Thứ Tư, 17 tháng 9, 2014

2014 Úc= sự xung đột giữa các thế hệ VN

Người Việt hải ngoại và sự xung đột giữa các thế hệ Cập nhật lúc 05-09-2014 11:58:51 (GMT+1)  
“Dù yêu Việt Nam đến mấy, chúng ta cũng sẽ không thể ngược dòng thời gian. Hãy chấp nhận sự thật - chúng ta có cố gắng đến đâu chăng nữa thì cũng không bao giờ giữ được thế hệ con cháu chúng ta thuần Việt, vì chúng ta đã lựa chọn nơi này là quê hương. Hạnh phúc gia đình phải là hạnh phúc do chúng lựa chọn”.
 “Dad, that should be in the recycle bin!”  “Mum, please knock on the door before you come in!”  “Why are you talking about my study result all the time?”  “Grandma, please do not spit on the road!”  

Những câu nói trên tương đối quen thuộc và phản ánh rõ ràng sự khác biệt dẫn đến xung đột giữa các thế hệ người Việt ở hải ngoại.  Đề tài về sự xung đột giữa các thế hệ chả có gì là mới, nhưng với thế hệ người Việt hải ngoại thì quả là phức tạp, vì nhiều gia đình không chỉ có hai thế hệ mà có tới ba thế hệ chung sống (*). Trong không gian hẹp của một gia đình, mỗi thế hệ phải tương tác và nhiều khi phải đấu tranh với nhau để tìm chỗ đứng cho chính mình.  Người Việt chúng ta ra đi với hành trang gì? Kinh nghiệm sống ở một đất nước chiến tranh triền miên, hết chiến tranh thì đến thời bao cấp nghèo nàn lạc hậu, hậu bao cấp có được bát cơm đầy để ăn thì lại đói nghèo hơn về văn hóa khi xã hội phải đánh đổi nhiều giá trị nhân bản để có được bát cơm đầy đó. Trong hành trình đi tìm cuộc sống tự do ở nước ngoài, chúng ta hình như vẫn luôn mang theo những gia tài bất đắc dĩ ấy. Mặc dù trong quá trình hội nhập với cuộc sống mới, chúng ta đã không ngừng phấn đấu, nhưng ít người trong chúng ta có thể xóa hẳn những nếp hằn quá khứ trong vỏ não. 

 Trái lại, con em chúng ta được sinh ra và lớn lên trong một xã hội lấy quyền tự do cá nhân là căn bản, ranh giới giữa quyền lợi và nghĩa vụ được phân chia rạch ròi, và nhất ở những nước có luật pháp văn minh như nước Úc. Trong hầu hết tất cả các đề tài nói chuyện, có lẽ chỉ trừ chuyện bếp núc, thì đề tài nào cũng có thể gây xung đột. Mà ngay cả chuyện bếp núc, tôi đã nghe một em, bạn của con trai tôi, tâm sự rằng nó không hiểu sao mẹ ngày nào cũng đứng bếp nấu món ăn Việt Nam rất mất thời gian, rồi sau đó lại kêu đau lưng. Sao không làm bánh mỳ kẹp (sandwich) cho nó nhanh, tiếp kiệm thời gian?  Con em chúng ta trong nhiều trường hợp, rất khó chịu trước cách xử sự và quan niệm về bổn phận và quyền lợi của cha mẹ đối với xã hội. Xả rác bừa bãi hoặc không chia rác theo đúng loại, hủy hoại môi trường - rửa thùng sơn không đúng qui định, xem thường trật tự công cộng - đỗ xe không đúng nơi qui định, lợi dụng các lỗ hở luật pháp để trốn tránh thuế, chính trị cực đoan, v.v... đều là những điều hoàn toàn trái ngược những gì các em học hỏi được từ nhà trường.  Với các bậc cha mẹ có công việc ổn định và có các các mối quan hệ khăng khít với xã hội thì phần đông hành xử tương đối giống người bản xứ, nên hình như xung đột có ít hơn. Có chăng chỉ là những xung đột bình thường giữa các thế hệ. 
Nhưng với những bố mẹ mà thói quen Việt Nam đã mọc rễ trong mình thì những xung đột này liên tục xảy ra, vì bố mẹ thấy không cần thay đổi hoặc cố chấp, hoặc vì trình độ có hạn, không hiểu tới vấn đề.  Thế hệ trẻ thương yêu cha mẹ chịu khó tìm hiểu văn hóa và bối cảnh sống ở Việt Nam để có thể thông cảm với cha mẹ, nhưng số này không nhiều vì tuổi các em con trẻ nên khó mà có cái nhìn kinh nghiệm, bao dung và độ lượng. Phần đông cố gắng làm ngơ, nhưng cũng không ít em coi thường bố mẹ.  

Có hai vấn đề nổi trội, sẽ luôn làm đau đầu bố mẹ và các em, dễ dàng nảy sinh xung đột: việc học hành khi các em còn vị thành niên và vấn đề hôn nhân khi các em đến tuổi trưởng thành.  Ở Úc, có nhiều lý do khiến các em không chú ý đến việc học hành và có lẽ lý do quan trọng nhất là quan niệm giáo dục của xã hội - học để đào tạo một con người hạnh phúc. Không ai có thể đoan chắc là một người kỹ sư, bác sĩ, hay luật sư sẽ có một cuộc sống hạnh phúc hơn một người chuyên làm vườn, bán hàng ở chợ hoặc làm công nhân trong một xưởng sản xuất! Chính vấn đề nhân bản trong giáo dục đưa đến việc hình thành một hệ thống giáo dục trong đó người học sinh có quá nhiều tự do, kể cả quyền tự do lựa chọn không học.  Bộ Giáo dục có quyền không cho điểm cao nhưng không có quyền từ chối phát bằng Tốt nghiệp Trung học (Higher School Certificate) sau 12 năm đến trường. 
 Bố mẹ thường đổ lỗi cho xã hội dễ dãi và an lạc, cuộc mưu sinh quá dễ dàng khiến trẻ em không bận tâm đến việc học hành. Nhưng có lẽ trách nhiệm tạo hứng thú cho trẻ em trong việc học hành không chỉ là nhiệm vụ của trường học và xã hội. Vì ở tuổi vị thành niên, các em vẫn còn sống trong gia đình, chưa ý niệm được các cuộc tranh sống ngoài đời. Muốn con em ham học cha mẹ phải tạo sự hứng thú trong việc học của con em, kể cả việc tham gia các hoạt động thể dục thể thao, văn hóa hay nghệ thuật.  Cuối cùng sự xung đột đau đầu nhất và thường dẫn đến nhiều khổ sở cho cha mẹ và con cái có lẽ là quan niệm hôn nhân lỗi thời của cha mẹ. Rất nhiều ông bố bà mẹ mong muốn con mình kết hôn với người cùng chủng tộc. Có nhiều lý do cha mẹ đưa ra để chống đối một cuộc hôn nhân dị tộc và hai lý do chắc chắn được nhắc đến nhiều nhất là ngôn ngữ và văn hóa.  Có những ông bố bà mẹ đi đến chỗ cực đoan hăm dọa con em sẽ không chấp nhận một cuộc hôn nhân dị tộc với những lý do như: khác văn hóa, khác ngôn ngữ sẽ không có hạnh phúc. 
Chúng ta phải hiểu rằng thế hệ trẻ lớn lên tại Úc là người Úc, chúng đâu là người Việt Nam nữa. Chúng nói tiếng Anh, sống nhuần nhuyễn trong phong tục tập quán Úc.  Dù yêu Việt Nam đến mấy, chúng ta cũng sẽ không thể ngược dòng thời gian. Hãy chấp nhận sự thật - chúng ta có cố gắng đến đâu chăng nữa thì cũng không bao giờ giữ được thế hệ con cháu chúng ta thuần Việt, vì chúng ta đã lựa chọn nơi này là quê hương. Hạnh phúc gia đình phải là hạnh phúc do chúng lựa chọn. Chúng rất Úc và vì thế hạnh phúc của chúng cũng rất Úc. Chúng ta đừng ích kỷ mà làm khổ con em!  Ghi chú:  (*) Thế hệ thứ nhất gồm những người được sinh trưởng và lớn lên ở trong nước - F1. Thế hệ một rưỡi gồm những người rời Việt Nam trong tuổi đang trưởng thành - F1/2. Thế hệ thứ hai gồm những người sinh trưởng và lớn lên ở ngoại quốc - F2.  Nguồn: Phương Lan/ nhipcauthegioi.hu (vietinfo.eu)


Thứ Năm, 28 tháng 8, 2014

2014 Bát phở Đông Anh




Trong cuộc sống, có những thứ với người này rất tầm thường, nhưng với người khác nó lại có ý nghĩa nhất định. Nó được nằm yên vị ở một góc nào đó trong lòng, nó đồng hành cùng những thăng trầm, buồn vui cuộc sống, theo năm tháng. Để rồi, mỗi khi có dịp, nó lại được nhấc ra gặm nhấm, hồi tưởng. Nó giúp ta tìm lại những cảm xúc.... Tôi sinh ra ở một làng thuần nông, nhà tôi cũng như bao nhà khác, sống đạm bạc. Ở thời điểm những năm 70, 80 của thế kỷ trước, được ăn ở quán, với một số người, nó vẫn còn là điều xa xỉ. Nhất là bát Phở gà, thực chất nó chỉ là thứ món ăn được nấu bằng bột gạo tẻ, tráng lên và thái nhỏ, nhưng nó ngon hơn vì nó có thịt và được chan bằng nước xương ninh. Nhà tôi làm ruộng, lúc nông nhàn cũng thường hay tráng thêm để đổi cho bà con làng xóm. Cái món canh bánh đa nhà nông thì nó chỉ hay được nấu với rau cải, với cua... ăn chan cùng cơm. Cũng cùng từ một thứ nguyên liệu đấy, nhưng khi nó được làm thành món phở, thì nó lại trở thành một món ăn xa xỉ với người nhà quê thời đó. Tôi cũng không ngoại lệ. Thú thực, trước khi được sang đây, tôi chưa bao giờ được bước chân vào bất cứ quán ăn nào, mặc dù tôi cũng từng có hai năm học trung cấp trên thị xã.  Do may mắn, tôi được  đi lao động hợp tác sang Tiệp Khắc, bây giờ là Cộng hoà Séc. Đoàn tôi bay đúng vào ngày 27 Tết Âm lịch. Trước khi bay hai ngày, chúng tôi tập trung ở Trạm Hợp Tác Quốc Tế Đông Anh. Sáng sớm ngày 27 Tết, trước khi bay, trong lúc chờ xe đến đón, anh tôi bảo: "Em sang bên đó sẽ không có đồ ăn Việt Nam, nên trước khi đi, anh đãi em bát Phở" . rồi anh em tôi kéo nhau vào quán gần đó. Thú thực là ngay lúc bước chân vào quán, tôi đã rưng rưng. Phần vì sắp phải xa người thân, phần vì lần đầu tiên tôi được bước chân vào quán Phở. Tâm trạng tôi lúc đó cũng rất dễ xúc động. Bao nhiêu cảm giác đan xen cùng một lúc. Một chút hồi hộp vì sắp được sang trời Tây, niềm mơ ước từng là của tôi và bao bạn bè thời đó, một chút vấn vương nhớ gia đình, một chút lóng ngóng vụng về khi lần đầu tiên được vào quán....  Quả là cái mùi thơm bát Phở mà lần đầu tiên trong đời được ăn ở quán nó làm tôi nhớ mãi, một cái mùi đặc trưng mà bao nhiêu năm sau, sống trên đất Séc đây, tôi không sao quên được. Với tôi, nó còn đặc biệt hơn nữa, bởi vì...  Khi gắp miếng Phở, mà ở nhà tôi hay gọi là canh bánh đa, đưa lên miệng, rồi gắp tới miếng thịt gà.... tôi bỗng dưng giàn rụa nước mắt.... Một cảm xúc đặc biệt, cho tới tận bây giờ tôi vẫn nhớ. Hôm tôi chuẩn bị đi, U tôi gom góp tất cả vốn liếng dành dụm, cùng đàn gà non nuôi trong năm, chuẩn bị cho một cái Tết, làm một bữa cơm thinh soạn mời họ hàng, người thân tới liên hoan tiễn chân tôi. Nên khi đưa miếng thịt gà vào miệng định cắn, bỗng dưng tôi nghĩ tới: không biết Tết này, người ở nhà có còn thịt gà để ăn? Nếu bạn nào từng sống ở nhà quê thuần nông thời đó thì sẽ hiểu, cả năm dành dụm chỉ có đến Tết mới được ăn ngon, thịnh soạn...  Thế đó, một bát Phở bình dân với một số người, nhưng với tôi ở thời điểm ấy , nó lại là một bát Phở đặc biệt. Nó đặc biệt vì nó là bát Phở đầu tiên tôi được ăn ở ngoài quán, bát Phở cuối cùng trước khi tôi rời Quê hương, bát Phở mang theo hương vị cả cái Tết cổ truyền của gia đình tôi.  Và quả đúng là những năm mới sang đây, đồ ăn Châu Á còn khan hiếm, nên các món ăn vặt như Xôi, Phở... là điều mơ ước của nhiều người Việt sống ở đây. Chính vì thế, nên bát Phở ở Đông Anh , tôi cứ nhớ mãi. Sau này , cuộc sống thay đổi, tôi có nhiều thứ phải lo hơn, tôi cũng được ăn những món ăn mà hồi ở nhà tôi chưa bao giờ được ăn. Nhưng cảm giác thì không sao giống được như khi tôi ăn bát Phở đó. Cuộc sống xa nhà, giữa những bộn bề lo toan để tồn tại ở xứ người,  đôi khi cần lắm những lúc tâm hồn mình lắng lại, hồi tưởng  những dấu ấn đã trải qua, như liều thuốc kích thích giúp ta quên đi những mệt mỏi hiện tại, những khó khăn trước mắt, thêm như một động lực cổ vũ tinh thần.  Bao năm qua rồi , cuộc sống quê tôi giờ đã đổi thay. Thế hệ sau này chắc chắn không còn ai lam lũ như chúng tôi thời đó.  Bản thân tôi cũng vậy, không còn phải thèm hay mơ ước những món ăn xa xỉ nữa. Bát phở ở Đông Anh ngày đó, tôi cất nó vào một góc nhỏ trong lòng, mỗi khi có dịp, lại lôi ra gặm nhấm, hồi tưởng, như một hoài niệm đẹp, mặc dù mỗi khi ngắm nghía nó, tôi lại rưng rưng..., một phần bởi, U tôi giờ đã là người Thiên Cổ! (vietinfo.eu)

Cám ơn bạn đã truyền bá nội dung bài vở của chúng tôi. Ngoại trừ mục đích cá nhân, khi sử dụng lại thông tin, xin các bạn không quên ghi rõ tên tác giả, tên nguồn và vietinfo.eu.

Thứ Bảy, 19 tháng 7, 2014

2014 Hạnh phúc-

Hạnh phúc- Vercion Marcel
1/ Thời điểm nào là hạnh phúc nhất?
Chúng ta thường cho rằng cuộc sống sẽ tốt đẹp và có ý nghĩa hơn một khi chúng ta lập gia đình, sinh con…
Sau đó chúng ta vỡ mộng vì con cái chúng ta còn quá nhỏ, và tự nhủ rằng mọi việc sẽ tốt đẹp hơn một khi chúng lớn khôn.
Và chúng ta lại thất vọng khi con cái của mình đến tuổi niên thiếu vì chúng ta lại phải chăm sóc và lo lắng cho chúng. Chắc chắn chúng ta sẽ hạnh phúc hơn khi các con trưởng thành.
Chúng ta lại tự nhủ rằng cuộc sống rồi sẽ tốt đẹp hơn một khi gia đình được ổn định, khi chúng ta tậu được một chiếc xe đẹp hơn, khi chúng ta đi nghỉ hè thoải mái, và cuối cùng là khi chúng ta được về hưu. Sự thật là không có một thời điểm nào tốt đẹp và hạnh phúc bằng hiện tại cả.
Nếu không đúng, vậy thì thời điểm nào là hạnh phúc nhất?
Cuộc sống của bạn luôn bị quay cuồng bởi các thách đố, các đòi hỏi và yêu cầu. Tốt nhất là bạn nên nhận thấy rằng hiện tại là thời gian hạnh phúc nhất của mình mặc dù cuộc sống đầy rẩy khó khăn và muộn phiền.
2) Hạnh phúc là hành trình, chứ không phải là điểm đến.
Một thời gian rất lâu, tôi cứ ngỡ rằng cuộc đời của tôi sắp bắt đầu. Một cuộc đời, cuộc sống thật sự.
Nhưng lúc nào cũng có nhiều việc xảy đến, một thử thách phải vượt qua, vài công việc còn phải hoàn tất, vài việc khác cần phải phân chia, còn vài hóa đơn phải thanh toán. Sau đó, thì cuộc sống của ta sẽ bắt đầu…
Cuối cùng tôi mới khám phá ra rằng, chính những sự việc này là một phần của đời sống chúng ta…
Từ cái nhìn này tôi thấy được rằng không có con đường nào đi đến hạnh phúc cả.
Hạnh phúc chính là con đường mà chúng ta đang đi.. đó là sống với  TÂM  HIỆN TẠI.
Do đó, hãy trân quý và hưởng mọi phút giây trong giờ phút HIỆN TẠI…
Không nên chờ đợi nữa, chờ đợi tốt nghiệp ra trường, chờ đợi ngày trở lại trường, chờ đợi xuống thêm vài ký, lên thêm vài ký, chờ đợi việc làm mới, chờ đợi ngày kết hôn, mong đợi đến tối thứ sáu, sáng chủ nhật, một chiếc xe mới, đợi trả nợ xong, trông chờ xuân đến, hạ về, đợi đến đầu tháng, cuối tháng, đợi nghe bản nhạc hay trong radio, chờ ngày từ giả cõi đời, ngày tái sinh …… trước khi quyết định sống thật hạnh phúc.
Không có một giờ phút nào quý cho bằng… Sống HIỆN TẠI! Hãy sống và hưởng từng giây phút. Hạnh phúc là hành trình, chứ không phải là điểm đến !
3) Ai là người có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc sống của bạn?
Chúng ta hãy suy nghĩ và cố gắng trả lời các câu hỏi sau:
-          Bạn hãy nêu ra tên 5 người giàu nhất thế giới.
-          Tên của 5 Hoa hậu thế giới
-          Tên 10 người lãnh giải Nobel gần đây nhất
-          Tên 10 người lãnh giải Oscar gần đây nhất.
Bạn không trả lời được? Có thật sự khó không?
Không sao cả, không ai có thể nhớ những điều này.
Các tràng pháo tay rồi cũng chấm dứt !
Các giải thưởng cũng sẽ đóng bụi !
Các quán quân hoặc kẻ thắng cuộc rồi cũng sẽ bị quên lãng.
Chúng ta lại thử trả lời các câu sau đây :
-          Bạn hãy nêu tên 3 thầy, cô trong cuộc đời bạn.
-          Tên 3 người bạn đã từng giúp bạn trong những giây phút khó khăn nhất.
-          Hãy nghĩ đến vài người đã từng cho bạn những cảm giác đặc biệt.
-          Và 5 người mà bạn lúc nào cũng muốn gần gũi.
Và các câu này có vẻ dễ trả lời hơn, phải không bạn?
Những người có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc sống của bạn, không phải là những người “giỏi nhất”, họ cũng không là người giàu nhất, và cũng không đoạt được một giải thưởng nào cả…
Họ là những người nghĩ đến bạn, lo lắng cho bạn và luôn ở bên cạnh bạn khi bạn cần đến.
4/  Tinh thần “cả hai cùng thắng” (win-win)
Cách đây rất lâu, ở một cuộc thi Thế Vận Hội tại Seattle, có 9 nhà điền kinh khoẻ mạnh và cường tráng tham gia, họ chuẩn bị bắt đầu cuộc thi chạy bộ 100 m.
Tiếng súng nổ báo hiệu cuốc thi bắt đầu. Không phải tất cả mọi người đều chạy, nhưng tất cả mọi người đều muốn tham gia và muốn thắng cuộc đua.
Tất cả mọi người bắt đầu chạy, nhưng có một thanh niên trợt chân và ngã quỵ xuống, và cậu ta bắt đầu khóc.
Tám người kia nghe tiếng khóc .
Họ chạy chậm lại, quay đầu lại nhìn .
Cuối cùng họ ngưng chạy và quay trở lại… Tất cả 8 người…
Một cô gái ngồi xuống và hỏi chàng thanh niên bị trợt té, ”Đã thấy đỡ chưa?“. Sau đó, tất cả 9 người vai sánh vai cùng nhau bước đến lằn mức thắng…
Tất cả khán giả đều đứng lên và đồng loạt vỗ tay. Và tràng vỗ tay đã kéo dài rất lâu
Tất cả mọi người chứng kiến sự việc ngày hôm đó, thường kể lại chuyện này cho người khác nghe. Tại sao vậy?
Vì tận cùng trong thâm tâm của chúng ta đều hiểu rằng, điều quan trọng nhất trong cuộc sống không phải là thắng cuộc.
Điều quan trọng nhất trong cuộc sống là giúp kẻ khác thắng. Mặc dù việc này có làm chậm công việc của chúng ta hoặc thay đổi cuộc thi đua.
“Một ngọn nến không bị mất giá trị khi nó được dùng để mang ánh sáng đến cho người khác.”
  


Thứ Bảy, 5 tháng 7, 2014

2014 Nguòi Việt ờ Trung quốc

CỘNG ĐỒNG NGƯỜI KINH Ở TRUNG QUỐC
hoặc :
Xúc động khám phá cộng đồng Người Kinh ở Trung Quốc(chú ý: trang web trên không phải chính thức của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng)
image
Xúc động khám phá cộng đồng Người Kinh ở Trung Quốc
Đối với chúng ta, rất ít người biết có một cộng đồng rất nhỏ (khoảng 22,000) người Jing (người Kinh) sống ở Tam Đảo (Quảng...
Preview by Yahoo

Xem thêm Youtube :

Jing Song - Qua Cầu Gió Bay 过桥 风吹


(Xã hội / TruongSaHoangSai) (28/06/2014) - Đối với chúng ta, rất ít người biết có một cộng đồng rất nhỏ (khoảng 22,000) người Jing (người Kinh) sống ở Tam Đảo (Quảng Tây, Trung Quốc) là một “khám phá” gây nhiều cảm xúc. Rồi lúc được biết họ đã rời xa Việt Nam 500 năm mà vẫn cố gắng duy trì bản sắc văn hóa dân tộc Việt trước sức đồng hóa rất mạnh của TQ, xem những điệu múa, đánh đàn bầu, nghe họ hát tiếng Việt làm ta xúc động…

Vào khoảng thế kỷ 16, có một số người Việt di cư lên phía bắc lập nghiệp ở vùng Trường Bình – Bạch Long. Vùng đất đó bấy giờ thuộc Đại Việt nhưng theo Công ước Pháp-Thanh ký năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh thì Trường Bình bị sáp nhập vào nước Trung Hoa. Người Kinh tại đây là một trong số 56 dân tộc được công nhận tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

Người Kinh ở Trung Quốc mặc áo dài truyền thống
Thời gian trôi qua, nhóm người Việt này đã bị ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa. Tuy vậy họ vẫn nói tiếng Việt. Họ sinh sống chủ yếu trên 3 đảo (Vạn Vĩ, Sơn Tâm và Vu Đầu), gọi chung là Kinh tộc Tam Đảo, thuộc thị xã Đông Hưng, khu tự trị người Choang Quảng Tây (cách cửa khẩu Móng Cái của Việt Nam chừng 25 km) nhưng tiếng Việt của họ đã pha trộn nhiều với tiếng Hoa kèm với nhiều từ cổ của tiếng Việt.
Họ được coi là cộng đồng người Kinh chủ yếu và còn mang nhiều bản sắc văn hóa Việt Nam nhất tại Trung Quốc với tư cách là một trong 56 dân tộc của đất nước này (không bao gồm cộng đồng người Việt mang quốc tịch Việt Nam hiện đang học tập và làm việc tại Trung Quốc)
Tại Quảng Tây nói riêng và Trung Quốc nói chung, tên gọi “Kinh tộc Tam Đảo”, có nghĩa là “Ba hòn đảo của người Kinh”, hiện vẫn được dùng tương đối phổ biến để chỉ cộng đồng người Kinh này cũng như để chỉ địa bàn sinh sống tập trung của họ tại ba hòn đảo nói trên (nay đã trở thành bán đảo do phù sa bồi lấp và nhờ chính quyền cùng nhân dân địa phương đã đắp đê, làm đường nối các đảo với đất liền).

Vị trí Tam Đảo mà người Kinh sinh sống
Với lịch sử định cư trải qua hơn 500 năm, hầu hết cư dân người Kinh ở khu vực Tam Đảo (Vạn Vĩ, Vu Ðầu và Sơn Tâm) cũng như một vài nơi khác ở Quảng Tây (chủ yếu tập trung tại Đông Hưng) đều có chung nguồn gốc là người Đồ Sơn (Hải Phòng, Việt Nam), còn lại số ít người Kinh trong đó có nguồn gốc từ một vài địa phương ven biển của Việt Nam di cư đến. Theo điều tra dân số tại Trung Quốc vào năm 2000, dân số người Kinh riêng tại khu vực nói trên là khoảng hơn 18.000 người trong tổng số trên dưới 22.000 người dân tộc Kinh trên toàn lãnh thổ Trung Quốc, một con số được coi là rất khiêm tốn nếu so với nhiều dân tộc khác đang cùng sinh sống trên đất nước đông dân nhất thế giới này.

Người Kinh tại Trung Quốc
Dòng họ Tô là một dòng họ lớn và được xem là có ảnh hưởng nhất trong cộng đồng các dòng họ người dân tộc Kinh tại Quảng Tây nói riêng và Trung Quốc nói chung. Họ Tô là một trong 12 dòng họ người Kinh hay còn gọi là người Việt gốc Đồ Sơn (Hải Phòng, Việt Nam). Nhiều người trong họ Tô đã có công nghiên cứu, bảo tồn và quảng bá các giá trị đặc sắc của văn hóa truyền thống của người Kinh đồng thời cũng là cội nguồn của văn hóa Việt Nam đến nhiều nơi trên đất nước Trung Quốc rộng lớn dù cho dân số của người Kinh tại Trung Quốc là rất khiêm tốn nếu so với nhiều cộng đồng dân tộc khác của đất nước này. Trải qua hơn 500 năm định cư trên đất Trung Quốc, hiện dòng họ Tô cũng như một số dòng họ người Kinh khác không chỉ tập trung sinh sống tại khu vực Tam Đảo (Vạn Vĩ, Vu Đầu và Sơn Tâm) mà đã phân tán ra nhiều địa bàn khác quanh khu Phòng Thành Cảng của tỉnh Quảng Tây.

Người Kinh đánh trống trong một lễ hội
Ngôn ngữ
Người Kinh tam đảo vốn nói tiếng Kinh hay tiếng Việt và sử dụng phổ biến chữ Nôm, nhưng từ lâu họ cũng nói tiếng địa phương là tiếng Quảng Đông và sử dụng Hán tự. Tuy nhiên, về ngữ pháp, người Kinh không nói ngược như dân Hán mà vẫn nói xuôi theo lối giao tiếp của người Việt.
Phong tục
Y phục của người Kinh đơn giản và thực tế. Phụ nữ ăn mặc theo cổ truyền với những chiếc áo ngắn, không cổ, chẽn bó vào thân mình, cài nút phía trước, mặc những tấm quần rộng nhuộm đen hay nâu. Khi ra ngoài, phụ nữ thường mặc thêm áo dài tay chật nhuộm màu sắc nhạt hơn. Họ thích đeo khuyên tai, tóc rẽ ngôi ở giữa dùng vải đen hay khăn đen bọc lấy và vấn xung quanh đầu. Dân quê còn đi chân đất. Còn đàn ông thì thường mặc áo cộc để làm việc, cổ quấn khăn, nhưng khi có hội hè thì họ mặc những áo dài chùng tới gối, hai vạt trước sau đối nhau và có giải quấn ở eo lưng.
Ngày nay, người Kinh ăn mặc giống như người Hán láng giềng, mặc dù còn một số người già còn giữ lối ăn mặc theo cổ tục và một thiểu số phụ nữ trẻ còn vấn tóc và nhuộm răng đen vì vẫn còn tục ăn trầu, còn đàn ông thì ăn mặc thực tế theo hiện đại như những dân lân cận khác.
Phong tục hôn nhân thì một vợ, một chồng, thuở trước thì thường do cha mẹ hai bên xếp đặt bao biện. Trai gái cùng họ và anh em cô cậu cấm lấy nhau.

Dân tộc Kinh tại Trung Quốc
Ẩm thực
Về ẩm thực, người Kinh ở Tam Đảo ăn cơm là chính, ngoài ra còn ăn khoai sắn, khoai sọ, thích ăn các loài hải sản như cá, tôm, cua. Đặc biệt, họ làm nước mắm từ cá biển để chấm và nêm thức ăn. Những món ăn ưa thích của họ là bánh đa làm bằng bột gạo có rắc vừng nướng trên than hồng mà sách Trung Quốc gọi là phong xuy hỉ (bánh phồng do gió thổi) và bún riêu, bún ốc sách Hán tự ghi là hỉ ty tức là sợi bún nấu với canh cua và ốc.
Tín ngưỡng, tôn giáo
Tôn giáo chủ yếu là Phật giáo đại thừa và Đạo giáo. Ngoài ra họ còn duy trì tục cúng thần linh và tổ tiên.

Trong một lễ hội
Sinh hoạt văn hóa
Họ ưa thích lối hát đối đáp giao duyên (antiphonal songs) nghe du dương và trữ tình, kiểu như hát Quan họ hay hát đúm quen thuộc ở miền Bắc Việt Nam bây giờ. Lối hát đúm hát đối này thường được tổ chức vào ngày Tết, ngày Hội. Nhạc cụ cổ truyền của người Kinh gồm có đàn nhị (two-stringed fiddle), sáo trúc, trống, cồng và đàn bầu (độc huyền cầm) là một nhạc khí chỉ riêng Kinh tộc có mà thôi. Họ có một kho tàng văn học dân gian truyền khẩu phong phú với ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích… Những điệu múa ưa chuộng của người Kinh là múa đèn, múa gậy sặc sỡ nhiều màu, múa rồng và múa y phục thêu thùa.

Y phục và nhạc cụ của người Kinh tại Quảng Tây
Đời sống kinh tế
Người Kinh tại khu vực Tam đảo hoạt động chủ yếu trong các ngành như ngư nghiệp (đánh bắt, nuôi trồng hải sản, nông nghiệp, dịch vụ du lịch. Ngoài ra, một bộ phận dân cư hoạt động trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ.
Trong 700 loại cá đánh ở đây thì hơn 200 loại có giá trị kinh tế cao và thu hoạch nhiều. Ngọc trai, cá ngựa và sea otters sinh sản lắm ở đây và thường quí về phương diện dược liệu. Nước biển của vịnh Bắc Bộ tốt cho sự làm muối. Mùa màng chính ở đây là gạo, khoai lang, đậu phọng, khoai sọ, và kê. Những loại trái cây bán nhiệt đới như đu đủ, chuối, nhãn thì rất nhiều. Những khoáng sản dưới đất gồm sắt, monazite, titanium, magnetite và silica. Những giải rộng của rừng tràm mọc trên vùng nước lợ là một nguồn lợi phong phú về chất tannin dùng làm nguyên liệu tất yếu cho kỹ nghệ thuộc da.
Người Việt Nam cho dù ở đâu vẫn là người Việt Nam!