Những nguyên lý này, ta chỉ có thể tán thành hay không, không chứng minh tuyệt đối, vĩnh viễn được. Do đó phát triển khoa học hay triết học đều đòi hỏi ý thức tự do và sáng tạo.
2- trên cơ sở đó, đòi hỏi một kiểu suy luận khắt khe, chặt chẽ, nhất quán xuyên qua những bộ ngôn từ tương xứng. Thiếu ngôn ngữ khoa học, không thể tiếp thu và phát triển tư duy khoa học. Thiếu ngôn ngữ triết học “cho ra hồn”, không thể tiếp thu và phát triển tư duy triết.
Triết học và khoa học khác nhau ở hai điểm :
1 - Giá trị của lý thuyết khoa học được xác định bằng thử nghiệm : ứng dụng nó thì hành động đạt được kết quả đã dự đoán. Lý thuyết khoa học đúng hay sai là phải do thực nghiệm kiểm chứng được hay không.
2 -Giá trị của triết thuyết được xác định qua nghiệm sinh của con người ở đời. Có thể bỏ mạng mà vẫn đáng sống.
Cả hai đều cần thiết để làm người. Nếu chua thêm được tí ti văn nghệ trong cuộc sống thực thì tuyệt.
Vậy mà từ lâu rồi theo Trần Đức Thảo “ở Việt Nam không có triết học mà chỉ có chính trị”, đặt nội dung giáo dục ý thức hệ Marx-Lenin làm trọng tâm. Trẻ vào mẫu giáo đã nghe những bài hát chính trị. Người soạn sách giáo khoa nhiều khi cũng cố lồng chính trị vào, coi đó là một thành tích3. Việc giảng dạy môn triết học Marx-Lenin tại các trường ở Việt nam từ mấy chục năm nay là một hạn chế khiên cưỡng, sinh viên phải học tập duy nhất có một học thuyết mà không được tiếp cận trên cùng một bình diện cả một vườn hoa tư tưởng muôn màu muôn sắc của nhân lọai. Rõ ràng là triết học do Karl Marx khởi xướng từ trên 150 năm nay và sau đó bổ sung bởi Lenin đã và tiếp tục là một đóng góp đáng kể cho nhân lọai, tuy nhiên nó không phải là một đường lối tư tưởng duy nhất, tuyệt đối và vĩnh viễn. Như vậy, thì lại càng không thể đem học thuyết này mà áp đặt trên quần chúng học sinh, sinh viên, buộc thế hệ thanh niên phải chấp nhận nó như một giáo điều chính thức của quốc gia. Sự áp đặt như vậy nào có khác chi việc thiết lập một thứ quốc giáo độc quyền, độc tôn trên toàn thể dân tộc?
Qua sự trình bày trên, thiết nghĩ ta cần phải dứt khoát thay đổi lề lối và nội dung của việc giảng dạy môn triết học hiện nay. Cụ thể trong thời buổi hội nhập này là nên áp dụng các phương thức phổ quát trên thế giới, đó là hướng dẫn cho sinh viên nâng cao tầm nhận thức và trình độ hiểu biết rộng rãi, thấu đáo hơn mãi về lịch trình tiến triển của tư duy loài người từ xưa đến nay, thông qua những tìm kiếm vô cùng phong phú và kiên trì của biết bao lớp nhà tư tưởng ưu tú vĩ đại của nhân lọai. Chứ không phải chỉ đóng khung hạn hẹp trong bất kỳ một học thuyết duy nhất nào. Khác nào xưa kia thời quân chủ phong kiến hàng ngàn năm bên Đông Á, học thuyết cửa Khổng sân Trình đã thống trị tư duy thần dân. Cũng như Cơ đốc giáo với giả thuyết điạ tâm sai lầm bên Âu châu đã đưa Giordano Bruno lên dàn hỏa thiêu (1600) và Galileo Galilei (1633) phải quỳ gối tự chối bỏ tác phẩm đặt nền tảng cho Vật lý và Thiên văn hiện đại. Điển hình gần đây hơn là thời Stalin đã dùng quyền lực chính trị để áp đặt lý thuyết về di truyền của Lysenko, gây tai hại trầm trọng cho nền khoa học của Liên Xô vào giữa thế kỷ XX vậy. Cũng vậy giáo điều phát xít Đức đã đẩy lùi nền khoa học Âu châu trong bao năm.
Chúng ta hãy lắng nghe ý kiến sau đây4:
“Tôi đề nghị chúng ta vẫn giữ học thuyết Marx-Lenin, nhưng chúng ta không chỉ biết và vận dụng duy nhất học thuyết Marx-Lenin, mà cần phải biết và vận dụng những học thuyết tinh hoa của nhân loại như chúng ta bắt đầu làm từ khi đổi mới. Từ đó Đảng ta mới phát huy được dân chủ, tự do trong Đảng, trong nhà nước và trong xã hội ta. Vì chỉ có dân chủ tự do mới có thể có điều kiện thật sự cho sự phát triển vững mạnh, mới có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi khó khăn thử thách, bảo vệ được thành quả của Cách mạng và không ngừng đưa Cách mạng Việt Nam tiến lên phía trước cùng với bạn bè năm châu bốn biển ”.
Các nước tư bản họ cũng làm như vậy. Họ vẫn nghiên cứu và giảng dạy chủ nghĩa Mác-Lênin ở các trường đại học. “ Giữ học thuyết Marx-Lenin ” không phải để tôn sùng và mù quáng vâng theo mà có chăng chỉ để gạn đục khơi trong, để ôn cũ biết mới .
Muốn có dân chủ cần phải có sự phát triển tinh thần đa dạng, nhiều chiều, nghĩa là triết học cũng phải đa dạng, nhiều chiều, chứ không thể giáo điều theo một hướng hẹp; đi theo một hướng hẹp là tạo mảnh đất đánh mất dân chủ. Điểm son của triết lý giáo dục tiến bộ trên thế giới là sự bao dung, tôn trọng và bàn cãi tự do những tư tưởng, văn hóa, chính kiến, tín ngưỡng khác nhau, chúng bổ túc cho nhau. Tư duy độc lập, phê phán, phản biện, tự vấn không ngừng là những yếu tố quyết định của một nền giáo dục tiến bộ và phổ quát. Không thể áp đặt một hệ tư tưởng bất luận nào đó - cho dù ưu việt đến mấy trong một thời - lên sự nghiệp giáo dục đào tạo con người. Nó chỉ kìm hãm tư duy sáng tạo. Triết lý giáo dục công lập ở Pháp dựa trên hai nền tảng : nhà trường thế tục và cộng hòa. Nhà nước tôn trọng và trung lập đối với mọi tín ngưỡng, chính kiến, tư tưởng, nhân sinh quan, triết học. Nhà trường là nơi hòa trộn mọi thành phần, không phân biệt nguồn gốc, chủng tộc, giai cấp xã hội của học sinh.
2- Nhân sự giảng dạy và nghiên cứu
Đại học, nơi tụ hội những tinh hoa của xã hội, mặc nhiên có vai trò làm gương mẫu cho mọi sinh hoạt. Nó phải là một môi trường lành mạnh, đạo đức để phục hồi và củng cố niềm tin của tuổi trẻ. Sự nghiệp của đại học là khai sáng tư duy, là đào tạo chất lượng cao về tri thức tổng quan và chuyên ngành. Những tiêu cực như giả dối, nạn dỏm trong nhân sự phải tuyệt đối vắng mặt, thày ra thày, trò ra trò. Đó là điều kiện tiên quyết của nền giáo dục nói chung mà đại học cần mở đường. Người sinh viên phải được hưởng quyền nổi loạn trong học thuật. Họ có quyền tụ tập để tranh luận học thuật dưới mọi hình thức và về bất cứ chủ đề nào5.
Đội ngũ nhân sự giảng dạy đại học cần phải có trình độ tiến sĩ theo tiêu chuẩn quốc tế, số lượng tiến sĩ đủ tiêu chuẩn này hiện nay quá nhỏ so với số sinh viên, hiện tượng thạc sĩ dạy cử nhân cần phải giảm đi đến mực tối thiểu. Chuyển giao tri thức chuyên môn cho sinh viên chỉ là một trong hai nhiệm vụ chính của giảng viên đại học, điều quan trọng không kém là nghiên cứu khoa học theo tiêu chuẩn quốc tế để cập nhật thường xuyên tri thức chuyên môn, đào sâu tăng trưởng kiến thức và tìm tòi sáng tạo. Tiến sĩ chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ để thành giảng viên đại học, chức vụ này đòi hỏi một thời gian ‘sau tiến sĩ ‘(postdoc) khá gian nan để đạt tới sự độc lập chín chắn trong quá trình giảng dạy và khám phá, mở rộng trao đổi với các môi trường khác nhau để sàng lọc, đua tranh lành mạnh nhưng gay gắt. Tiêu chuẩn quốc tế được hiểu theo nghĩa sau đây:
(a) công trình khảo cứu khoa học đăng trên các tạp chí đẳng cấp quốc tế (hầu hết bằng tiếng Anh mà ISI thu thập). Trong hàng chục ngàn tạp chí của ISI, có nhiều cái cũng chỉ vừa phải về chất lượng, vậy có lẽ nên linh động hơn, đừng thái quá về vai trò quyết định của ISI. Trong mỗi ngành chuyên môn, ai cũng rõ cấp bậc nọ kia (xếp loại theo impact factor cao là một thí dụ) của các tạp chí để tự mình chọn mặt gửi vàng đến các tạp chí với hệ thống bình duyệt và phản biện nghiêm túc. Mỗi ngành nghề chuyên hẹp chỉ có chừng vài chục tạp chí đủ chất lượng cao mà ta cần tập trung vào đó. (b) số lần trích dẫn (hay/và H index) các công trình khoa học bởi đồng nghiệp khắp thế giới, (c) sách giáo trình cao học phát hành bởi các nhà xuất bản uy tín (d) báo cáo trong hội nghị quốc tế và sự giao lưu thường xuyên với các cơ quan giảng dạy-nghiên cứu trên thế giới, (e) sự nghiệp đào tạo các nghiên cứu sinh và tiến sĩ, (f) đối với các ngành khoa học ứng dụng, văn bằng sáng chế và cộng tác với các công ty kỹ nghệ mang lợi nhuận cho cơ quan.
Ðó là ít nhiều hành trang thông thường của nhân viên giảng dạy-nghiên cứu của một đại học chuẩn mực quốc tế mà nền đại học Việt Nam cần đạt tới. Qua các tiêu chí  (a) - (f), ta thấy rõ sự liên kết chặt chẽ giữa nghiên cứu và giảng dạy, sự thăng chức thăng ngạch trong mỗi hàm nên tùy thuộc chủ yếu vào các công trình nghiên cứu khoa học. Cũng như ở nhiều nước phát triển cao, tổng số giờ giảng dạy trong một năm của giáo sư đại học ở Pháp chỉ có khoảng 130 giờ để thấy rõ tầm quan trọng mà họ phải bỏ hết thời gian còn lại làm nghiên cứu. Vì thế họ mang tên gọi là nhân viên giảng dạy-nghiên cứu (enseignant-chercheur).
Chương trình dài hạn đào tạo theo tiêu chuẩn quốc tế (bằng cách tuyển chọn sinh viên tài năng gửi đi soạn cao học, tiến sĩ và hậu tiến sĩ ở các nước khoa học tiền tiến) một đội ngũ mới giảng viên đại học để tiếp nối dần thế hệ trước, phải là ưu tiên hàng đầu của nền đại học. Đội ngũ nhân viên giảng dạy cần được coi là trọng tâm của mọi sinh hoạt trong đại học, ban quản lý chỉ có nhiệm vụ duy nhất là hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi sao cho được tối ưu hai sự nghiệp chính của giảng viên là chuyển giao tri thức và nghiên cứu khám phá. Ngoài ra vai trò quan trọng của hai môn Triết học Mác-Lê và Lịch sử Đảng chiếm khoảng 15% học trình của các ngành khoa học tự nhiên là điều hoàn toàn khác lạ với tiêu chuẩn quốc tế. Nên coi môn trước nằm trong kiến thức chung của triết học nhân loại và môn sau trong lịch sử  thăng trầm quốc gia. Trong hồ sơ các sinh viên trong nước sang ghi tên du học về ngành khoa học tự nhiên, hai môn kể trên có hệ số tính điểm khá cao chẳng thua các hệ số về toán, lý, hoá, sinh, ngoại ngữ. Ở các nước phát triển, không đâu có hai môn bắt buộc này trong học trình của các ngành khoa học tự nhiên. Nhiều bạn bè trên thế giới đã mất công sức giải bầy với đồng nghiệp và bộ máy hành chính của đại học mình khi họ xét hồ sơ tuyển chọn sinh viên Việt Nam sang du học. Ðể so sánh công bằng với sinh viên các nước khác trong việc tuyển chọn vào đại học, hai môn ‘không khoa học tự nhiên’ này bị loại bỏ tự động, làm lãng phí thời gian tiền của.
Rồi chuyện học hàm học vị nhiêu khê của hệ thống giáo dục hiện nay; nhiều người có học vấn thật bị đứng vào chỗ văn hoá giả tạo, và ngược lại. Chức giáo sư, phó giáo sư đại học cần phải hiểu theo những tiêu chuẩn phổ quát quốc tế, đó chỉ là chức vụ để giảng dạy-nghiên cứu với trách nhiệm cụ thể trong các đại học, chứ không phải là phẩm hàm quí tộc hình thức để quản lý hay hoạt động ngoài môi trường đại học. Nguyên tắc để xác nhận hai khả năng giảng dạy-nghiên cứu nói trên cần giản dị, minh bạch, không gây khó khăn bởi những thủ tục hành chính xa lạ với chất lượng nghiêm túc.
Ngoài vấn đề đội ngũ giảng dạy ra, quy chế tự chủ và tự do trong môi trường học thuật, chính sách đãi ngộ và đồng lương tương xứng, hướng nghiên cứu và phương pháp đào tạo, mở rộng cộng tác với các cơ quan và chuyên gia nước ngoài là những điều vô cùng quan trọng cần thực hiện để đảm bảo cho sự thành công của đại học chất lượng cao theo tiêu chuẩn quốc tế. Sự liên kết mật thiết giữa Đại học và Viện Khoa học & Công nghệ (VAST) nên phát huy tận lực, cơ chế hành chính của hai cơ quan cần điều hòa ra sao để hai bên cùng có lợi trong sự nghiệp nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu. Đó là điều mà các nước khoa học tiền tiến đã từ lâu thực hiện.
Tăng cường và xây dựng nhanh chóng cơ sở vật chất, phòng làm việc thường trực của nhân viên giảng dạy-nghiên cứu, thư viện phong phú với sách giáo trình và tạp chí khoa học quốc tế, máy tính và truy cập internet, cư xá cho sinh viên thuê giá rẻ, học bổng trợ cấp sinh viên chăm chỉ tài năng mà gia cảnh thiếu thốn.
Với hàng ngàn vạn tuổi trẻ trong và ngoài nước đang thành công tốt đẹp trong nhiều lãnh vực trên trường quốc tế, chúng ta tin tưởng rằng khi có môi trường thuận lợi, con người Việt còn có thể vươn cao hơn nữa. Thí dụ tượng trưng, trong các cựu sinh viên sang du học ở Pháp khoảng hơn mươi năm nay gần đây, một số đã trở thành giảng sư các Đại học hay nghiên cứu viên của Trung tâm Quốc gia Khảo cứu Khoa học (CNRS). Ðó là tiềm năng chất xám quý báu của dân tộc ta, chất xám ấy lại mang thêm một đặc điểm nữa mà hiếm các quốc gia khác có được, đó là sự phong phú đa dạng của các thành phần đến từ nhiều chân trời văn hóa khác nhau nhưng bổ túc cho nhau, từ Ðông qua Tây Âu, từ Bắc đến Nam Mỹ, Đông Bắc đến Tây Nam Á, Úc, được thử thách chọn lọc theo tiêu chuẩn quốc tế. Lại thêm biết bao tài năng, đặc biệt với thế hệ thứ hai, nằm trong cộng đồng ba triệu người Việt ở nước ngoài sinh hoạt trên khắp năm châu.
Thực ra vấn đề xuất cảng rồi sớm muộn trở thành giao lưu chất xám đã xảy ra từ lâu rồi ở các nước lân cận Việt Nam. Do lòng gắn bó với cội nguồn, môi trường hoạt động thoải mái thoáng đãng và chính sách đãi ngộ thích ứng ở các nước đó, phần đông các nhân tài đã trở về cố hương đóng góp cho sự phát triển kỳ diệu của nước họ, trong đó các đại học và viện công nghệ mang tầm quốc tế giữ vai trò không nhỏ.
Người viết tâm tình với lòng tin là nền đại học Việt Nam không thể không đạt tới chuẩn quốc tế, vấn đề chỉ là thời gian khoảng mươi năm. Nó đến sớm hay muộn là ở trong tay chúng ta từ chính quyền đến người dân hữu trách, và lời chúc đầu năm là chúng ta sẽ thành công nhanh hơn và trội hơn ước tính.