Thứ Tư, 1 tháng 2, 2012

2012 Tết Nhâm Thìn Gia đình



Tết Nhâm Thìn 2012
Mồng 1:
Nhà 898 Tạ Quang Bửu: Cháu nội mừng tuổi ông bà...
















Trước cửa nhà:






































































Rồng Ba















Rồng Mẹ















Na-Ty















Bé Bo
















Mồng 3 :  Ban Mê Thuộc...
Trạm Bù Đăng:



























Thác Dray Sap:






















































Buôn đôn:




























Mông 4 Kontum:
Nhà rong














Cầu KONKLOR Komtum 









































Nhà Thờ Vinh Sơn (Từ thiện đầu năm)



























































Thủy điện IALY





























BIỂN HỒ -Pleiku 











































I
NDOCHIN PLAZA-KONTUM













TRE XANH PLAZA-PLEIKU


















































































Mồng 6: Ban mê thuộc


Thứ Hai, 23 tháng 1, 2012

2012 LÌ XÌ TẾT


TỤC MỪNG TUỔI (HAY LÌ XÌ)

Ngày tư ngày tết, ngoài được mặc quần áo mới, vui chơi trẻ con còn háo hức chời đợi được ông bà cô bác…cho tiền mới hay còn gọi là Lì xì(压岁钱, phát âm: ya sui qian): Thường khi cúng giao thừa xong, bánh trái được đem ra phát cho trẻ con, còn người lớn thì uống trà và con cháu trong nhà ra mừng tuổi người lớn. Trước hết là ông, bà, cha, mẹ sau đó là anh chị đã trưởng thành…Khi trẻ mừng tuổi,người lớn thường tặng trẻ em tiền bỏ trong một bao giấy đỏ, hay "hồng bao", gọi là "lì xì" với những lời chúc mừng ăn no, chóng lớn.
Theo tác giả Nguyễn Sơn Hà ghi chép trong “Triết lý phong tục ngày tết” thì "lì xì" là gốc tiếng Nôm nói trại ra từ chữ "lợi thị" với nghĩa là lợi lộc, tiền của, hay giàu có với sự mua bán đổi chác… vì người ta hay hiểu theo kiểu vật chất bề ngoài. Nhưng hai chữ "lợi thị" ở đây có chữ "thị" viết với bộ thị (âm) "kỳ" có nguyên nghĩa là Tổ, hay Thần (thổ), nên hiểu rộng là lễ tế Tổ, tế Thần. Còn chữ "lợi" viết với bộ "đao", có nguyên nghĩa là đẹp đẽ thuận lợi, vì đó là 1 trong 4 đức tính của quẻ Càn : nguyên, hanh, lợi, trinh. Như vậy hiểu nghĩa rộng ra là "thiên thời, địa lợi, nhân hòa", tức là nghĩa thuận lợi và tốt đẹp bền vững cho mọi chuyện nên nói là "mỹ lợi", hay còn nói là "lợi giả nghĩa chi hòa dã" có nghĩa là hòa hợp những cái thích nghi cân xứng . Do đó phong tục "lì xì" với nguyên nghĩa cũng là sự cúng tế Tổ, tế Thần, tức là để Hành động sắp đặt mọi sự sao cho thích nghi cân xứng để cho tốt đẹp thuận lợi thì sẽ được tài lộc may mắn, mà người mình trao tặng cho nhau bao lì xì nhân dịp đầu năm. Vì vậy mà bao lì xì luôn luôn là màu đỏ tức hành Hỏa, vì Hỏa biểu tượng ánh sáng hỏa châu soi cho "tâm thức" con người để biết đường sống Đạo, là biết sắp đặt mọi sự sao cho thích nghi cân xứng hòa hợp thì sẽ được thuận lợi. Nên người ta hay nói "số đỏ" là số hên, là số có "lợi" với ý nghĩa biết hoà hợp để thích nghi và tiến hoá, để thành Tài thành Nhân. Vì vậy mà giấy bạc (tiền) mới trong bao lì xì là ý nghĩa cầu chúc cho mình biết thích nghi để cho mọi sự tốt đẹp thuận lợi thì đó là "lợi lộc" trong suốt năm mới. Ngoài ra với bất cứ ý nghĩa nào khác chỉ là dị đoan mê tín !
Theo cổ tích Trung Quốc thì trong "hồng bao" có 8 đồng tiền (là Bát Tiên hóa thân) được đặt dưới gối đứa trẻ để xua đuổi quỷ đến quấy nhiễu.
Theo truyền thuyết: Thì Ngày xưa có một con yêu quái thường xuất hiện vào đêm Giao thừa khiến trẻ con giật mình khóc thét lên. Hôm sau đứa trẻ nhức đầu, sốt cao, làm cho bố mẹ không dám ngủ, phải thức canh phòng yêu quái. Có một cặp vợ chồng nọ mới sinh được một mụn con trai kháu khỉnh. Tết năm đó, có 8 vị tiên dạo qua, biết trước cậu bé sẽ gặp nạn liền hóa thành 8 đồng tiền ngày đêm túc trực bên cậu bé. Sau khi cậu bé ngủ say, hai vợ chồng lấy giấy đỏ gói những đồng tiền này lại và đặt lên gối con rồi ngủ. Nửa đêm, con yêu quái xuất hiện định làm hại đứa trẻ thì từ chiếc gối loé lên những tia vàng sáng rực, khiến nó khiếp vía bỏ chạy.
Tiền mừng tuổi nhận được trong ngày Tết gọi là "Tiền mở hàng".
Xưa còn có lệ cho tiền phong bao với số tiền lẻ (chứ không phải là tiền chẵn), ngụ ý tiền này sẽ sinh sôi nảy nở thêm nhiều.
Ngày nay tục mừng tuổi vẫn giữ, con cháu biết chúc tụng lời tốt lành cho ông bà cha mẹ trong ngày đầu năm với mong muốn ông bà cha mẹ sống lâu với con cháu. Nó còn có tình giáo dục con cháu biết quí trọng tình cảm gia đình, biết quan tâm, yêu thương nhau, học tốt, sống tốt làm rạng danh dòng họ. Tuy nhiên có một số người lợi dụng tục lì xì để mua quan, bán chức để lấy lòng cấp trên…Đó là một điều đáng chê trách.

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

2012 "60 Năm Cuộc Đời"

Thursday, 12 January 2012 19:39

Em ơi có bao nhiêu
60 năm cuộc đời
20 năm đầu
Sung sướng không bao lâu
20 năm sau
Sầu vương cao vời vợi
20 năm cuối là bao...
Y Vân
Tôi xin phép đươc mượn ít lời trong bản nhạc "60 Năm Cuộc Đời" của nhạc sĩ Y Vân để mở đầu cho bài viết này, chứ thực sự cho tới hôm nay - lúc ngồi viết bài này -  thì đời tôi đã dài hơn con số 60 tới 12 năm, và còn dài hơn bao nhiêu năm nữa thì chưa biết, vì tuy đã... lẩm cẩm lắm rồi nhưng tôi thấy mình vẫn còn ăn ngon ngủ được nên mới dám nói như thế.
Bà xã tôi - cái khúc xương sườn cụt của tôi ấy - cứ mỗi lần tôi viết xong một bài đưa cho bà ấy đọc thì bà ấy lại bửu mỏ ra bào: Ối dào, ông mà viết lách cái gì, toàn là vạch áo cho người xem lưng! Nghe vậy tôi tức lắm, nghĩ bụng đúng là Bụt chùa nhà không thiêng! Nghĩ thế thôi chứ chẳng hơi đâu mà "Thanh Minh, Thanh Nga" hay là  đôi co với bà ấy, cứ miễn là mình viết gửi đi 10 bài thì 9 bài báo đăng (chùa) là được rồi. Với lại thực sự thì chỉ tại tôi không có tài tưởng tượng như người ta. Người ta thì cứ ngồi trong nhà, cà phê, thuốc lá rồi tưởng tượng thôi mà cũng viết được tràng giang đại hải. Có vị tả có một khúc đường đi thôi mà viết được cả trang giấy, cảnh xen với tình, tình lồng trong cảnh, đọc cứ rối tinh rối mù lên. Viết thế thì tôi chịu thua, cứ phải là "có bột mới gột nên hồ". Mà "bột" đây là chuyện thật "một chăm phần chăm em ơi" rồi thêm mắm dặm muối vào cho nó dài ra. Thế thì truyện thực lấy ở đâu ra nếu không phải là chính chuyện của mình hoặc của những người bà con thân thuộc với mình?
Cái truyện ngắn "Bà Cô Bên Chồng" tôi viết được nhiều người khen hay, ấy thế mà bà xã tôi cũng vẫn chê, bảo: "Tốt đẹp khoe ra, xấu xa đậy lại", ông đem cả Cô mình ra mà viết thế không phải "vạch áo cho người xem lưng" thì là gì? Tôi cãi: Anh viết toàn là sự thật, những chuyện chính mắt anh thấy hoặc nghe "Bu" kể lại (tôi gọi Cha, Mẹ là "Thày, Bu"), nhưng anh cũng đã viết ngày còn trẻ thì Cô thế, nhưng càng về già Cô càng thay đổi tính nết, trở nên người hiền lành rất dễ thương, chính Thày Bu cũng công nhận như thế. Ngoài ra người ta cũng có câu: "Giặc bên Ngô không bằng bà cô bên chồng", như thế là anh chỉ muốn nói Cô là một trong số những bà Cô bên chồng thôi chứ có phải Cô là người "Bà Cô bên Chồng" duy nhất đâu?
Đến cái bài "Tôi Đi Xem Bói" cũng vậy, tôi đã lấy chuyện thực của mình ra mà viết. Lần xem bói thứ nhất là ngày tôi còn nhỏ, mới học tới lớp Ba hay lớp Nhì gì đó, ông thày xem bói cho tôi là một ông cụ người làng bên, mà cứ như Thày tôi nói thỉ cụ giỏi lắm, nói đâu trúng đó. Hôm đó cụ đã bắt tôi quay đằng trước, quay đằng sau cho cụ ngắm, ngắm chán rồi cụ phán: Thằng này sau này không đến nỗi nào, chỉ phải cái dài mồm ăn người và có tới ba (3) đời vợ!
Cho tới nay nghiệm ra thì những điều cụ nói đều trật lất cả. Tôi chẳng ăn không cái gì của ai bao giờ, "hòn đất ném đi thì hòn chì ném lại", hay là "bánh ít đi thì bánh quy lại" có khi tôi còn chịu thiệt thòi nữa là đằng khác. Còn cụ bảo tôi có những ba đời vợ thì lại càng trật lất nữa: Bà xã tôi đây, tôi đã phải làm áp lực mãi mới được Thày Bu tôi cưới cho từ ngày tôi còn rất trẻ đến nay đã ngoài 50 năm. Năm nay tôi lại đã bước qua cái tuổi "thất thập" được mấy năm rồi, bà ấy kém tôi 4 tuổi, như thế thì cả hai vợ chồng đều đã kể được là "thọ" rồi chứ gì nữa? Vậy mà (nói nhỏ để các vị nghe thôi, nói lớn bà ấy nghe được bà ấy giận đấy) là tôi vẫn còn ì ạch cõng bà ấy trên lưng đây, nói dại đổ xuống sông xuống biển, chẳng may mà Chúa có cất bà ấy đi trước tôi thì tôi cũng đành vâng theo ý Chúa rồi ngồi... khóc thôi, chứ tuổi này rồi rước... vợ mới về để mà thờ à, thế có phải "ông thày" nói tôi có những 3 đời vợ là nói bố láo bố lếu không?
Lần coi bói thứ nhất vì thày bói là thứ người trần mắt thịt nên nói sai thôi cũng được đi, nhưng lần thứ hai "Thánh" phán đàng hoàng mà cũng trật lất các vị ạ. Năm ấy tôi học ở Nha Trang, đang chuẩn bị thi Trung Học Đệ Nhất Cấp. Hôm ấy không nhớ rõ là Chúa Nhật hay là ngày lễ, ngày vía gì mà tôi theo mấy người bạn lên Tháp Bà chơi. Nghe nói Tháp Bà linh lắm, vì thế mà ngày Rằm, mùng Một hay những ngày lễ ngày vía khách thập phương kéo tới đông lắm. Chỗ này xin xăm, chỗ kia vái lậy khói nhang nghi ngút. Tôi cũng bắt chước mấy người bạn hai tay bưng ống thẻ, nghiêm chỉnh cúi đầu, miệng lẩm bẩm xin "Thánh" cho được một que thẻ tốt rồi lắc ống thẻ. Môt que thẻ rớt ra, tôi nhặt đem ra ngoài nhờ một thày bàn xăm coi hộ chứ chữ viết trên cây thẻ là chữ Nho tôi có hiểu gì đâu. Thày lẩm nhẩm đọc rồi ngước mắt nhìn tôi mỉm cười bảo: Chúc mừng cậu, năm nay cậu thi đậu chắc rồi, đây này "Thánh" dạy rõ ràng bảng hổ đề danh! Nghe vậy tôi khoái chí tử, móc túi biếu thày 5 đồng. 5 đồng tiền Việt Nam ngày đó có khi giá trị còn hơn 5 Đô La Mỹ bây giờ nhiều. Ở Mỹ bây giờ, 1 tô phở trung bình cũng phải giá 9, 10 Đô La. Chỉ riêng hội trường Nhà Thờ Giáo Xứ Thánh Giuse ta tô phở chỉ có 6 Đô La là giá đặc biệt bán cho người nhà, nhưng phải self service. Còn Việt Nam ngày đó, một tô phở trung bình chỉ 5 đồng, nhỏ hơn một tí thì 3 đồng, gọi là phở 5 hoặc phở 3.
Nghe thày bảo "Thánh dạy rõ ràng bảng hổ đề danh" tôi mở cờ trong bụng, lẩm bẩm phen này thì đừng có thằng nào chê là "ông" học dốt nữa nhé! Thế nhưng mà các vị ạ, năm đó tôi trượt vỏ chuối, thế có phải là "Thánh" cũng bố láo bố lếu không? Cũng có những lúc, như là muốn "biện hộ" cho "Thánh" tôi lại tự nghĩ: Hay là thấy mình lấc ca lấc cấc "Thánh" bèn "trác" mình cho bõ ghét! Cố biện hộ cho Thánh như thế, nhưng nghĩ đi nghĩ lại thì lại thấy không chấp nhận được, "Thánh" thì phải nói đâu ra đấy chứ "trác" người ta thì còn ra cái thể thống gì nữa?
Lần "coi bói" thứ ba là hồi mới vào tù cải tạo, trại chúng tôi là trại Thanh Hóa, Hố Nai, Biên Hòa. Nơi này trước kia là trại gia binh của một Tiểu đoàn Biệt Đông Quân QLVNCH. Mấy tháng đầu mới nhập trại,  họ còn dễ dãi lắm, học viên chưa phải lao động gì cả, chỉ ăn chơi để chờ học thôi. Không phải làm gì, chỉ chơi thôi mà túi anh nào cũng rủng rỉnh tiền vì lệnh chỉ phải đóng có nửa tháng tiền ăn mà tiền đem theo thì dư. thế là lại nhờ cán bộ mua dùm nào là đậu, nào là đường để nấu chè, nào bánh tét, bánh ú... Nhờ mua cái gì họ cũng mua cho, cán bộ lúc đó tốt lắm, chỉ sau này mới... đổi tính đổi nết hay nói là "trở mặt" cũng được.
Phần lớn những bài viết của tôi đều có thể xếp vào loại truyện "vạch áo cho người xem lưng" được. Nhưng mà sợ gì chứ? Thí dụ như mình là công nhân hạng bét thì nói là làm công nhân hạng bét có chết thằng Tây nào đâu? Vỗ ngực xưng là kỹ sư hoặc làm supervisor hay làm manager làm gì để lúc nào cũng nơm nớp sợ có người biết được họ lại bảo là mình nổ văng miểng!
Mới đây tôi đã viết được một truyện dài với cái tên truyện là "16 năm một quãng đời", kể lại quãng thời gian 16 năm từ ngày tôi qua Mỹ tới ngày tôi về hưu, đã làm bao nhiêu job và mỗi job như thế nào. Truyên thật "Một chăm em ơi một chăm phần chăm"! Có người đọc rồi hỏi tôi sao không viết theo dạng hồi ký mà lại viết như một truyện dài? Tôi trả lời: Giá mà tôi làm "nhớn thật là nhớn" thì tôi đã viết hồi ký rồi, chứ "ấm ớ hội tề" như tôi mà viết hồi ký thì ma nó đọc. Quý vị nào muốn đọc "16 Năm Một Quãng Đời" thì xin vui lòng liên lạc với tôi.
Nhạc sĩ Y Vân chia "60 Năm Cuộc Đời" làm 3 giai đoạn:
20 năm đầu
Sung sướng không bao lâu
20 năm sau
Sầu vương cao vời vợi
20 năm cuối là bao
Còn tôi thì cho tới hôm nay, lúc ngồi viết bài này đã 72 cái "xuân xanh vương trên mái tóc", vẫn không biết phải chia cuộc đời mình ra làm mấy gai đoạn vì nó lung tung lắm. Từ lúc được sanh ra cho tới khi lấy vợ thì cơm cha cơm mẹ. Lấy vợ rồi thì phải kiếm việc mà làm cho có tiền nuôi mình và nuôi vợ chứ ăn bám cha mẹ thế nào được nữa?
Tôi dạy học ở trường Don Bosco Gò Vấp được 2 năm thì đi lính. Bấm đốt ngón tay, từ ngày bước chân vào Liên Trương Võ Khoa Thủ Đức, cho tới 30 Tháng Tư đen QLVNCH rã đám là xuýt xoát 15 năm. Tiếp đó lại hơn 6 năm tù cải tạo. Ra tù lại sống dưới chế độ xhcn ưu việt thêm 9 năm nữa. Làm đủ mọi nghề, từ anh xích lô đạp đến nhận thầu xây cất những công trình cò con, cuối cùng là làm chủ 2 bàn bi da kèm thêm một cửa hàng tạp hóa nhỏ như cái lỗ mủi. Sang Mỹ theo diện HO cuối năm 1990. Đi làm, đến năm 2006 đủ tuổi về hưu là về ngay. Lại bấm đốt ngón tay thì thấy mình đã đi làm ở Mỹ được 16 năm. Trong 16 năm ấy tôi đã làm vương làm tướng gì, trải qua bao nhiêu job, và mỗi job như thế nào tôi đều đã viết một cách rất thực thà trong cuốn 16 NĂM MỘT QUÃNG ĐỜI.
Cứ công bằng mà nói, tôi bị bà xã chê: "Ông mà viết lách cái gì, chỉ vạch áo cho người xem lưng thôi" là đúng lắm! Ấy thế nhưng mà tôi vẫn cứ viết, tôi tự biện hộ cho mình: Xấu tốt gì thì tôi cũng chỉ viết về tôi thôi chứ có đụng chạm gì đến ai đâu, có làm thiệt hại gì ai đâu mà sợ. Thú thật, điều mà tôi sợ nhất là phải "đi" sau một người. "Đi" sau ai cũng được, sau càng nhiều người càng tốt nhưng đừng "đi" sau bà xã tôi. Sớm tối cầu nguyện, tôi vẫn cầu xin: Lậy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu cùng Chúa cho con, nếu đẹp lòng Chúa thì xin Chúa cho con "đi" trước người vợ yêu dấu của con. Tôi đem điều này ra nói với bà xã thì bà ấy bảo:
- Sao ông ích kỷ thế, lại sợ không có người hầu hạ ông chứ gì?
Tôi trả lời:
- Không phải thế, anh không cần người hầu hạ, nhưng thiếu mình thì anh cảm thấy cô đơn lắm!

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

2011 Khoa học Việt Nam

Khoa học Việt Nam: một năm nhìn lại  GS NGUYỄN VĂN TUẤN
Trong quá trình hội nhập quốc tế, mấy năm gần đây, khoa học càng ngày càng được quan tâm, vì nghiên cứu khoa học là một hoạt động mang tính quốc tế. Nghiên cứu khoa học là một trong những chiến lược chính để đưa các đại học Việt Nam lên thành “đẳng cấp quốc tế”. Chúng ta đang ở đâu trong bản đồ khoa học quốc tế? Bài viết này sẽ điểm qua những thành quả của nghiên cứu khoa học, phản ảnh qua số ấn phẩm khoa học được công bố trên những tập san quốc tế năm 2011.

Công bố quốc tế: thước đo năng suất khoa học
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học có thể thể hiện qua 3 hình thức: ấn phẩm khoa học, bằng sáng chế, và đào tạo. Ấn phẩm khoa học ở đây chủ yếu là những bài báo cáo kết quả nghiên cứu được chấp nhận cho công bố trên các tập san có bình duyệt (peer review), nhưng cũng có thể kể cả sách chuyên khảo. Nghiên cứu khoa học ngày nay đang chuyển dần đến khái niệm translational research, tức những nghiên cứu có thể áp dụng trong thực tế hay thương mại hoá. Do đó, Bằng sáng chế là một thước đo quan trọng để đánh giá khả năng ứng dụng và thương mại hoá khoa học. Một công trình nghiên cứu khoa học tốt có thể làm đề tài cho một số luận án tiến sĩ và thạc sĩ. Vì thế, sản phẩm của nghiên cứu khoa học, ngoài số ấn phẩm khoa học và bằng sáng chế, còn có thể kể đến số nghiên cứu sinh được đào tạo.
Tuy nhiên, một trong những “sản phẩm” quan trọng của nghiên cứu khoa học là số lượng ấn phẩm khoa học được công bố trên những tập san khoa học quốc tế (gọi tắt là “công bố quốc tế”). Theo chuẩn mực chung trong cộng đồng khoa học, một công trình nghiên cứu mà chưa được công bố quốc tế thì chưa thể xem là hoàn tất. Công bố quốc tế, do đó, là một thước đo quan trọng không chỉ để đánh giá cá nhân nhà khoa học, mà tập hợp ấn phẩm còn dùng để đánh giá tình hình chung về hoạt động nghiên cứu khoa học. Đó cũng là một chỉ tiêu quan trọng nhất mà các chương trình xây dựng đại học đẳng cấp quốc tế thường dựa vào để đánh giá thành bại. Chẳng hạn như trong chương trình Trí tuệ Hàn Quốc Thế kỉ 21 (Brain Korea 21), Chính phủ Hàn Quốc lấy số lượng và chất lượng ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế làm chỉ tiêu để quyết định nên hay không nên tài trợ cho nghiên cứu khoa học. Ở nước ta, trong vài năm gần đây, Bộ Khoa học và Công nghệ cũng bắt đầu xem xét các công trình công bố quốc tế như là một thước đo để quyết định tài trợ cho nghiên cứu khoa học.
Ngay cả ở những nước trong vùng như Thái Lan, Mã Lai, Singapore, công bố quốc tế cũng được xem là một thước đo quan trọng không chỉ cho nền khoa học của một quốc gia mà còn cho cá nhân nhà khoa học. Mỗi năm, ở các nước trên, người ta làm những phân tích thống kê để đánh giá xu hướng nghiên cứu và so sánh với các nước trên thế giới nhằm đề ra ưu tiên cho nghiên cứu khoa học trong năm tới. Đối với cá nhân nhà khoa học, số lượng và chất lượng công bố quốc tế là chỉ tiêu số 1 để đề bạt các chức danh khoa bảng. Do đó, để biết nghiên cứu khoa học ở nước ta đang ở vị trí nào trong vùng, chúng ta cần phải nhìn lại và so sánh với các nước trong vùng.
Công bố quốc tế từ Việt Nam năm 2011
Trong vài năm gần đây, chúng tôi đã tiến hành một số phân tích về ấn phẩm khoa học Việt Nam trên tập san quốc tế. Những phân tích này cho thấy số lượng bài báo khoa học từ Việt Nam có phần tăng trong 10 năm gần đây, nhưng chất lượng vẫn còn quá thấp, và phần lớn các công trình nghiên cứu vẫn còn lệ thuộc vào nước ngoài. Trong phân tích ngắn dưới đây, tôi sẽ điểm qua một số khía cạnh liên quan đến số lượng ấn phẩm, lĩnh vực nghiên cứu, và các trung tâm nghiên cứu hàng đầu ở nước ta.
Về số lượng, tính từ đầu tháng 1/2011 đến cuối tháng 11/2011, các nhà khoa học Việt Nam công bố được 1028 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Tính trung bình, mỗi tháng, Việt Nam công bố được 93 bài. Do đó, dự đoán trong năm 2011, con số ấn phẩm khoa học là khoảng 1120 bài. Nếu dự đoán này đúng thì số ấn phẩm khoa học năm 2011 thấp hơn so với năm 2010 (1280 bài).
Nhìn lại dữ liệu 5 năm qua, xu hướng số ấn phẩm có gia tăng, nhưng chưa thấy một sự “đột phá”. Năm 1990 số bài báo khoa học từ Việt Nam trên các tập san quốc tế chỉ khoảng 250 bài. Đến năm 2005 con số này tăng lên khoảng 600 bài, và đến nay thì khoảng 1000 bài. Tính trung bình, trong vòng 20 năm qua, số ấn phẩm khoa học tăng khoảng 13% mỗi năm. Tỉ lệ tăng trưởng này không cao hơn so với các nước trong vùng.
Con số ấn phẩm khoa học Việt Nam cần phải đặt trong bối cảnh toàn vùng để có một bức tranh đầy đủ hơn. Trong cùng thời gian (2011), Thái Lan công bố 4244 bài báo (tức cao gấp 4 lần Việt Nam), Mã Lai 5363 (cao hơn Việt Nam gấp 5 lần), và Singapore 7296 (hơn Việt Nam gấp 7 lần). Tuy nhiên, số ấn phẩm khoa học Việt Nam đã vượt qua Indonesia và Philippines (Bảng 1).
Bảng 1. Số ấn phẩm khoa học trên các tập san quốc tế trong năm 2011 của một số quốc gia
Nước
2011 (tính đến tháng 11)
Việt Nam
1028
Thái Lan
4244
Malaysia
5363
Indonesia
865
Philippines
719
Singapore
7296
Laos
87
Cambodia
103
Miến Điện
37
Hàn Quốc
32446
Úc
30396
Pháp
44836
Nhật
54537
Trung Quốc
112829
Mĩ
265159

Mĩ vẫn là nước có số ấn phẩm khoa học cao nhất thế giới, với 265,159 bài trong năm 2011. Số ấn phẩm khoa học của Mĩ cao hơn 2 lần so với số ấn phẩm của Trung Quốc, nước đang đứng thứ hai trên thế giới. Hàn Quốc với tổng số 32446 bài, đã vượt quá Úc về số ấn phẩm khoa học (20396).
Chất lượng nghiên cứu khoa học. Một thước đo về chất lượng nghiên cứu là chỉ số ảnh hưởng (impact factor - IF) của tập san. Chẳng hạn như trong y khoa và sinh học, tập san có chỉ số ảnh hưởng trên 10 có thể xem là có ảnh hưởng lớn. Đại đa số các ấn phẩm khoa học Việt Nam, ngay cả trong ngành y, chỉ công bố trên những tập san có IF khoảng 1 đến 2. Con số này cho thấy nhiều nghiên cứu khoa học của Việt Nam thường có chất lượng rất thấp, dưới trung bình khá xa.
Lĩnh vực nghiên cứu. Nhìn chung, số bài báo khoa học trong ngành y sinh học vẫn đứng đầu bảng, với 241 công trình. Sau y sinh học là toán (131 bài), vật lí (123), hóa học (110). Các ngành khoa học thuộc vào nhóm “top 10” bao gồm khoa học vật liệu (77), khoa học môi trường (65). Phần lớn những bài báo trong ngành y sinh học của Việt Nam liên quan đến các công trình nghiên cứu y tế công cộng, rất ít những công trình nghiên cứu lâm sàng hay sử dụng công nghệ cao. Xu hướng này cũng không khác mấy so với năm 2010.
Trường / viện. Khi phân tích theo trường / viện, một xu hướng thú vị xuất hiện. Viện Khoa học và Công nghệ công bố được 131 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế, và với năng suất này, Viện KHCN là trung tâm đứng đầu nước về số ấn phẩm khoa học, nhưng điều này không có nghĩa là Viện KHCN có năng suất cao hơn các trung tâm và trường khác.
Các trường đại học có nhiều công trình công bố quốc tế thường là các trường phía Bắc. Các trường trong khối Đại học Quốc gia đứng vào hàng thứ hai (với 62 bài). Các trường “top 10” bao gồm: ĐH Bách Khoa Hà Nội (57), ĐH Cần Thơ (42), ĐH Sư Phạm Hà Nội (40), Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội (32), Viện Vệ sinh dịch tễ trung ương (20), Đại học Y Hà Nội (19), Viện Toán (17), ĐH Huế và ĐH Vinh (mỗi trường 16 bài). Ở phía Nam, ngoại trừ Đại học Cần Thơ đứng vào hạng “top 10”, không có trường nào đứng vào hạng top 10. Ngay cả những trường “lớn” Như Đại học Bách khoa TPHCM, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Y Dược, v.v. có số ấn phẩm khoa học không đáng kể.
Năng suất. Có thể nói năng suất khoa học của các nhà khoa học Việt Nam còn rất thấp. Viện KHCN có 880 giáo sư và tiến sĩ (207 giáo sư và phó giáo sư và 673 tiến sĩ – số liệu 2008), nhưng năm 2011 chỉ công bố được 131 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Tính trung bình, gần 7 người giáo sư và tiến sĩ mới công bố được 1 bài báo khoa học. Thật ra, trong suốt thời gian 20 năm (1991 – 2010), Viện KHCN chỉ công bố được 785 bài báo khoa học trên các tập san quốc tế. Nói cách khác, tính trung bình, mỗi nhà khoa học cần đến >10 năm để công bố được 1 bài báo khoa học.
Tính cả nước, hiện nay Việt Nam có khoảng 7751 giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ trong các đại học (số liệu 2008). Nhưng năm 2011 chỉ có 1028 bài báo khoa học. Do đó, tính trung bình, 8 giáo sư và tiến sĩ chỉ công bố được 1 bài báo khoa học trong vòng một năm. Năng suất này tương đương với năng suất của Viện KHCN. Ở Hàn Quốc, các đại học hàng đầu như Đại học Quốc gia Seoul, mỗi giáo sư trung bình công bố 4 bài một năm, cao hơn 30 lần so với Việt Nam.
Hợp tác quốc tế. Khoảng 65% những công trình khoa học của Việt Nam trong năm 2011 là hợp tác với đồng nghiệp nước ngoài. Chỉ có khoảng 1/3 ấn phẩm khoa học là thật sự do “nội lực” (tức không có sự hỗ trợ từ đồng nghiệp nước ngoài). Ba nước có hợp tác khoa học nhiều nhất với Việt Nam là Nhật (chiếm 18% tổng số công trình khoa học), Mĩ (13%), và Pháp (12%). Trong cùng thời gian, tỉ lệ hợp tác với đồng nghiệp ngoại quốc của Thái Lan là 50%; nói cách khác họ tự lực gần phân nửa trong tất cả các công trình nghiên cứu. Những số liệu này cho thấy nội lực khoa học của ta vẫn còn kém hơn các nước trong vùng.
Vài nhận xét
Những phân tích trên đây cho thấy hoạt động nghiên cứu khoa học Việt Nam như thể hiện qua số ấn phẩm quốc tế chưa có một bước đột phá. Hiện nay, số ấn phẩm khoa học của Việt Nam chỉ bằng 25% của Thái Lan và Mã Lai, 15% của Singapore. Các nước này cũng có tỉ lệ tăng trưởng số ấn phẩm khoa học trong khoảng 15 đến 17%, nên với đà hiện nay, chúng ta khó bắt kịp các nước trong vùng như Thái Lan, Mã Lai (chứ chưa nói đến Singapore).
Số ấn phẩm khoa học có liên quan mật thiết với chỉ số kinh tế tri thức. Trong một phân tích trước đây, 10 nước ASEAN có thể được chia thành 4 nhóm dựa trên số lượng và chất lượng của ấn phẩm khoa học. Singapore là nước dẫn đầu với kết quả cao nhất, tiếp đó là nhóm thứ hai gồm Thái Lan và Malaysia, và tiếp đó là Việt Nam, Indonesia và Philippines với thành tích trung bình; và cuối cùng là nhóm thấp nhất về kết quả nghiên cứu khoa học, gồm Kampuchea, Lào, Miến Điện và Brunei. Với tốc độ hiện nay, rất khó để Việt Nam vượt ra khỏi nhóm 3 để tiến đến nhóm 2 trong khối ASEAN.
Phân tích chi tiết hơn về lĩnh vực nghiên cứu phản ánh những nhóm chính như sau: những nước phát triển mạnh về kinh tế thì có kết quả nghiên cứu tốt về kĩ thuật công nghệ cao và công nghệ sinh học (Singapore, Thai Lan và Malaysia), trong lúc những nước nghèo hơn (như Việt Nam, Indonesia, Lào, Kampuchea, Philippines thì có thành tích cao về những lĩnh vực “công nghệ thấp” như y tế công cộng, và đối với Việt Nam là toán và vật lí lí thuyết. Do cơ sở hạ tầng cho hoạt động khoa học yếu kém, hầu hết dự án nghiên cứu ở Việt nam tập trung vào những lĩnh vực lí thuyết hoặc công nghệ thấp như toán cơ bản, vật lí lí thuyết, và y tế cộng đồng, chưa đi sâu vào những lĩnh vực mang tính tầm vóc quốc tế như công nghệ sinh học và di truyền học. Singapore đã và đang đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển, với ngân sách chiếm từ 1,9% đến 2,5% GDP trong khoảng từ năm 2000 đến 2007, và đã xây dựng được mối quan hệ gắn bó giữa giới nghiên cứu học thuật với các doanh nghiệp. Hệ quả là, thành tựu nghiên cứu của Singapore phần lớn do đóng góp của nghiên cứu ứng dụng và công nghệ như kĩ thuật điện tử, công nghệ nano, và công nghệ sinh học. Xu hướng này cũng nhất quán với kết quả của một phân tích gần đây cho thấy những nước kém phát triển về kinh tế có xu hướng tập trung vào những lĩnh vực nghiên cứu cơ bản vốn đòi hỏi những thiết bị khoa học và công nghệ hiện đại ở mức tối thiểu.
Khoa học là động lực phát triển kinh tế. Các nước công nghiệp hóa như Hàn Quốc và Singapore nổi bật ở lĩnh vực nghiên cứu khoa học. Chỉ trong vòng 20 năm, Hàn Quốc và Singapore đã trở thành một cường quốc trung về khoa học, với nhiều đại học và trung tâm nghiên cứu khoa học hàng đầu. Chúng ta đặt mục tiêu năm 2020 là hoàn thành công nghiệp hóa với kinh tế tri thức. Chúng ta chỉ có 9 năm nữa để thực hiện mục tiêu này, trong khi vị trí khoa học còn quá thấp. Nếu không có một sự đổi mới mang tính cách mạng trong chính sách tài trợ và quản lí nghiên cứu khoa học, e rằng vị thế của khoa học Việt Nam sẽ không thay đổi đáng kể trong vòng 10 năm tới.
(*) Bản ngắn của bài này đã đăng trên Tuổi trẻ cuối tuần dưới tựa đề "Khoa học Việt Nam: để thoát khỏi nhóm trung bình trong khu vực"

2012 Lời chúc Tết


Lời chúc Tết đến Đảng Cộng sản VN
http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2011/08/12/110812121337_nguyenvandai144.jpg
LS Nguyễn Văn Đài
Viết cho BBC từ Hà Nội
Cập nhật: 10:32 GMT - thứ năm, 12 tháng 1, 2012
Ngày 3 tháng 2 tới đây đảng Cộng sản Việt Nam sẽ tròn 82 tuổi và trải qua gần một thế kỷ ra đời, tồn tại và phát triển, đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và tôi hy vọng họ vẫn sẽ là một phần của dân tộc Việt Nam.

Chính trị lạc hậu và thể chế độc đoán gây ách tắc giao thông, lộn xộn cơ sở hạ tầng
Những sai lầm, thất bại hay công lao, thành tựu của đảng Cộng sản Việt Nam trong quá khứ tôi không đề cập trong bài viết này. Những điều đó hãy để cho lịch sử và nhân dân phán xét.
Trong bài viết này tôi chỉ đề cập đến những vấn đề bức xúc của xã hội Việt Nam trong thời điểm hiện tại.Và tôi cũng đưa ra những quan điểm mang tính cá nhân góp ý cho đảng Cộng sản tự chỉnh đốn và thực hiện tiến trình dân chủ vì tương lai đất nước của chúng ta.
Trong những ngày cuối tháng 12 của năm 2011, đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức hội nghị trung ương lần thứ tư. Một trong ba vấn đề cấp bách mà hội nghị trung ương lần này đề cập đó là: ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của các bộ đảng viên vì điều này liên quan đến sự tồn vong của đảng Cộng sản.
Vậy vấn đề suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ đảng viên đảng Cộng sản xuất phát từ đâu?Điều đó gây ra những ảnh hưởng gì trong đời sống xã hội hiện tại của đất nước, dân tộc Việt Nam?
Vì đâu suy thoái?
Nguyên nhân: Theo quan điểm của tôi, nguyên chính là do thể chế chính trị độc đảng hiện nay không còn phù hợp với một xã hội Việt Nam hiện đại và mở cửa hội nhập với cộng đồng quốc tế. Trong một đất nước với gần 90 triệu dân mà chỉ có một đảng Cộng sản với hơn ba triệu đảng viên, đại diện cho một hệ tư tưởng duy nhất thì đó là một sự áp đặt hết sức vô lý và bất công với hơn 80 triệu người dân.
Trong khi có hàng triệu người Việt Nam qua con đường du học, du lịch, lao động, qua internet, qua các phương tiện truyền thông quốc tế. Họ đã, đang và sẽ tiếp tục được tiếp thu những hệ tưởng, tư duy tiến bộ trên khắp thế giới.
Theo Hiến pháp Việt Nam, họ có quyền tự do bày tỏ quan điểm, chính kiến của mình, họ có quyền thành lập các tổ chức, đảng phái chính trị để đại diện cho những quan điểm, tư tưởng của họ.
"Các cán bộ, đảng viên đã sa vào 'vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân', tự biến mình thành kẻ phản lại mục tiêu, lý tưởng của đảng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân…"
Báo Quân đội Nhân dân
Các tổ chức, đảng phái chính trị này có quyền đại diện cho các từng lớp nhân dân khác nhau để giám sát hoạt động lãnh đạo đất nước của chính quyền, của đảng Cộng sản. Các tổ chức, đảng phái chính trị cũng có quyền cử các thành viên của mình tham gia ứng cử vào quốc hội cũng như các cơ quan dân cử cấp địa phương.Nhưng trên thực tế, những hoạt động chính trị của họ đang bị cấm đoán, sách nhiễu, bắt giữ, cầm tù.
Xuất phát điểm từ sự lạc hậu của hệ thống chính trị độc đảng, dẫn đến việc tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ công chức trong hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương, các cơ quan, tổ chức kinh tế của Nhà nước diễn ra trong nội bộ và khép kín của đảng Cộng sản.
Những người có tài, có đức nhưng họ không phải là đảng viên đảng Cộng sản, nên họ không có cơ hội được cống hiến tài năng của mình để phục vụ nhân dân và đất nước.
Từ đó phát sinh những đảng viên cơ hội trong chính nội bộ của đảng Cộng sản, nạn con ông, cháu cha, nạn chạy chức, chạy quyền.Suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống bắt nguồn từ đây.
Sự lạc hậu của hệ thống chính trị và sự độc quyền về chính trị cũng làm cho các cán bộ đảng viên có tư tưởng độc đoán, chuyên quyền, tư lợi. Khi họ đã dành được vị trí lãnh đạo thì họ lại đặt lợi ích của bản thân lớn hơn lợi ích của nhân dân.Họ không những tìm mọi cách để duy trì quyền lực mà còn tìm cách thăng tiến không phải bằng tài năng mà bằng tiền bạc.Bán các vị trí chức quyền bên dưới, dùng tiền mua chức cao hơn.Sách nhiễu nhân dân để kiếm tiền, tìm cách tham ô ngân sách.

Sự hậu thuẫn của Đảng góp phần dẫn tới vụ đổ bể của Tập đoàn nhà nước lớn thứ hai là Vinashin.
Trong bài viết của tác giả Bấm Huy Thiêm đăng trên trang web báo Quân đội Nhân dân ngày 9/1 năm 2012 đã thừa nhận những vấn nạn tham nhũng trong các cán bộ, đảng viên đảng Cộng sản:
“Tình trạng liên kết, đồng lõa giữa bộ phận này với bộ phận khác “lách luật”, bẻ cong đường lối, chính sách của đảng để trục lợi (lợi ích nhóm) chính là hình thức tham nhũng tập thể, nếu không có giải pháp hữu hiệu thì con “bạch tuộc” tham nhũng này sẽ còn lan rộng sang nhiều lĩnh vực khác..., các cán bộ, đảng viên đã sa vào 'vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân', tự biến mình thành kẻ phản lại mục tiêu, lý tưởng của đảng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân…"
Sự lạc hậu của hệ thống chính trị tất yếu sẽ dẫn đến nạn chia bè phái và địa phương chủ nghĩa trong nội bộ của đảng Cộng sản. Đây cũng là nguyên nhân gây ra sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức và lối sống của các bộ đảng viên.
Sự lạc hậu của hệ thống chính trị dẫn đến sự thiếu công khai và minh bạch trong mọi vấn đề và mọi lĩnh vực của xã hội.Từ đó mà nẩy sinh ra tiêu cực, tham nhũng và suy thoái về đạo đức và lối sống của các bộ đảng viên diễn ra là điều tất yếu.
Những vấn đề bức xúc của xã hội Việt Nam hiện nay: Sự lạc hậu của thể chế chính trị độc đảng dẫn đến sự suy thoái về đạo đức, lối sống của cán bộ đảng viên đã gây ra những hậu quả vô cùng xấu cho xã hội. Nguyên tổng bí thư đảng Cộng sản Lê Khả Phiêu đã thừa nhận rằng: “Tham nhũng đã trở thành quốc nạn, thành giặc nội xâm của tộc”.
Trong các xã hội dân chủ, tham nhũng chỉ mang tính chất cá biệt. Chúng nhanh chóng bị phát hiện và ngăn chặn bởi các đảng chính trị đối lập, bởi báo chí tự do. Còn ở Việt Nam, tham nhũng diễn ra từ trung ương đến địa phương, diễn ra ở mọi ngành, mọi cấp, mọi lĩnh vực. Những điều mà người dân có thể thấy được hàng ngày khi họ phải chi những khoản tiền phong bì cho các quan chức hành chính để xin các giấy phép kinh doanh, đầu tư, xây dựng, …
Họ phải chi tiền phong bì khi con cái họ đi học, chuyển trường, họ phải cho tiền bác sĩ khi đến các cơ sở y tế của Nhà nước để khám chữa bệnh. Họ phải đút lót khi có người thân bị vướng vào vòng lao lý, khi họ có tranh chấp cần đến sự giải quyết của tòa án. Khi họ đi trên đường giao thông chứng kiến nạn mãi lộ.Còn chuyện chạy chức, chạy quyền, chạy tội thì diễn ra ở những nơi kín đáo, riêng tư nên người dân chỉ có thể biết được khi chúng bị phát hiện và đưa lên báo chí.
Méo mó và ách tắc
Sự lạc hậu và yếu kém của thể chế chính trị độc đảng còn thể hiện rõ nét trong việc xây dựng, kiến trúc đô thị, giao thông. Khi đến thăm những quốc gia dân chủ, văn minh chúng ta có thể thấy ngay bộ mặt kiến trúc đô thị, giao thông của họ theo qui hoạch đẹp đẽ,, hợp lý và thuận tiện cho người dân.
Còn ở Việt Nam, bởi các quan chức chính quyền năng lực yếu kém lại bị suy thoái về tư tưởng và đạo đức nên xây dựng và kiến trúc đô thị không giống nơi nào trên thế giới với những ngôi nhà siêu mỏng, siêu méo, những con đường không hoàn chỉnh với những nút thắt cổ chai tồn tại cả chục năm trời mà không được giải quyết.

Một đảng chân chính không điều hành bằng quân đội, cảnh sát
Xây dựng những con đường giao thông đắt nhất thế giới trong khi nước ta chưa thoát khỏi nghèo. Nạn ách tắc giao thông sảy ra ngày càng nghiêm trọng ở các thành phố lớn.
Sự lạc hậu của thể chế chính trị độc đảng còn tạo ra một đội ngũ các bộ đảng viên yếu kém và thiếu trách nhiệm trong việc quản lý, kiểm tra và giám sát an toàn vệ sinh thực phẩm.
Hàng trăm các mặt hàng thực phẩm, hàng tiêu dùng kém chất lượng, có chứa các chất độc hại cho sức khỏe của nhân dân được nhập khẩu và bày bán công khai trên hè phố, trong các khu thương mại.
Các mặt hàng thực phẩm, hàng tiêu dùng kém chất lượng và độc hại được sản xuất, tiêu thụ trong nước cũng không được kiểm soát và ngăn chặn.Những điều này không chỉ gây tổn hại cho sức khỏe, tính mạng của các thế hệ người Việt Nam hôm nay mà còn ảnh hưởng đến cả các thế hệ mai sau.
Sự lạc hậu của thể chế chính trị với đội ngũ các bộ đảng viên yếu kém về năng lực và phẩm chất đạo đức trong lĩnh vực quản lý, sử dụng và thu hồi quyền sử dụng đất đai đã gây nên hàng trăm nghìn vụ khiếu kiện, khiếu nại trên toàn quốc, làm hàng chục ngàn người dân mất đất đai, nhà cửa phải sống trong điều kiện tồi tệ, tạm bợ, không ổn định, gây bức xúc cho đông đảo nhân dân.
Trên đây tôi chỉ xin nêu một số hậu quả xấu do sự suy thoái tư tưởng, đạo đức và lối sống của các bộ đảng viên đã và đang diễn ra trong xã hội mà bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng có thể chứng kiến trực tiếp hoặc đọc, hoặc xem, hoặc nghe trên các phương tiện truyền thông chính thống của Nhà nước. Những vấn đề bức xúc đang diễn ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội đang gây nên sự thất vọng và phẫn nộ của đa số nhân dân.
Các quan chức Cộng sản tham nhũng và tham quyền nên hiểu một điều: Quyền lực và của cải rồi cũng sẽ mất đi, đó là những thứ không thể mang theo khi qua đời.
Chỉ có một thứ mà quí vị để lại đó là tiếng xấu cho muôn đời con cháu và một thứ mà quí vị mang theo đó là tội ác để chịu sự phán xét cuối cùng của Thượng Đế.
Vậy giải pháp nào cho đảng Cộng sản Việt Nam tự chỉnh đốn mình?
Công khai và dân chủ
Theo quan điểm của tôi, chỉ có một giải pháp duy nhất cho đảng Cộng sản Việt Nam đó là: “Công khai hóa và dân chủ hóa”. Đảng Cộng sản Việt Nam cần tiến hành đồng thời cả hai:
Thứ nhất là công khai hóa gồm:
Các cán bộ, đảng viên có chức, có quyền từ trung ương đến địa phương phải tiến hành kê khai tài sản và thu nhập hàng năm của bản thân và các thành viên trong gia đình cho toàn dân được biết. Việc kê khai tài sản và thu nhập nếu chỉ diễn ra trong nội bộ mà không công khai cho nhân dân biết thì điều này chẳng có ý nghĩa gì. Nhân dân là chủ nhân của đất nước, nhưng không biết được tài sản và thu nhập của những “người đầy tớ” thì thật đáng mỉa mai.
Công khai hóa thông tin trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng, ngoại giao mà không thuộc bí mật quốc gia.
Thứ hai là dân chủ hóa: Đảng Cộng sản phải tiến hành song song dân chủ hóa trong nội bộ của đảng và dân chủ hóa xã hội.
Dân chủ hóa trong đảng Cộng sản: Đảng Cộng sản nên cho phép các đảng viên của mình được tự ứng cử và bầu cử trực tiếp các chức danh lãnh đạo cấp ủy từ trung ương đến địa phương. Cần có sự cạnh tranh tự do và công bằng cách chức danh lãnh đạo của đảng Cộng sản trong các kỳ đại hội của mình.
http://wscdn.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2012/01/12/120112101209_flower_304x171_flower_nocredit.jpg
Xuân về LS Đài chúc mọi đảng viên Cộng sản mạnh khoẻ, có dũng khí để tự chính đốn và dân chủ hóa
Những đảng viên cơ hội, yếu kém năng lực sẽ bị loại bỏ, từ đó tạo nên động lực và sức sống cho chính đảng Cộng sản.
Dân chủ hóa xã hội: Có hai yếu tố cấu thành bắt buộc phải có trong một xã hội dân chủ mà đảng Cộng sản Việt Nam phải chấp nhận đó là:
Yếu tố thứ nhất là tự do báo chí hay báo chí độc lập tức là đảng Cộng sản phải chấp nhận quyền làm báo chí tư nhân của công dân. Đây là quyền con người về chính trị đã được Hiến pháp Việt Nam năm 1992 ghi nhận. Báo chí là một thực thể quyền lực, hoạt động độc lập với chính quyền, thay mặt nhân dân để giám sát và phản ánh mọi hoạt động bình thường cũng như bất thường của chính quyền.
Báo chí thông tin đến người dân tất cả các vấn đề về kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh quốc phòng, ngoại giao, … Một quốc gia không thể tối đa hóa sự ổn định chính trị, tốc độ tăng trưởng kinh tế và dân chủ nếu không có sự tự do báo chí và lan truyền thông tin. Chính phủ không được phép can thiệp vào các hoạt động bình thường của báo chí.
Yếu tố thứ hai là sự ra đời và hoạt động hợp pháp của các tổ chức, đảng phái chính trị khác nhau trong xã hội.Đảng Cộng sản Việt Nam phải thừa nhận và công nhận sự ra đời và hoạt động của các tổ chức, đảng phái chính trị khác một cách bình đẳng.Bởi đó là quyền Hiến định mà mỗi công dân Việt Nam đều được hưởng ngang nhau.Đảng Cộng sản không nên coi các tổ chức, đảng phái chính trị khác là thế lực thù địch, phản động.Mà phải coi họ là đối tác để vừa đấu tranh vừa hợp tác với nhau vì lợi cuối cùng và cao nhất của đất nước và dân tộc.
Trong một xã hội dân chủ, cuộc đấu tranh giữa các đảng phái chính trị không phải là một cuộc chiến sinh tử mà là một cuộc cạnh tranh để phục vụ nhân dân.Đảng Cộng sản nên coi các tổ chức, đảng phái khác là động lực để đảng Cộng sản tiến hành tự dân chủ trong đảng một cách mạnh mẽ, hoàn thiện chính mình để nhận được sự ủng hộ của nhân dân.
Một đảng chính trị chân chính là một đảng phải có đội ngũ đảng viên có đạo đức, có năng lực và trách nhiệm với nhân dân và Tổ quốc. Một đảng được gọi “ đảng là đạo đức, là trí tuệ, là văn minh” là một đảng dám chấp nhận sự cạnh tranh tự do và công bằng thông qua cuộc bầu cử dân chủ đa đảng. Và đảng đó sẽ dành được đa số phiếu của nhân dân, dành được quyền lãnh đạo bằng uy tín và năng lực của mình.
Một đảng chân chính không bao giờ bảo vệ quyền lãnh đạo của mình bằng quân đội, cảnh sát và nhà tù. Một đảng chân chính không bao giờ duy trì quyền lãnh đạo của mình bằng việc cấm các đảng chính trị khác ra đời và hoạt động.
Một mùa Xuân mới đang về, cũng là lúc đảng Cộng sản Việt Nam tròn 82 tuổi, tôi chúc toàn thể đảng viên đảng Cộng sản mạnh khỏe, có đủ niềm tin và dũng khí để tự chỉnh đốn mình bằng cách tiến hành công khai hóa, dân chủ hóa trong đảng và dân chủ hóa xã hội đáp ứng khát vọng tự do dân chủ của cả dân tộc Việt Nam.
(Hà Nội, ngày 12 tháng 1 năm 2012)

2012 Nguyễn Hiến Lê

Nguyễn Hiến Lê và Không Khí của Văn Hóa VNCH

Cập nhật: 02:27 GMT - thứ tư, 18 tháng 1, 2012

Nguyễn Hiến Lê
Nguyễn Hiến Lê là một trong những học giả nổi tiếng nhất của Việt Nam thế kỷ 20
Ngày 8 tháng Giêng năm nay đánh dấu ngày sinh nhật 100 năm của Nguyễn Hiến Lê (1912-1984), học giả nổi tiếng của thế kỷ 20.
Với khoảng 100 tác phẩm phát hành trong thời chiến, cụ Nguyễn Hiến Lê có thể là tác giả viết nhiều, in nhiều, và được đọc nhiều nhất trong thời kỳ 1950-1975 ở miền Nam. Lại có khoảng 20 bản thảo của cụ được in sau ngày thống nhất quốc gia, phần lớn là sau khi cụ qua đời. Nhiều tác phẩm cũ của cụ cũng được phát hành lại từ cuối thập niên 1980 tới nay. Mặc dù đã quá cố gần 30 năm, ảnh hưởng của cụ còn khá lớn lao.
Nhưng con số tác phẩm chỉ là một khía cạnh của Nguyễn Hiến Lê. Một khía cạnh khác là cụ viết rất nhiều thể loại: ngôn ngữ, văn chương, lịch sử, địa lý, giáo dục, du ký, tiểu sử, và sách “học làm người”. Đối với chúng ta, hậu duệ của cụ lớn lên trong văn hóa nặng chuyên môn, điều này nghe khá đặc biệt. Nhưng nó không lạ lùng với thế hệ trí thức của cụ Lê.
Họ là thế hệ trưởng thành trong hai thập niên cuối thời thuộc địa, cũng chuyên môn nhưng rộng rãi hơn về đọc, viết, và suy tưởng. Họ lớn lên và hấp thụ không khí văn hóa thành thị sôi nổi như nhóm Tự Lực Văn Đoàn và báo Phụ Nữ Tân Văn trong thập niên ba mươi, hay các nhóm Thanh Nghị, Tri Tân, và Hàn Thuyên trong thập niên bốn mươi. Đây là thời điểm rất nhiều bàn cãi và tranh luận trong nhiều lãnh vực về đường hướng và tương lai Việt Nam. Bầu không khí có nhiều lúc gây cấn, nhưng không eo hẹp hạn chế, mà ngược lại mở mang nhãn quan về xã hội, cá nhân, và đời sống hiện đại.
Rồi họ viết báo in sách trong những năm cuối thập niên bốn mươi và đầu thập niên năm mươi. Thời điểm này nổi bật nhất là cuộc kháng chiến chống Pháp và hình thành hai chế độ Nam Bắc: quân sự và chính trị. Còn văn học, nghệ thuật, và văn hóa thường bị đặt phía dưới. Nhưng thời điểm này có một số người làm văn hóa, nhất là tại Sài Gòn, bắt đầu gây dựng sinh lực mới về văn hóa và xã hội, tiếp nối phát triển của văn hóa tiền chiến.
"Cụ đọc nhiều về chủ nghĩa cộng sản và biết không thể chấp nhận nó được. Nhưng vì tình cảm với một số bạn bè kháng chiến chống Pháp cũng như sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trong miền Nam, cụ nghĩ là chế độ Hà Nội sẽ không tệ sau thống nhất: một ý tưởng cụ hối hận sau này."
Họ là những người đã có tiếng tại Hà Nội nhưng vào Nam trong thời kỳ 1945-1954 như Nguyễn Vỹ và Lê Văn Siêu. Họ cũng là người gốc miền Nam và luôn sống trong Nam như Nguyễn Duy Cần và Phạm Văn Tươi. Hòa hợp Nam Bắc thời kỳ này rất ư quan trọng và làm đường cho phát triển văn hóa miền Nam sau 1954.
Về Nguyễn Hiến Lê, thời điểm này quan trọng vì cụ gặp được Ngô Trọng Hiếu và Phạm Văn Tươi. Cụ Hiếu, một nhân vật chính trị trong chính quyền VNCH sau này, trợ giúp tiền bạc in quyển sách đầu tay của cụ Lê tại Long Xuyên. Rồi quyển sách dẫn tác giả đến cụ Tươi trên Sài Gòn. Dưới sự điều khiển của cụ Tươi, một loạt sách nhãn hiệu “học làm người” được phát hành qua những tay viết khá mới mẻ, nhất là Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Xuân Việt, Nguyễn Duy Cần, và Phạm Cao Tùng. (Phạm Cao Tùng không phải ai xa lạ, mà là bút danh của Phạm Văn Tươi.) Mặc dù cụ Lê chỉ hợp tác với nhà xuất bản Phạm Văn Tươi vài năm, cụ luôn ngưỡng mộ và mang ơn sự chăm chút của cụ Tươi, một người tiên phong mở mang văn hóa miền Nam trong thời kỳ chuyển tiếp thuộc địa qua độc lập.
Còn về cụ Lê, thành công về sách giáo khoa và học làm người giúp cụ độc lập về tài chánh cũng như nghề nghiệp. Nhưng cụ cũng cần một bàn tựa văn hóa, và cụ kiếm được nó khi hợp tác với tạp chí Bách Khoa, sáng lập và lãnh đạo bởi Huỳnh Văn Lang rồi sau đó Lê Ngộ Châu. Đây là một trong những hợp tác lâu dài và thành công nhất của lịch sử báo chí Việt Nam thế kỷ hai mươi. Chi tiết về Bách Khoa vẫn cần được tìm hiểu thêm. Nhưng một điều chúng ta có thể khẳng định, là nó hỗ trợ cho tính tình độc lập và ham muốn tìm hiểu của cụ qua gần 20 năm.
"Điểm cuối cùng đáng được nhấn mạnh, không phải chỉ vì cụ Lê sẽ mất hết độc lập nếu sống ở miền Bắc. Mà là vì môi trường văn hóa cũng như pháp luật VNCH, dù hạn chế, vẫn tạo nhiều cơ hội cho tầng lớp trí thức phát triển và phổ biến tư tưởng. "
Nhìn lại Nguyễn Hiến Lê, chúng ta thấy cụ có nhiều tương phản. Cụ là người lớn lên trong miền Bắc, nhưng yêu quý miền Nam và lấy hai người vợ đều người Nam. Cụ viết về nhiều nơi nhiều nước khắp hoàn cầu, nhưng cả đời chỉ đi ra ngoài Việt Nam một hay hai lần. (Ngay cả trong nước, sau 1950 cụ ít ra ngoài Sài Gòn và Long Xuyên.) Cụ đọc nhiều về chủ nghĩa cộng sản và biết không thể chấp nhận nó được. Nhưng vì tình cảm với một số bạn bè kháng chiến chống Pháp cũng như sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trong miền Nam, cụ nghĩ là chế độ Hà Nội sẽ không tệ sau thống nhất: một ý tưởng cụ hối hận sau này. Cụ không thích chính phủ Sài Gòn lắm, nhưng cụ không thể nghiên cứu và phổ biến nếu không có nền văn hóa tương đối tự do của chế độ này.
Điểm cuối cùng đáng được nhấn mạnh, không phải chỉ vì cụ Lê sẽ mất hết độc lập nếu sống ở miền Bắc. Mà là vì môi trường văn hóa cũng như pháp luật VNCH, dù hạn chế, vẫn tạo nhiều cơ hội cho tầng lớp trí thức phát triển và phổ biến tư tưởng. Một thí dụ là học hỏi hàm thụ. Cụ Lê rất chăm học hàm thụ trong thập niên bốn mươi và năm mươi, và dùng nhiều tài liệu hàm thụ khi viết lúc này. Một phần là vì sở thích của cụ. Nhưng cũng một phần vì chế độ Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, và Nguyễn Văn Thiệu cho phép thư từ và bài vở qua lại dễ dàng giữa Sài Gòn và Paris.
Một thí dụ khác là sự thành hình và phát triển các nhóm văn chương, nghệ thuật, và văn học, thường thường là bên một tạp chí. Bên trên chúng ta có nhắc tạp chí Bách Khoa. Nhưng còn nhiều tạp chí với những nhóm khác, như Phổ Thông của Nguyễn Vỹ, Thời Nay của Nguyễn Văn Thái, hay Văn dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Đình Vượng, Trần Phong Giao, và Mai Thảo. Những tạp chí và bè nhóm vừa tạo nên và vừa phản ảnh văn hóa đa dạng thành thị bấy giờ.
Vì những lý do trên, khi kỷ niệm sinh nhật 100 năm ngày sinh Nguyễn Hiến Lê, chúng ta cũng nên tưởng niệm môi trường phong phú văn hóa thời VNCH. Không có nó, cụ Lê đã khó mà thành công trên con đường văn hóa cụ đi.
Tác giả Hoàng Anh Tuấn dạy sử Hoa Kỳ và Á Châu bán thời gian tại Palm Desert Campus của California State University, San Bernardino, và nghiên cứu về văn hóa thành thị thời VNCH cũng như lịch sử người Việt tị nạn và di dân qua Hoa Kỳ sau 1975

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012

2012 Nguyễn Trọng Vĩnh= Ôn cũ để biết mới

 

 



Ôn cũ để biết mới Nguyễn Trọng Vĩnh, 96 tuổi đời, 73 tuổi Đảng *

Những chủ trương và việc làm ngược với nguyện vọng của dân, không phù hợp với lợi ích của đất nước làm cho dân mất tin tưởng vào Chính phủ, vào lãnh đạo là tất yếu. Tình hình này sẽ đưa đất nước đi đến đâu?
Từ khi thực dân Pháp xâm lược, thống trị nước ta, dân ta sống cuộc đời nô lệ, lầm than. Đảng Cộng sản ra đời đi vào dân, tuyên truyền, giác ngộ, tổ chức dân nhằm mục đích phá xiềng nô lệ, giành lại độc lập tự do. Có những lúc phong trào chưa rộng khắp và chưa đúng thời cơ nên các cuộc nổi dậy đã thất bại. Đảng lại gượng dậy, tuyên truyền, tổ chức dân, dân vẫn theo sự lãnh đạo của Đảng.
Những năm 1936 – 1937, tại chính quốc, “Mặt trận bình dân” do Đảng Xã hội Pháp lên cầm quyền, không khí thuộc địa bớt nghẹt thở. Đảng chủ trương thành lập “Mặt trận dân chủ Đông Dương”, tổ chức các hội đoàn ở thành thị và nông thôn (chủ yếu là “Hội Ái hữu”), đưa ra khẩu hiệu đòi tự do dân chủ, dân sinh, đòi tăng lương, ngày làm 8 giờ, bỏ cúp, phạt cho công nhân, giảm thuế cho nông dân. Nhân dân hưởng ứng, phong trào được mở rộng.
Năm 1939, Chính phủ Bình dân ở Pháp đổ, phái hữu lên cầm quyền lại bắt đầu khủng bố, đàn áp phong trào, lạnh lùng bắt Cộng sản. Đảng rút vào hoạt động bí mật, đề ra chủ trương lập “Mặt trận nhân dân phản đế”, hướng tới giải phóng dân tộc. Đảng vẫn bám dân, tuyên truyền vận động, bất chấp bắt bớ tù đày. Dân vẫn theo Đảng, ủng hộ, che giấu đảng viên hoạt động, cơ sở Cách mạng được giữ vững, phong trào tạm lắng xuống. Đến khi đồng chí Nguyễn Ái Quốc về nước, thành lập “Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh” gọi tắt là Việt Minh, phong trào mở rộng ra khắp cả nước tạo nên lực lượng to lớn đồng loạt nổi dậy làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám thành công.
Điểm lại quá trình trên đây để thấy rằng: dưới chế độ thực dân thống trị hà khắc, chỉ có đàn áp, khủng bố, Đảng Cộng sản không có chút quyền hành nào, không thể ra lệnh được cho ai mà vẫn làm lãnh đạo được dân, được dân tin tưởng. Được thế là vì chủ trương của Đảng đưa ra hợp với nguyện vọng của dân và từ lãnh đạo đến đảng viên một lòng vì dân vì nước, sẵn sàng hi sinh, không chút vụ lợi cá nhân nào.
Cách mạng tháng Tám thành công, Chính phủ lâm thời được thành lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu và đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Lúc đó lực lượng vũ trang còn ít ỏi, tản mát ở cá địa phương, tiền chỉ có hơn 1 triệu đồng, nạn đói chưa chấm dứt, đê sông Hồng bị vỡ. Mọi chi tiêu của Chính phủ đều nhờ sự ủng hộ của các nhà hảo tâm yêu nước. Tình hình rất khó khăn. Trung ương chủ trương mở “Tuần lễ vàng”, Hồ Chủ tịch kêu gọi nhân dân ủng hộ để lấy tiền mua sắm vũ khí giữ nước và đáp ứng chi tiêu của Nhà nước, nhân dân hăng hái quyên góp, những nhà giàu như các ông Trịnh Văn Bô, Nguyễn Văn Đước, Nguyễn Thị Năm, v.v. ủng hộ hàng trăm lạng vàng, người trung bình tháo vòng xuyến, khuyên tai ủng hộ, người có chiếc nhẫn, thậm chí tháo răng vàng đóng góp.
Tiếp đó 20 vạn quân Tàu do tướng Lư Hán và Tiêu Văn kéo vào rải rác đến vĩ tuyến 16, danh nghĩa là để giải giáp quân đội Nhật đã đầu hàng “Đồng minh”, mang theo cả chỉ thị của Tưởng Giới Thạch “diệt cộng cầm Hồ” (diệt cộng sản, bắt Hồ Chí Minh). Bọn Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mạng đồng minh hội thân Tàu, thành lập từ Trung Quốc cũng vào theo hòng mượn oai quan thầy giành lại chính quyền từ tay Việt Minh. Tình thế Chính phủ ta bấy giờ như “ngàn cân treo sợi tóc”. Các đảng viên và hội viên Việt Minh tích cực phân công nhau tỏa vào nhân dân thông báo tình hình, vận động quần chúng biểu tình ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh. Thế là nhân dân Hà Nội và dân các tỉnh xung quanh kéo vào trung tâm thủ đô đến 50 vạn người biểu tình tuần hành, hô vang khẩu hiệu “ủng hộ Việt Minh”, “ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh” ngày ngày qua ngày khác. Khí thế hừng hực, sức mạnh của 50 vạn dân đã vô hiệu hóa ý đồ của bọn Lư Hán, Tiêu Văn và bọn Việt quốc, Việt cách. Chính cuộc biểu tình yêu nước vĩ đại cùng với tài ngoại giao của Bác Hồ đã giúp Chính phủ cụ Hồ của chúng ta thoát khỏi hiểm nghèo và đứng vững.
Thế mà biểu tình yêu nước ngày nay lại bị đàn áp.
Quá trình vận động cách mạng cho đến khi giành được chính quyền cho thấy mối quan hệ giữa Đảng với dân, giữa dân với Đảng, phải khăng khít như một. Dân không có sự lãnh đạo của Đảng thì chỉ là đám đông đảo rời rạc, không thành sức mạnh, dân phải được Đảng tuyên truyền, giác ngộ tập hợp thành tổ chức phát động lên mới thành sức mạnh; Đảng không có dân thì cũng không có sức mạnh nào, cũng không thể làm nên sự nghiệp gì.
Thực tiễn đã chứng minh như vậy, không ai phủ nhận được.
Khi Đảng đưa ra chủ trương hợp với nguyện vọng của dân thì dân nhiệt liệt hưởng ứng và tự giác làm theo.
Pháp và Trung Hoa dân quốc ký thỏa thuận với nhau, Đảng và Hồ Chủ tịch chủ trương nhân nhượng cho Pháp đưa 1.500 quân ra Bắc thay quân Tàu, để đuổi quân Tàu rút nhanh khỏi nước ta, bớt đi một kẻ thù. Sau khi quân Tàu Tưởng rút đi, thực dân Pháp gây hấn, đem quân viễn chinh sang hòng cướp nước ta một lần nữa. Đảng chủ trương quyết đánh Pháp giữ vững độc lập tự do, ngày 19/12/1946 Hồ Chủ tịch kêu gọi toàn dân kháng chiến, trong lời kêu gọi của Người có câu: “Chúng ta thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Toàn dân một lòng theo Đảng: nam nữ Thủ đô “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, trai tráng cả nước nô nức tình nguyện đi bộ đội chiến đấu, nông dân hăng hái đóng thóc nuôi quân, trung niên, thanh nữ tầng tầng lớp lớp đi tiếp lương, tải đạn phục vụ chiến trường… Qua 9 năm gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch, quân dân ta đã đánh thắng thực dân Pháp, giải phóng hoàn toàn miền Bắc.
Sau thắng Pháp, Đảng chủ trương “xây dựng miền Bắc, giải phóng miền Nam”… Dân vẫn theo sự lãnh đạo của Đảng vừa tích cực khôi phục kinh tế, củng cố miền Bắc vừa tiếp tục cùng đồng bào miền Nam chiến đấu. Khi đế quốc Mỹ đổ quân vào với khối lượng vũ khí phương tiện hiện đại to lớn, chiến tranh vô cùng ác liệt, qua chặng đường dài mưa bom, bão đạn tàn khốc, cuối cùng dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân dân ta đã thực hiện được mục tiêu “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, Bắc Nam sum họp một nhà.
Trong thời kỳ hoạt động bí mật, dưới sự thống trị của thực dân Pháp và qua hai cuộc kháng chiến thắng lợi cho thấy: “Chỉ cần chủ trương của Đảng hợp với nguyện vọng của dân thì dân tin theo, Đảng vẫn lãnh đạo được dân, không cần phải có uy quyền, cũng không cần phải có điều 4 ghi trong Hiến pháp”.
Khi thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta, chúng có đủ tàu chiến, máy bay, xe tăng, đại bác, ban đầu ta chỉ có gậy tầm vông và vũ khí bộ binh ít ỏi; đế quốc Mỹ có 50 vạn quân, không kể quân chính quyền, quân ngụy, tàu chiến, máy bay, xe tăng, vũ khí phương tiện hiện đại hơn ta rất nhiều lần. Cuối cùng cả Pháp và Mỹ đều chịu thất bại. Điều đó chứng thực rằng chỉ có ưu thế tuyệt đối về vũ khí và phương tiện chiến tranh không thôi, cũng không quyết định được chiến thắng. Bá quyền nước lớn Trung Quốc, có lực lượng hải quân hơn ta tuyệt đối, bắt nạt ta, đe dọa ta, ta không việc gì phải sợ.
Đáng tiếc, sau khi giải phóng miền Nam, chủ trương cải tạo công thương nghiệp triệt tiêu mất tính năng động của một vùng kinh tế, ở miền Bắc thì chậm xóa bỏ bao cấp, vẫn giữ hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ “bình công chấm điểm”, kìm hãm sản xuất cho nên có một thời gian kinh tế tiêu điều, đời sống khó khăn. Đó cũng là vì “không hợp nguyện vọng của dân”. Năm 1981, Trung ương ra “Chỉ thị 100”, nông dân được tự do sản xuất trên ruộng đất của mình, lương thực, thực phẩm tăng, đời sống bớt khó khăn. Đến năm 1986, Đảng ta đổi mới tư duy, xóa bỏ bao cấp, xóa bỏ hợp tác xã nông nghiệp kiểu cũ, mở rộng nhiều thành phần kinh tế. Nhờ đó kinh tế có phát triển, đời sống khá hơn và cũng nhờ đó khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ Việt Nam ta vẫn đứng vững.
Nhưng đang tiếc là từ 10 năm lại đây, tiêu cực ngày càng phát triển, đã có nhiều việc làm và chủ trương không như mong muốn của dân.
Phá hội trường Ba Đình, di tích lịch sử quan trọng nhất của nước ta, không phải là nguyện vọng của dân.
Ký cho Trung Quốc khai thác bôxít Tây Nguyên, chiếm lĩnh cao điểm chiến lược quan trọng của Đông Dương, phá hoại môi trường, di họa bùn đỏ cho hàng triệu đồng bào, mất không tài nguyên mà chẳng được lợi lộc gì, có khi còn lỗ vốn, không phải là nguyện vọng của dân.
Mở rộng thủ đô quá lớn, sáp nhập cả một tỉnh nông nghiệp, không phải là nguyện vọng của dân.
Bán (cho thuê 50 năm) rừng đầu nguồn, biên giới, không phải là nguyện vọng của dân.
Thu hồi bờ xôi ruộng mật của nông dân, làm giàu cho các kẻ đầu tư địa ốc, nông dân thất nghiệp, không phải là nguyện vọng của dân.
Phát triển đô thị quá mức, xây nhà cao tầng, tràn lan thừa ế mà công nhân và người thu nhập thấp không thể mua được nhà ở, không phải là nguyện vọng của dân.
Nước ta hẹp mà phát triển 120 sân gôn, phục vụ cho một số người giàu, mất bao nhiêu là đất, không phải là nguyện vọng của dân.
Cho các công ty Trung Quốc trúng thầu hàng loạt công trình, đưa vào máy móc thiết bị cũ, kỹ thuật lạc hậu, tự do đưa vào hàng vạn lao động phổ thông (phần nhiều là lính phục viên) rải khắp nơi (là thủ đoạn di dân) nguy hiểm cho an ninh quốc phòng, không phải là nguyện vọng của dân.
Học phí tăng cao, viện phí tăng cao mà bệnh nhân 2, 3 người nằm 1 giường, giá cả nhiều thứ tăng vọt, không phải là nguyện vọng của dân.
Các tập đoàn kinh tế nhà nước được rót vốn rất lớn mà đa số thua lỗ, thất thoát hàng nghìn tỉ, các ngân hàng có nợ khó đòi cũng thất thoát hàng nghìn tỉ, nợ nước ngoài chồng chất mà hiệu quả kinh tế không nhiều… trách nhiệm quản lý điều hành thuộc về ai?
Những chủ trương và việc làm ngược với nguyện vọng của dân, không phù hợp với lợi ích của đất nước làm cho dân mất tin tưởng vào Chính phủ, vào lãnh đạo là tất yếu. Tình hình này sẽ đưa đất nước đi đến đâu?
Thêm vào đó còn nhiều điều gây bức xúc nữa.
- Mất dân chủ. Dân không dám nói sự thật, không được biết sự thật, báo chí lề phải không được thông tin tự do, không được bình luận trái với chủ trương của Chính phủ, của lãnh đạo, hàng nghìn ý kiến can ngăn việc làm và chủ trương sai trái không được tiếp thu, hàng chục kiến nghị có tính xây dựng không được xem xét, dân không được ứng cử tự do theo Hiến pháp. Các chức danh đưa ra để bầu thì đã được định trước, bỏ phiếu chỉ là hình thức, hơn nữa chỉ độc diễn thì làm gì có lựa chọn, v.v.
- Trung Quốc mồm thì nói hữu nghị, nhưng làm biết bao nhiêu việc trái lại, thiệt hại cho ta, mà lãnh đạo nín nhịn mãi, lấn biển, cướp đảo, bắt, bắn ngư dân, đâm chìm, bắt tàu cá, gây hấn, hoành hành ngang ngược, dân không được đấu tranh yêu nước, biểu tình thì bị đàn áp.
- Giá cả mọi thứ tăng cao, con cá, lá rau cũng đắt gấp 2, 3 lần; đời sống người nghèo, người có thu nhập thấp, khốn khổ hết chịu nổi, người thu nhập trung bình cũng phải thắt lưng buộc bụng. Người nắm quyền thì nhà to đất rộng, trang trại dinh thự, mà công nhân không có nhà ở, người nghèo kiếm được căn ổ chuột cũng khó.
Nếu bức xúc tích lũy kéo dài, người dân bị dồn nén quá ngưỡng, liệu đến lúc nào đó có “tức nước vỡ bờ” không?
Thực trạng trên đây đòi hỏi có sự cải cách quyết liệt thì mới đưa đất nước tiến lên được.
1 – Phải thật tâm chỉnh đốn Đảng, trước hết là bộ phận nắm quyền từ dưới lên trên, , đặc biệt quan trọng là bộ phận nắm quyền cao nhất, để có bộ phận chủ chốt trong sạch, dùng chức quyền lo cho dân cho nước thay vì lo làm giàu cho cá nhân, gia đình, họ hàng, thân thuộc. Cần thay đổi, điều chỉnh để những vị trí quan trọng phải do những người thực sự có tâm huyết, có thực tài đảm nhiệm; ai trót có sai phạm thì nên tự xét, hồi tâm chuyển ý, rũ bỏ lợi ích nhóm, lợi ích cá nhân, sửa mình, làm tốt bất cứ nhiệm vụ gì đảm nhiệm.
Bộ phận nắm quyền chủ chốt phải nhìn thẳng vào sự thật, đồng hành với dân, khiêm tốn, không biểu thị uy quyền, không cho mình là giỏi nhất, đúng nhất, phát huy bản tính tự lực, tự cường, tinh thần độc lập tự chủ, hết lòng lo cho đời sống và phúc lợi của dân, cho sự giàu mạnh của Tổ quốc. Chính phủ chân chính, dân chủ, chí công vô tư thì không bao giờ xảy ra “hoa nhài, hoa sói…”, không phải đề phòng đối với dân.
2 – Thực hiện dân chủ, có tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lập hội, tự do biểu tình như Hiến pháp đã ghi để lấy lại lòng tin của dân, tạo không khí hồ hởi chung tay xây dựng, phát triển đất nước. Dân và báo chí được nói thẳng nói thật, lãnh đạo không ngại phân biệt công khai, nghe nhiều, cấm ít, từ đó chắt lọc lấy kế hay ý tốt, kịp thời sửa chữa chủ trương, chính sách không phù hợp, thực sự cầu thị thì mới tiến lên được. Độc đoán chuyên quyền chỉ là đi vào ngõ cụt.
3 – Trọng dụng nhân tài. Trong nước ta cũng có nhiều chuyên gia kinh tế giỏi, trí thức có chân tài, thực học, trong kiều bào không thiếu những trí thức ưu tú có tâm huyết với Tổ quốc. Cần trân trọng và trọng dụng họ để họ đóng góp cho công cuộc phát triển, quản lý đất nước; có những phòng thí nghiệm chuẩn để trí thức nghiên cứu, phát minh sáng chế góp phần vào sự nghiệp hiện đại hóa đất nước.
4 – Thực hiện đúng chính sách ngoại giao mà Đảng và Nhà nước đã đề ra. Hợp tác hữu nghị với Trung Quốc đồng thời cũng hợp tác hữu nghị với các nước lớn khác. Các nước làm ăn với nước ta phải tôn trọng chủ quyền của nước ta, tuân thủ luật pháp của nước ta, Trung Quốc cũng vậy. Hợp tác cũng có đấu tranh. Ta không chủ trương đối đầu quân sự với Trung Quốc, nhưng ta phải đấu tranh công khai với Trung Quốc để bảo vệ chủ quyền biển đảo của ta. Những cứ liệu lịch sử và pháp lý của ta, ta cần tuyên truyền rộng rãi ra thế giới, trong dân ta với cả nhân dân Trung Quốc, để rõ chính nghĩa thuộc về ta. Trong làm ăn kinh tế cần phấn đấu để thoát ra khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc. Cần dừng ngay dự án bôxít Tây Nguyên, vô cùng nguy hiểm và thiệt hại cho nước ta. Trong thế cô lập trước thế giới hiện nay cũng như trong nội bộ Trung Quốc đầy rẫy mâu thuẫn dễ bùng nổ đương tồn tại, Trung Quốc chưa dám tùy tiện đánh ta dù hung hăng đe dọa. Chúng ta cũng cần tăng cường thích đáng lực lượng hải quân của mình phòng khi vạn bất đắc dĩ phải nghênh chiến theo tinh thần và truyền thống “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn” của nhân dân ta. Thực tiễn đã chứng minh chỉ có ưu thế về vũ khí và phương tiện chiến tranh hiện đại không thôi, vẫn thất bại.
5 – Gắn bó với dân, xóa bỏi mọi thành kiến, thực hiện đại đoàn kết dân tộc, huy động mọi tiềm năng và trí tuệ của đồng bào trong, ngoài nước chung tay thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.
N. T. V.