Thứ Sáu, 30 tháng 11, 2012

2012 Tỷ phú khuyết tật!


Người đàn ông hỏng mắt, cụt tay, ăn mày thành tỷ phú

News –  Thứ hai, ngày 26 tháng mười một năm 2012
Đôi mắt hoàn toàn không nhìn thấy ánh sáng, đã vậy bàn tay trái lại bị cụt, bàn tay phải rất khó cử động, nhưng ông Trần Văn Đàm (tổ 4, phường Phú Hiệp, TP. Huế) lại là người trồng và tạo thế cây cảnh giỏi bậc nhất miền Trung.

Biệt tài tạo thế cây cảnh trong bóng tối đã đưa ông từ một kẻ ăn xin nơi đầu đường xó chợ trở thành tỷ phú. Hát rong để mưu sinh và… lấy vợ đẹpSinh ra trong một gia đình nghèo, bố mẹ là cửu vạn ở chợ Đông Ba, nên tuổi thơ của ông Đàm là chuỗi ngày cùng cực. Lên 5 tuổi ông đã phải theo anh chị trong nhà lang thang khắp TP. Huế nhặt ve chai kiếm tiền mua gạo. Vào đời từ rất sớm nhưng ông vẫn học giỏi và nổi tiếng là cậu học sinh luôn có những sáng tạo đặc biệt. Nhưng học đến lớp 5 thì ông phải nghỉ học để sang chợ Đông Ba làm nghề bốc vác thuê. Sau ngày miền Nam giải phóng, ông xung phong vào đội thanh niên của TP. Huế đi xây dựng vùng kinh tế mới ở xã miền núi Hồng Tiến của huyện Hương Trà.
Dù hỏng mắt, cụt tay, song ông Đàm vẫn tạo dáng cây cảnh rất tài hoa 
Chỉ sau chưa đầy một năm đến vùng kinh tế mới, tai họa đã giáng xuống chàng thanh niên 24 tuổi tràn đầy khát vọng sống này. Trong lúc khai phá đất hoang, ông đã cuốc phải 2 quả bom bi sót lại sau chiến tranh. Hai quả bom phát nổ cùng lúc khiến ông gục xuống.

Tỉnh dậy trong bệnh viện, ông đau đớn tột cùng vì đôi mắt không còn nhìn thấy ánh sáng, bàn tay trái không còn, bàn tay phải thì nát bét. Bác sĩ bảo ông ngoài bị mù mắt, cụt tay còn bị gần 30 viên bi từ 2 quả bom bắn sâu vào cơ thể.

Sau gần 5 tháng nằm viện, gia đình phải đưa ông về nhà tại TP. Huế vì gia sản đã khánh kiệt. Trong nỗi tuyệt vọng tột độ, nhiều lần ông đập đầu vào thành giường để tự tử nhưng cuộc đời bắt ông tiếp tục phải sống.

Sau một thời gian, được sự động viên của gia đình, ông quyết tâm đứng dậy tự kiếm sống. Sau nhiều ngày trằn trọc, biết mình không còn khả năng làm bất cứ việc gì nên ông quyết định kiếm tiền bằng nghề ăn xin.

Từ đó hàng ngày ông ôm đàn dò dẫm trên các tuyến phố hát rong xin người qua đường bố thí. Giọng hát trầm buồn, chất chứa nỗi đau số phận có sức mạnh như thôi miên của ông khiến người đời say đắm nên ông kiếm đủ ngày 3 bữa cơm.

Những ngày lang thang hát rong khắp đầu đường xó chợ đã giúp ông lấy được một cô gái duyên dáng, nết na làm vợ.

Thuở ấy, bà Nguyễn Thị Phước, vợ ông, là một cô gái lãng mạn, con cưng của một chủ quầy hàng tạp hóa giàu có tại chợ Đông Ba.

Hầu như ngày nào đến chợ hát ông cũng được bà Phước cho nhiều tiền và mời vào nhà ăn cơm. Nguyên nhân là bởi giọng hát, tiếng đàn vừa lãng mạn vừa chất chứa nỗi buồn của ông đã khiến bà Phước say như điếu đổ. Ngày nào chưa thấy ông đến hát là bà nhớ nhung đến mức đứng ngồi không yên.

Từ chỗ say mê giọng hát của ông Đàm, bà Phước chuyển sang yêu thương người đàn ông mù mắt, cụt tay này không hay.

Để hóa giải sự ngăn cấm của người thân, bà Phước nhiều lần vờ đòi tự vẫn khiến gia đình không dám ngăn cản cuộc tình của mình nữa.

Rồi hai ông bà cưới nhau trong hạnh phúc đến chảy nước mắt. Để chứng minh khả năng vượt khó của mình và chồng, bà Phước không nhận bất cứ món quà hồi môn nào của bố mẹ đẻ khi xuất giá.

Trong bóng tối vẫn… làm đẹp cho đời

Một thời gian sau ngày lấy vợ, thấy nghề hát rong xin tiền không thể đưa lại no ấm cho gia đình nhỏ của mình, nên hằng đêm ông Đàm trăn trở tìm một nghề kiếm sống ổn định hơn.

Rồi nhiều người cười nhạo báng khi thấy ông chuyển sang nghề… trồng cây cảnh. Không cười sao được khi một người mắt thì mù, tay thì cái cụt, cái liệt mà đòi kiếm sống bằng nghề trồng và tạo thế cây cảnh vốn đòi hỏi phải có đôi mắt nghệ thuật và đôi tay khéo léo.

Ông không quan tâm những lời ong tiếng ve của người đời mà chỉ chú tâm để làm bằng được công việc mới của mình.
Vườn cây bạc tỷ của ông Đàm 
Thực ra chuyện ông Đàm đến với nghề cây cảnh không phải hoàn toàn viển vông như nhiều người nghĩ. Bởi ít nhất ông cũng từng được nhiều người khen ngợi là dù hỏng mắt, cụt tay nhưng có biệt tài tạo thế cây cảnh hiếm người sánh bằng.

Số là, khoảng 2 tháng sau ngày cưới vợ, trong một lần mò mẫm lên phường Kim Long hát rong, vì mê mẩn giọng hát của ông nên một chủ vườn cây cảnh ở đây mời ông vào nhà uống nước.

Sau khi cho ông khá nhiều tiền, vị chủ vườn hỏi ông có thích cây cảnh không để ông ta tặng một cây làm quà. Mặc dù hoàn toàn mù mờ về cây cảnh nhưng ông Đàm lập tức đồng ý nhận cây và được chủ vườn cho người chở về tận nhà.

Từ đó, hàng ngày, ngoài những giờ rong ruổi hát rong kiếm sống, ông Đàm mò mẫm chăm sóc và tạo thế cho cây cảnh mà mình được tặng. Sau khoảng 2 tháng cần mẫn, ông đã tạo cho cây mưng được tặng ấy thành một dáng đặc biệt khiến nhiều người bị hớp hồn.

Mê mẩn cây mưng đó của ông, một đại gia ở TP.Huế đã mua với giá 5 triệu đồng, một số tiền rất lớn đối với gia đình ông thuở đó. Sau lần đó, ông đã ấp ủ việc chuyển sang nghề làm cây cảnh.

Công việc đầu tiên của ông Đàm khi chuyển sang nghề trồng cây cảnh là đi đào những gốc mưng để đưa về trồng trong vườn. Vì khuyết tật nên khi đào cây rất nhiều lần ông bị ngã, mặt mày, tay chân tứa máu.

Bằng sự kiên trì có một không hai, những gốc mưng do ông đào về trồng, chăm sóc đã cho kết quả tốt. Vượt trên những khiếm khuyết của bản thân, với óc sáng tạo, tưởng tượng hết sức phong phú, ông đã tạo ra những thế cây ấn tượng độc nhất vô nhị.

Những người mê cây cảnh, kể cả những tay chơi cây cảnh sừng sỏ khi xem những chậu cây của ông đều phải ngỡ ngàng. Sau thành công bước đầu, ông bàn với vợ làm đơn vay vốn của Hội Người mù tỉnh để mở rộng kinh doanh cây cảnh. Chỉ sau khoảng 2 năm vào nghề, ông và vườn cây cảnh của mình đã nổi tiếng khắp miền Trung.

Hiện vườn cây cảnh của ông Đàm có gần 3.000 gốc cây với đủ các loại cây quý hiếm cùng những thế, dáng mà ở Huế không ai có được. Những gốc cây này được đặt bán tại nhiều địa điểm, nhiều nhất là ở khuôn viên của Trung tâm văn thể mĩ TP. Huế, nằm trên đường Đống Đa. Nhiều gốc cây trong số này có trị giá từ 50- 200 triệu đồng.

Người thầy của những đại gia cây cảnh nức tiếng

Biệt tài tạo thế cây cảnh có một không hai của ông Đàm khiến hàng loạt tay kinh doanh cây cảnh sừng sỏ ở Thừa Thiên- Huế và nhiều tỉnh miền Trung tìm đến xin học hỏi kinh nghiệm.

“Đến nay tui đã truyền kinh nghiệm tạo dáng cây cho không biết bao nhiêu người. Chỉ sau khoảng 5 ngày được tui chỉ bảo, con mắt nghệ thuật của họ đã có những bước tiến vượt bậc”, ông Đàm khoe.

Theo ông Đàm, người chơi cây cảnh một khi đã có được “đôi mắt nghệ thuật” thì việc tạo dáng cây không có gì khó. Nói đôi mắt nhìn phải thật sự nghệ thuật là bởi cái nhìn ấy phải có nét riêng biệt, giàu tính sáng tạo, không sa vào những khuôn mẫu thông thường.

Nói về cách nhìn của mình, ông Đàm bảo, ông không phải nhìn bằng mắt mà “nhìn” bằng các giác quan khác như thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác, tri giác… Những giác quan này giúp ông nghe được tiếng thở, tâm tình của cây.

Trước một gốc cây cảnh cần tạo dáng, mặc dù không còn đôi mắt nhưng những giác quan khác giúp ông nhìn thấy hình thù hiện tại của cây, để rồi từ đó sáng tạo ra thế cây đặc biệt. Thế cây đó không giống với bất cứ cây nào và là một tác phẩm nghệ thuật nhiều công phu.

Ông Nguyễn Hoàng Thiên, một tỷ phú cây cảnh ở tổ 8, phường Phú Bài, thị xã Hương Thủy cho biết, nhờ sự truyền dạy của ông Đàm mà ông trang bị cho mình khả năng trồng và tạo thế cây cảnh xuất sắc.

“Tui học được ở ông Đàm khả năng sáng tạo để biến những gốc cây thành những tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời. Ông Đàm đã cho tui biết rằng, tạo thế cây cảnh không phải chỉ bằng đôi mắt và đôi tay mà còn phải vận dụng tất cả những giác quan khác thì mới có những chậu cảnh quyễn rũ”, ông Thiên chia sẻ.

Thứ Ba, 11 tháng 9, 2012

2012 CÁI TÂM THẦY THUỐC

Lòng Nhân Ái Của Thầy Thuốc Nguyễn Ý Đức,
Saturday, 08 September 2012 10:12
Tập thể của chúng ta ngày càng có thêm rất nhiều bác sĩ y khoa. Những người chọn ngành này là những người ôm ấp, đeo đuổi lý tưởng phục vụ đồng bào, phục vụ tha nhân. Hoặc dùng cụm từ quen thuộc là lý tưởng “Cứu nhân độ thế.”
Cộng đồng của chúng ta ở quê người cũng có khá nhiều bác sĩ y khoa xứng đáng với thiên chức “Lương y như từ mẫu.”
Nhưng vì công việc đa đoan, hay vì không có nhiều thì giờ cho nên tới hôm nay, chúng ta không có nhiều bác sĩ y khoa dành thời gian để viết về những gì liên quan tới các chứng bệnh từ thông thường tới nan y. Như một thứ cẩm nang phòng ngừa…Để mỗi gia đình có thể lưu giữ trong nhà, bên cạnh những tủ thuốc phải có.
Tôi thăm hỏi một bác sĩ y khoa, một người hiện hành nghề “Cứu nhân độ thế” thỉnh thoảng cũng nhín chút thời gian quý báu để viết xuống những giải thích, lưu ý về những căn bệnh thông thường mà chúng ta thường gặp. Vị này cho hay, viết lách không phải là nghề của ông…như các nhà báo hay nhà văn…Vì thế mỗi khi muốn viết một bài thuộc loại “bệnh thường thức,” ông đã mất từ 4 tới 5 tiếng đồng hồ. Chưa kể số giờ dành cho việc truy cứu tài liệu, hầu có thể lấy những con số thống kê chính xác và mới nhất.
Vị bác sĩ y khoa này nói đùa với tôi rằng, với 5, 6 tiếng để hoàn tất một bài viết lưu ý độc giả về bệnh này, bệnh kia xuất hiện theo mùa, hay hậu quả của sự ăn uống, thiếu vận động cơ thể dài lâu…có thể đưa tới những hậu quả nào đó, về phương diện sức khỏe… là một việc làm khá “gay go” đối với ông.
Vị bác sĩ này nhấn mạnh:
“Mục đích của tôi khi bỏ thì giờ viết một bài gì đó về các loại bệnh thường thức, có tính chất phòng ngừa, không hề vì nhu cầu tiền nhuận nhuận bút. Bởi vì với số thời gian tôi bỏ ra để viết bài, tôi khám được biết bao bệnh nhân.Và, dĩ nhiên, số tiền tôi kiếm được cũng sẽ rất nhiều lần, hơn tiền nhuận bút mà một tờ báo có thể trả tôi. Tóm lại, tôi viết chỉ vì muốn viết. Chỉ vì muốn phục vụ nhiều người cùng một lúc. Nó khác hơn việc tôi khám bệnh, chỉ hữu ích cho một người. Một bệnh nhân mà thôi…”
Lời nói thật hay tâm sự của người bạn bác sĩ y khoa vừa kể, khiến tôi liên tưởng ngay tới một bác sĩ y khoa, mà tên tuổi của ông từ nhiều năm qua, đã trở thành quen thuộc với cộng đồng Việt của chúng ta ở khắp nơi trên thế giới. Luôn cả đồng bào ở Việt Nam. Đó là bác sĩ Nguyễn Ý Đức.
Tôi không biết khi đặt tên cho con mình là Nguyễn Ý Đức, đấng sinh thành ra người con trai sau này trở thành một bác sĩ y khoa từ đầu thập niên 1960 ở Saigon đã nghĩ gì? Muốn gửi gấm điều gì cho đứa con yêu quý của mình? Nhưng căn cứ vào sự theo dõi hành trình “cứu nhân độ thế” của mình, tôi thấy ông không chỉ là một bác sĩ y khoa xứng đáng với cụm từ “Lương y như từ mẫu,” mà cái “đức” dường như luôn là một trong những “ý” thức hàng đầu của ông.
Hơn thế nữa, dù công việc bề bộn, dù thì giờ dành riêng cho cá nhân và cho gia đình mình không được bao nhiêu, vậy mà ông vẫn cặm cụi viết liên tục từ mấy chục năm qua…
Những bài viết có tính cách “y khoa thường thức’ hay “y khoa phòng ngừa” của ông, tôi thấy chúng xuất hiện thường xuyên hàng tuần, hàng tháng trên rất nhiều mặt báo, cũng như trên rất nhiều trang mạng Việt ngữ của chúng ta.
Điểm đặc biệt của ngòi bút mang tên Bác sĩ Nguyễn Ý Đức, không chỉ là tính chính xác với những tài liệu được cập nhật, và những chỉ dẫn chi tiết về nguyên nhân căn bệnh, cách phòng ngừa bệnh….Mà những bài viết của ông, theo tôi còn có tính cách thủ thỉ như một nhà văn kể chuyện đời thường (The Story Teller.) Ông cũng luôn cho thấy tính chất dịu dàng, nhỏ nhẹ trong các bài viết của mình, như thể ông đang nói chuyện, hay dỗ dành một người bạn ngang chướng mà ông yêu quý, quan tâm.
Tôi cũng rất thích, và tôi cho là vô cùng đặc biệt khi ông đem được vào trong hàng chục cuốn sách thuộc loại “y khoa phòng ngừa” của ông, phần văn học quá khứ. Đó là những bài học ngụ ý sâu sắc. Đồng thời, ông cũng cho người đọc cơ hội được sống lại những kỷ niệm của một thời vang bóng.
Như trước khi mời độc giả bước vào tác phẩm “Cẩm nang sức khỏe cao niên,” ông đã trích dẫn “Quốc Văn Giáo Khoa Thư” như sau:
“Một ông thầy thuốc già, chữa bệnh giỏi có tiếng. Phải khi ông ốm nặng, các học trò đến chầu chực thuốc thang bên cạnh ông. Ông cố gượng nói rằng: ‘Lão biết mình đã đến ngày tận số rồi nhưng lão có nhắm mắt cũng cam lòng, vì lão có để lại ba thầy thuốc rất hay.’ Ông nói tới đây, nhọc quá phải nghỉ. Các thầy thuốc học trò thấy ông nói thế, đều lắng nghe, ai cũng nghĩ bụng trong ba người ấy thế nào chả có tên mình. Ông nghỉ một lúc rồi lại nói: ‘Trong ba thầy thuốc ấy thì hay nhất là thầy Sạch Sẽ, thứ nhì là thầy Điều Độ, thứ ba là thầy Thể Thao. Sau khi lão mất rồi, nếu các anh biết theo ba thầy ấy mà chữa cho người ta, thì thiên hạ khỏi được bao nhiêu là bệnh tật.’…”
Đoạn trích dẫn ở trên, tự thân đã cho thấy tính chất… “ý” và “đức” trong con người thầy thuốc Nguyễn Ý Đức.
Khi đang viết bài này, tình cờ chúng tôi lại được đọc một bài viết có tính cách báo động cho tất cả chúng ta về sự trở lại “Vi khuẩn West Nile,” của bác sĩ Nguyễn Ý Đức.
Mở đầu bài viết về “Vi khuẩn West Nile,” người bác sĩ họ Nguyễn của chúng ta viết:
“Ngày 1 tháng Tám vừa qua, Bộ Y tế tiểu bang Texas đã đưa ra lời báo động cho dân chúng là phải đề phòng bệnh do vi khuẩn West Nile gây ra. Theo bộ này, kể từ đầu năm cho tới cuối tháng Bảy, đã có 111 trường hợp bệnh với một tử vong ở miền Bắc Texas, đặc biệt là tại các quận hạt Dallas, Collin, Tarrant và Denton. Cơ quan y khoa phòng ngừa đang ráo riết phun thuốc diệt trừ muỗi tại một số vùng có nhiều muỗi để phòng ngừa bệnh dịch (…)
“…Bệnh thường xuất hiện khi thời tiết nóng ẩm và thường thấy ở miền Đông Bắc Louisiana, miền Trung và Nam California, các vùng phụ cận Dallas, Houston, Chicago và Phoenix…”
Sau đó, tác giả đi vào phần nguồn gốc bệnh. Cách truyền bệnh. Những rủi ro đưa tới nhiễm vi khuẩn West Nile. Có thuốc chủng ngừa chưa? Phòng ngừa bệnh. Cách dùng thuốc đuổi muỗi…
Nghĩa là tác giả không để một chút thiếu sót nào trong bài viết của mình, khiến độc giả phải hoang mang vì không có câu trả lời.
Tôi muốn kết luận bài viết này của mình, bằng một câu nói bình thường thôi, nhưng không thể chân tình hơn trước những đóng góp ý nghĩa của bác sĩ Nguyễn Ý Đức cho đời sống này là:
“Cảm ơn người thầy thuốc của tôi. Và, cũng xin được cảm ơn đấng sinh thành ra ông. Dù các đấng sinh thành này, còn tại thế hay đã qua đời.”
Du Tử Lê, (Aug. 31. 2012.)

Chủ Nhật, 9 tháng 9, 2012

2012 CON ĐƯỜNG CỨU KHỔ

Được đăng bởi HUYNH NGOC CHENH vào lúc 08:22
Chủ nhật, ngày 02 tháng chín năm 2012
TẤT ĐẠT ĐA VÀ NGUYỄN TẤT THÀNH
Đặt hai người nầy bên cạnh nhau chắc chắn tôi sẽ bị ném đá.
Ng
ười Phật Giáo, không phải là các thiền sư, cho đó là sự phạm thượng. Người cộng sản cho đây là sự xúc xiểm.
Tôi không theo Ph
ật cũng không theo Cộng nên đối với tôi, đó là hai chàng trai, hai chàng trai rất đặc biệt. Hai người ấy thường xuyên hiện hữu trong tâm trí của rất nhiều người Việt Nam, tôi là người Việt Nam nên không thể không thường xuyên suy nghĩ về họ.

T
ất Đạt Đa là một chàng trai diễm phúc, có danh hiệu ai cũng mơ tới và không có mấy người có được: Thái tử. Chàng chuẩn bị lên ngôi vua. Chàng có vợ tuyệt đẹp, con ngoan, gia đình hạnh phúc, có người hầu kẻ hạ,  sống trên nhung lụa. Thế nhưng chàng không tự giam mình trong lầu son gác tía. Chàng đi xuống với dân gian. Thời đó, Ấn Độ dân đông nên đời sống rất cùng cực do vậy chàng thấy nhân dân mình đói nghèo, khổ sở quá, khổ khắp mọi nơi. Từ đó chàng quy nạp lên cả nhân gian nầy là một bể khổ, ở đâu cũng khổ, trong hoàn cảnh nào cũng khổ: Sinh, bệnh, lão, tử đều khổ. Chàng chạnh lòng nghĩ rằng phải tìm ra con đường cứu khổ cho nhân dân của chàng và cho cả nhân loại. Thế là chàng, trong một đêm trăng sáng, dứt vợ đẹp con ngoan để ra đi tìm đường cứu khổ cho nhân loại.
Ban đ
ầu chàng có lầm lạc, đi sai đường, nhưng sau đó tỉnh ngộ, sửa sai, đi theo con đường khác và chàng đã thành công, đạt được đại giác ngộ, thấy ra con đường tự giải thoát bản thân và giải thoát cho cả nhân loại.
Con đ
ường của chàng là mỗi người nên từ bỏ tham sân si, lấy từ bi hỉ xả thương yêu mọi người để mà tiến đến sự tự giải thoát. Chàng trở thành Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Con đường của chàng vạch ra đã hơn 2000 năm trôi qua, hiện nay vẫn là lẽ sống của gần cả tỷ người trên hành tinh này.
Chàng trai Nguy
ễn Tất Thành sinh sau hơn 2000 năm, có hoàn cảnh bất hạnh hơn. Chàng là công tử con một vị quan nhỏ nhưng ông ta trong cơn say đã lỡ tay đánh chết người, bị truất chức quan đuổi về vườn. Con đường học hành để nối nghiệp cha vì thế cũng bị cắt đứt, chàng xuôi vào Nam và lên tàu, vượt biển, theo như chàng tự kể lại, là để tìm đường cứu nước ngay trong độ tuổi hai mươi.
Đ
ược sự gởi gấm của cha, khi vừa đặt chân đến trời Tây, chàng đã nhận được sự bảo bọc và dạy dỗ của một nhà cách mạng kiệt xuất thời đó là cụ Phan Chu Trinh.
Nh
ưng theo như lời chàng kể, con đường cứu nước ôn hòa, đấu tranh dân chủ của cụ Phan là con đường lầm lạc, chàng tự đi tìm con đường khác: Đường Kách Mệnh theo phương pháp đấu tranh bạo lực của ông trùm duy vật bạo lực Lê Nin. Đó là con đường kích động hận thù và đấu tranh bạo lực tiêu diệt nhau giữa các tầng lớp nhân dân để phát triển.
Vài m
ươi năm sau, chàng về nước cùng nhân dân đứng lên cướp chính quyền từ tay của chính phủ Trần Trọng Kim và của vua Bảo Đại rồi tuyên bố độc lập. Chàng trở thành chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đã 67 năm trôi qua k
ể từ ngày chàng trai Nguyễn Tất Thành trở thành chủ tịch Hồ Chí Minh, đất nước do chàng và các đệ tử của chàng lãnh đạo vẫn không một ngày dứt cảnh tang thương, lòng người luôn luôn ly tán, tầng lớp nhân dân nầy thù địch với tầng lớp nhân dân kia. Một đệ tử nổi tiếng của chàng đã nói: Có triệu người vui thì có triệu người buồn. Do vậy có triệu người tôn thờ chàng thì cũng có chừng ấy kẻ căm ghét.
T
ất yếu phải như vậy, vì con đường của chàng mang từ trời Tây về là con đường lấy sự đấu tranh hận thù giữa các giai cấp làm lẽ sống.
2.9.2012

Đ
ọc thêm: LÊ NIN VÀ MANDELA
Được đăng bởi HUYNH NGOC CHENH vào lúc 08:22

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2012

2011 Nhìn lại VN ...> 30 năm

2012: Sau 37 năm thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN -Hiện nay VN có các chỉ số:
HDI-MINH BẠCH trên 100 là mức với 3 con số. Làm sao để phấn đấu mức với 2 con số??? Khi nào những lời phản biện của nhân sĩ yêu nước trong cũng như ngoài nước không bị qui kết là phản động thì sự phát triển mới bền vững..Đó là một thách thức!! Đóng góp Việt kiều hải ngoại 9 tỷ USD trong năm 2011(#10% GDP) có một ý nghiã rất lớn trong thời suy thoái KTế !! Tuy nhiên chưa vội mừng vì đây là dòng chảy vào , còn dòng chảy ra...!!!

...... 




VN 2011 - kinh tế khó khăn nhất từ 1991
Nguyễn Hùng
bbcvietnamese.com
Cập nhật: 13:16 GMT - thứ năm, 15 tháng 12, 2011
Nông nghiệp và nông dân đã 'cứu' kinh tế Việt Nam trong năm 2011?
Người từng đứng đầu viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương của Việt Nam nói với BBC rằng kinh tế trong nước chưa bao giờ gặp những khó khăn như trong năm 2011 kể từ hồi năm 1991, năm đồng minh thân cận Liên Xô sụp đổ.
Tiến sỹ Lê Đăng Doanh nói bất chấp một số "điểm son", tăng trưởng kinh tế ở mức dưới 6%, lạm phát hai con số 19%, ít nhất hàng chục ngàn doanh nghiệp phá sản trong khi dự trữ ngoại hối chỉ tăng được nhờ vào lượng kiều hối tới chín tỷ đôla đổ vào Việt Nam.
Các bài liên quan
Chủ đề liên quan
Mặc dù vậy, ông nói Nghị quyết 11 hồi tháng Hai nhằm thắt chặt tiền tệ và chi tiêu công đã góp phần làm cho lạm phát giảm đi trong những tháng cuối năm.
Ngoài ra cam kết tái cơ cấu kinh tế do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đưa ra hồi tháng Mười cũng được cho là một động thái tích cực.
'Thành tựu'
"Năm 2011 là một năm, theo đánh giá của tôi, là khó khăn nhất từ năm 1991 trở lại đây, tức là trong 20 năm gần đây.
"Nó thể hiện ở chỗ là mục tiêu lạm phát Quốc hội đề ra là 7% nhưng mà thực hiện khoảng 19%.
"Về mục tiêu tăng trưởng thì đề ra là 7,5%, thực hiện khoảng 5,8%.
"Và tiêu dùng của người dân giảm xuống mức rất thấp, hàng hóa tồn kho các mặt hàng lên cao chưa từng thấy.
"Cũng là lần đầu tiên mà số doanh nghiệp được tuyên bố là phá sản được công bố là 48.000 doanh nghiệp."
Nhưng Tiến sỹ Doanh cũng nói năm 2011 "có một số thành tựu đáng lưu ý" trong đó có xuất khẩu tăng 33%, chủ yếu tăng về giá và cán cân thanh toán quốc tế có thặng dự 3,3 tỷ đôla lần đầu tiên trong nhiều năm.
Bên cạnh đó lạm phát trong những tháng cuối năm cũng đã giảm đi nhờ chính sách thắt chặt tiền tệ đưa ra từ đầu năm 2011 cho dù vẫn có thể tăng nhẹ ở mức khoảng 0,5% trong tháng Mười Hai.
Tiến sỹ Lê Đăng Doanh
Ông Doanh nói lạm phát cao ở Việt Nam bắt nguồn từ tình trạng đưa tiền vào lưu thông ở mức 32% và tăng trưởng tín dụng lên tới trên dưới 40% (so với khoảng 9% của 2011) trong nhiều năm.
Vị Tiến sỹ giải thích thêm: "Đưa tiền ra nhiều như vậy mà đầu tư của doanh nghiệp nhà nước lại kém hiệu quả.
"Đầu tư 100 đồng thì hàng hóa, tài sản tạo ra được có lẽ chỉ khoảng 40, 50 đồng, còn lại 60, 50 đồng kia nó bốc hơi.
"Vì đưa nhiều tiền ra mà của cải tạo ra ít thì lúc bấy giờ có nguy cơ lạm phát."
'Căn bệnh trầm kha'
Chuyên gia nghiên cứu kinh tế hàng đầu của Việt Nam cũng nói tiền đồng của Việt Nam chịu sức ép nhiều so với đôla Mỹ do Việt Nam nhập khẩu hàng hóa nhiều hơn so với xuất khẩu.
Ông Doanh nói dự trữ ngoại hối của Việt Nam chỉ tăng lên được nhờ lượng kiều hối lên tới 9 tỷ đôla Mỹ.
Và mặc dù tiền đồng giảm sức mua tới 19%, nó chỉ mất giá khoảng 5-6% so với đôla Mỹ, ông Doanh nói.
Ông cũng nhận định vấn đề tỷ giá tiền đồng và đô la là "phức tạp" vì Việt Nam cũng chi nhiều đô la để nhập khẩu các mặt hàng phục vụ cho xuất khẩu và nếu tiền đồng mất giá thêm nữa, giá các sản phẩm xuất khẩu như dệt may và da giày sẽ tăng lên.

Ông Nguyễn Phú Trọng được đánh giá là đã đề cập tới hai 'căn bệnh trầm kha' của Việt Nam: lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ
Tiến sỹ Doanh cho hay nhiều doanh nghiệp cũng đổ xô đi vay tiền đô la trong năm 2011 ngay cả khi họ không cần tới đô la do có chênh lệch lãi suất.
Các doanh nghiệp chỉ phải trả mức lãi suất 6% khi vay đô la nhưng phải trả tới 21-25% khi vay tiền đồng và như vậy họ có thể kiếm lời chỉ qua việc vay đô la đem bán lấy tiền đồng.
Đây cũng là lý do khiến cho mức tăng trưởng tín dụng đô la ở mức 23%, cao hơn gấp đôi so với tiền đồng và đưa tổng số các khoản vay bằng tiền đô lên tới 7,6 tỷ.
Tiến sỹ Doanh nói chính sách tỷ giá bên cạnh chính sách tiền tệ, tín dụng trong Nghị quyết 11 được đưa ra trong tháng Hai năm 2011 là "điểm son" trong chính sách kinh tế của Việt Nam và là "bước ngoặt" trong việc ổn định kinh tế vĩ mô của Việt Nam.
Nhưng ông cũng nói việc "tiết kiệm và giảm đầu tư công" chưa thực hiện được nhiều và ngân sách vẫn bị bội chi.
Ông nói thêm: "Một nốt son khác của kinh tế Việt Nam đó là ngày 10/10 năm 2011, ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đọc bài phát biểu bế mạc Hội nghị III của Ban chấp hành trung ương Đảng Việt Nam khóa XI và trong đó ông Nguyễn Phú Trọng đã thẳng thắn chỉ ra những thiếu sót, những yếu kém và đề ra nhiệm vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế.
"Trong đó nhấn mạnh tái cơ cấu đầu tư, trước hết là đầu tư công, tái cơ cấu hệ thống tài chính tiền tệ, trước hết là hệ thống ngân hàng, tái cơ cấu các doanh nghiệp nhà nước, trước hết là các tập đoàn và các tổng công ty của nhà nước.
"Ông Nguyễn Phú Trọng cũng lần đầu tiên nhắc tới lợi ích nhóm và tư duy nhiệm kỳ, là hai căn bệnh trầm kha của nền kinh tế Việt Nam mà phương thuốc chữa cho đến bây giờ vẫn chưa rõ ràng.
"Các ý tưởng chính sách đó đang được chính phủ soạn thảo để trình ra Quốc hội và Ban Chấp hành Trung ương Đảng sắp tới."
Chứng khoán 'cọng hành'
Tiến sỹ Doanh nói với BBC vấn đề lợi ích nhóm "thì ở đâu cũng có" nhưng điều quan trọng là cần có sự công khai minh bạch.
Một ví dụ ông đưa ra là gần đây người ta được biết rằng Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai được nhà nước cho vay tới 1.500 tỷ đồng trong khi có rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam điêu đứng vì thiếu vốn.
Ông cũng nói có "một số nhóm người" đã giàu lên nhanh chóng nhờ các dự án cơ sở hạ tầng trong khi giá đất bồi thường cho người dân rất thấp.
Điều này khiến cho các vụ khiếu kiện về đất đai là vấn đề lớn tại Việt Nam.
Tiến sỹ Doanh đánh giá nông dân và nông nghiệp "đã cứu kinh tế Việt Nam" trong năm 2011 vì tình hình sẽ "hết sức phức tạp" nếu tình trạng thiếu lương thực diễn ra bên cạnh lạm phát cao.
Khi được đề nghị bình luận về thị trường nhà đất và chứng khoán, Tiến sỹ Doanh nói đa số các hãng bất động sản dựa vào tín dụng ngân hàng và tình trạng thắt chặt tiền tệ và lãi suất cao khiến nhiều công ty phải "bán tháo" bất động sản.
"Còn về chứng khoán ở Việt Nam thì giảm sút rất nghiêm trọng," ông nói.
"Vừa rồi báo chí đã có đưa lên, tức là ở Hà Nội đây có chứng khoán chỉ còn có giá 700 đồng Việt Nam, tức tương đương ba cọng hành ngoài chợ."
Tiến sỹ Lê Đăng Doanh
"Tôi không nghĩ là thị trường chứng khoán Việt Nam có thể tăng trưởng mạnh bởi vì các nguồn vốn đầu tư ở bên ngoài đã rút đi và tín dụng được thắt chặt thì nguồn vốn để bơm vào thị trường chứng khoán Việt Nam sẽ không được dồi dào như trước đây."
Nhìn tới năm 2012, ông Doanh nói kinh tế thế giới khó khăn hơn trong khi cuộc khủng hoảng nợ công ở Châu Âu vẫn "chưa có lời giải".
Nhưng nếu Việt Nam tái cơ cấu lại kinh tế thành công thì ngay cả với nguồn vốn ít hơn Việt Nam vẫn có khả năng đạt mức tăng trưởng 6,5%, ông nhận định.
Vị Tiến sỹ cũng cho rằng việc giảm được lạm phát xuống dưới 10% trong năm 2012 "sẽ là kỳ tích" trong khi tiền đồng tiếp tục chịu sức ép của đồng đôla Mỹ do thâm hụt thương mại.
Lâm Văn Bé    : Khi Việt Nam bắt đầu mở cửa với chánh sách gọi là «đổi mới» vào cuối thập niên 80, khi sinh viên Việt Nam lũ lượt ra nước ngoài du học hay tu nghiệp, nhiều người Việt Nam trong nước và nhất là ở hải ngoại hi vọng nước Việt Nam sẽ lần lần thoát khỏi được chế độ độc tài, nghèo đói và chậm tiến. Họ hi vọng với sự tiếp cận tinh thần tự do và kỹ thuật Tây phương, đất nước Việt Nam sẽ được khai phóng hơn. Nhưng đó chỉ là ảo vọng. Trong 20 năm qua, hàng ngàn sinh viên Việt Nam du học và tu nghiệp ở các nước dân chủ và kỹ nghệ đã trở về nước, chẳng những không giúp gì cho đất nước khả quan hơn mà còn đồng lỏa với những người lãnh đạo bất tài, vô lương để gia tăng thêm guồng máy tham nhũng, đưa đất nước mỗi ngày mỗi tồi tệ hơn. Hãy nhìn vài ủy viên trung ương đảng và biết bao Bộ trưởng, Tổng giám đốc, Giám đốc cơ quan là những sinh viên tốt nghiệp từ Mỹ, Canada, Úc, Anh, Đức, Pháp, họ chỉ lợi dụng cái nhãn hiệu du học ngoại quốc để vinh thân phì da. Họ chỉ là những cái lọ bằng đất sét được tráng men và một đất nước bị cái trị bằng những cái đầu nhồi nhét đất sét thì làm sao khá lên được.

Lâm Văn Bé    :  Khi cuộc «cách mạng mùa xuân» lần lượt bùng nổ tại các quốc gia Á Rập, nhiều người Việt Nam ở hải ngoại và một ít người Việt Nam trong nước hớn hở.  Người Việt hải ngoại hi vọng những biến cố nầy sẽ lan tràn đến Việt Nam. Nhưng hi vọng ấy chóng đi qua  bởi lẽ Việt Nam hôm nay chưa hội tụ đủ những yếu tố của một cuộc «cách mạng mùa xuân Á Rập » Đây được xem là là âm mưu của bọn phản động và các thế lực thù địch.!!
Trước tiên phải kể đến chế độ kiểm soát, kềm kẹp người dân VN quá tinh vi và nghiệt ngã. Tuy những thống kê của nhà nước mang bản chất phô trương, khoác lác, với con số 3 triệu đảng viên, 2 triệu cảnh sát công an và nửa triệu quân nhân, tuy vẫn biết có nhiều đảng viên bất mãn vì bị lừa dối hay bị bạc đãi, và không phải cảnh sát công an nào cũng có được chức vụ để có thể tham nhũng trong một xã hội có nền văn hóa phong bì, nhưng phải hiểu là thành phần trung kiên, cúc cung tận tụy cho chế độ, chiến đấu cho chế độ đến giọt máu cuối cùng để cùng chia sẻ và bảo vệ quyền lợi cũng rất đông đảo. Bị nhuộm đỏ khối óc và đánh mất lương tri, nhóm đảng viên lớn nhỏ nầy đang chia chác các đặc quyền đặc lợi trong một hệ thống quyền lực mafia, dùng mọi biện pháp sắt máu để cai trị và bóc lột người dân còn thậm tệ hơn thời Pháp thuộc.
Trong lịch sử, cuộc cách mạng nào cũng bắt đầu bằng sự nổi dậy của khối người bị áp bức. Nhưng muốn cảm nhận được sự áp bức, người dân cần được thông tin những quyền lợi căn bản của con người, những cảnh sống tự do, no ấm để từ đó cảm nhận thân phận mà đòi hỏi.  Người dân chỉ được quyền nghe biết những gì chánh phủ nói. Từ khi có truyền thông qua trang mạng, thông tin tuy có lưu hành nhiều hơn, nhưng luôn bị bức tường lửa ngăn chận. Internet vẫn còn là phương tiện truyền thông của lớp thị dân trung lưu hay giàu có, vốn là thành phần bằng lòng với cuộc sống, với chế độ, trong khi 80% dân số là những nông dân, thợ thuyền nghèo khổ, ít học, phải vật vã với bữa no bữa đói thì thời giờ tim óc đâu mà nghe tin tức, mà nghĩ đến đấu tranh trong cảnh giành giựt giữa những người đồng cảnh ngộ và trạng thái kềm kẹp thường xuyên của hệ thống cán bộ, công an .
Ngoài chuyện thông tin từ thế giới bên ngoài và trong nước bị bưng bít, bị kiểm duyệt, cơ cấu dân số VN hiện nay còn là một yếu tố giải thích phần nào lý do cuộc « cách mạng mùa xuân» chưa đến VN. Nếu tính với người dân VN sinh ra sau 1975 thì thành phần nầy nay đã 35 tuổi và nếu phải kể thêm những đứa trẻ khoảng 5 tuổi vào năm 1975 thì đến nay họ cũng đã đến tuổi 40. Đó là thế hệ người Việt chẳng biết gì về chiến tranh Việt Nam, chẳng có ý niệm gì về chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Năm 2008, số người VN đưới 40 tuổi chiếm đến 66% dân số. Ngoài ra, lớp trẻ sinh ra sau 1986 là năm cộng sản bắt đầu chánh sách đổi mới kinh tế thì đến nay lớp người nầy đã hơn 20 tuổi. Dĩ nhiên, sanh ra và lớn lên trong nền giáo dục bác đảng và văn hóa phong bì, đa số người Việt Nam trong nước hiện nay không có chọn lựa nào khác là phải sống theo những bản chất của người cộng sản.
Khi 36 người tự xưng là trí thức gởi thư ngỏ cho chánh phủ bạo quyền, nhiều chống đối và mỉa mai vì «quá khứ» của người chủ xướng và cung cách, ngôn từ sử dụng trong thư ngỏ đã khiến một số người có thành tín, ưu tư với đất nước đồng ký tên bị vạ lây.. Những cuộc biểu tình, tuyên ngôn, bài viết, bài nói chuyện của cộng đồng người Việt tỵ nạn qua các phương tiện truyền thông phổ biến khắp năm châu là một sức mạnh  bởi lẽ đó là tiếng nói của người Việt tự do nói cho Thế giới tự do
Hàng năm, vào dịp Tết, dịp hè, hàng triệu người Việt, trước đây đã bị bạo quyền đày ải trong các trại tù, trại cải tạo, hay nín thở trong các đám lau sậy chờ giờ lên ghe, đi tìm cái sống trong cái chết, thì nay họ đã sớm quên những ngày ngục tù, nhục nhã khi xưa, nhởn nhơ trở về du hí trên cái đất nước mà đồng bào họ không có cơ may vượt thoát được. Sự có mặt của những du khách Việt kiều nầy cũng là một nguyên nhân khiến cho «cuộc cách mạng mùa xuân» chậm đến. Họ hằn sâu thêm hố ngăn cách giàu nghèo và niềm cay đắng giữa những người đồng cảnh ngộ khi xưa, và dưới mắt của người bất hạnh, có gì khác biệt trong sự phản bội giữa người bạn cũ và người thù mới. Người bạn cũ phải ngoảnh mặt để khỏi bị tủi nhục mà kẻ thù mới còn khinh rẻ họ nhiều. Tuy nhiên, không phải ai trở về cũng là những du khách bị «mất trí». Có những người, phải nói là hiếm hoi, trở về quê để xây lại mồ mã tổ tiên , hay mang về những món quà mà họ đã chắt chiu dành dụm trong những ngày lao tâm lao lực ở xứ người để tiếp sức cầm hơi cho thân nhân đói khổ, thông tin cho người bị bịt tai biết được những quyền tự do, bình đẳng ở thế giới bên ngoài để như vết dầu thắp sáng ngọn nến cách mạng. Nếu cứ mỗi năm, hai triệu du khách Việt kiều trên các nẽo đường du hí, thay vì nhi nhô tiếng Tây tiếng Mỹ, khoe khoang nhà cao cửa rộng, thực hay láo, làm cho đồng bào nghèo khổ càng thêm bi phẩn, thì hãy  mang về cho đồng bào những bản tin, những tấm ảnh, công ty Vinashin bị tập đoàn lãnh đạo tham nhũng hàng tỷ mỹ kim, để cho người dân biết được sự thật bị bít kín.
Nghĩ cho cùng, lịch sử chỉ là sự lập lại những biến cố giống nhau trong những thời điểm và địa điểm khác nhau. Mọi chế độ độc tài rồi cũng bị tiêu diệt. Hình ảnh cha con Kadhafi phơi thây sình thúi trong cái nhà kho, Moubarak nằm im bất động trên cái «băng ca» trước tòa án, phải chăng đó cũng là hình ảnh ngày tàn của những bạo chúa .  Lâm Văn Bé   
Tài liệu tham khảo
- Bùi Tín. Mặt Thật.- Paris : Turpin Press, 1994.
- Hoàng Dung. Sau bức màn đỏ. – Virginia : Tiếng Quê Hương, 2007.
- Hoàng Hữu Quýnh. Tôi bỏ đảng.- Midway City : Mister Print, 2002.
- Vy Thanh. Lớn lên với đất nước.- Westminster : Tủ sách Sự Thật, 2006.
- Các trang mạng điện tử trong đó có bài viết của Hoàng Dũng.